Vấn đề đạo Phật và giới trẻ trí thức qua việc cải đạo của Tôn Trung Sơn

0
119

Tôn Dật Tiên (Tôn TrungSơn) (1866-1925) là người lãnh đạo cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) tạiTrung Quốc, lật đổ vương triều Mãn Thanh, chấm dứt hàng mấy ngàn nămthống trị của chế độ phong kiến tại Trung Quốc, thành lập chế độ dânquốc (1912), là tổng thống của Trung Hoa Dân Quốc trong nhiều năm.

Tôn Dật Tiên được nhà cầm quyền của lãnh thổ ĐàiLoan tôn là lãnh tụ số một của Trung Hoa hiện đại và cũng được chínhphủ và nhân dân Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tôn kính như một nhà cáchmạng tiên phong ở Trung Hoa. Ông là một bác sĩ, một nhà lý luận chínhtrị. Ông có một vị trí đặc biệt trong lòng nhân dân toàn Trung Quốc(đại lục, lãnh thổ Đài Loan và Hoa kiều). Tôn Dật Tiên cũng được xem làmột vĩ nhân của thế giới hiện đại.

Sự kiện cải đạo

Phần lớn tài liệu nghiên cứu về lịch sử Trung Quốc hiện đại và Tôn DậtTiên đều chỉ nhắc qua sự kiện Tôn Dật Tiên chịu phép rửa tội để trởthành một tín đồ Cơ Đốc giáo lúc ông 20 tuổi, trong thời gian sống ởHồng Kông, nương nhờ vào một cơ sở Cơ Đốc giáo có bệnh viện riêng vàchuẩn bị việc nhập học vào trường Y khoa do một nhóm các thừa sai CơĐốc sáng lập. Trong một hoàn cảnh chịu sự giúp đỡ từ tổ chức Cơ Đốcgiáo như vậy, ông trở thành tín đồ Cơ Đốc cũng là dễ hiểu.

Tuy nhiên, một số ít tài liệu sử học do người Cơ Đốc giáo biên soạn đãhết sức chú ý đến sự kiện này và xem đó là một vụ “cải đạo”, thay vìchỉ là việc Tôn Dật Tiên theo đạo Cơ Đốc.

Việc nhấn mạnh đến khía cạnh cải đạo đã được các đoàn truyền giáo CơĐốc tại Trung Quốc nhưng năm đầu thế kỷ XX khai thác triệt để, nhất làtừ khi Tôn Dật Tiên trở thành là lãnh đạo cách mạng, rồi tổng thống củanước Trung Hoa Dân Quốc. Việc “cải đạo” của Tôn Dật Tiên đã được thổiphồng như một biểu tượng của tinh thần duy tân, cách mạng chống lạinước Trung Hoa phong kiến dưới sự cai trị của vương triều Mãn Thanhsùng bái Phật giáo Lạt-ma:  Việc khai thác, thổi phồng, biểu tượng hóađã có tác động đến nhiều triệu thanh niên Trung Hoa thời bấy giờ vànhiều thập niên sau đó, khiến cho họ từ bỏ tôn giáo truyền thống củaTrung Hoa là Phật giáo để cải đạo thành tín đồ Cơ Đốc. Trong số thanhniên chịu tác động đó, thành phần chiếm một tỉ lệ lớn là trí thức, sinhviên, học sinh. Có lúc, việc cải đạo “theo gương” Tôn Dật Tiên trởthành cái mốt của trí thức trẻ Trung Hoa sau cách mạng Tân Hợi. Cơ Đốcgiáo được các nhà truyền giáo vẽ nên như là tôn giáo của thời dân quốc,của duy tân, đối lập với Phật giáo truyền thống ở Trung Quốc, biểutrưng cho sự lạc hậu, mê tín, thủ cựu.

Cái cách lập luận này vẫn còn tồn tại, ngay cả ở một số nước chịu ảnhhưởng của văn hóa Trung Quốc, trong đó có Việt Nam (chẳng hạn, tại ViệtNam, việc theo Phật giáo truyền thống, thờ cúng ông bà bị cho là đồngnghĩa với chuyện thờ cúng “bụt thần ma quỷ”, mê tín, quê mùa, chậmtiến, không được “văn minh”). Thế nên, chúng tôi chọn trường hợp “cảiđạo” của Tôn Dật Tiên là một trường hợp điển hình để nghiên cứu, từ đógóp phần tìm hiểu vấn đề đạo Phật với tuổi trẻ, một vấn đề lớn của Phậtgiáo hiện đại.

Trong số nhiều tài liệu do người Cơ Đốc giáo viết về Tôn Dật Tiên, quyển Tôn Dật Tiên, người giải phóng Trung Hoa1 của Giám mục Henry Bond Restarick, quốc tịch Anh, hoạt động tôn giáotại Honolulu, Hawai, nơi mà Tôn Dật Tiên đã đến học tập trong một sốnăm, là tài liệu đề cập tương đối nhiều đến sự kiện “cải đạo” của TônDật Tiên, có thể lấy làm cơ sở để tìm hiểu quan niệm của ông về đạoPhật truyền thống Trung Hoa, cái nhìn của ông về tôn giáo mới, động cơ“cải đạo” của ông, từ đó góp phần tìm hiểu vấn đề Phật giáo và giới trẻ.

Tìm hiểu việc cải đạo của Tôn Dật Tiên

Có lẽ vì sự tế nhị, Giám mục Henry Bond Restarick không đề cập đến Phậtgiáo mà nói tránh đi rằng tôn giáo truyền thống của Tôn Dật Tiên là thờcúng hình tượng và Khổng giáo. Như vậy, chúng ta đều biết, Khổng giáolà một học thuyết chính trị, không phải là một tôn giáo đúng nghĩa. Mộttỷ lệ lớn tín đồ Cơ Đốc giáo người Trung Quốc vẫn giữ gìn, tuân thủnhững nguyên tắc của Nho học và đó không phải là tình trạng hai tôngiáo hay cải đạo gì cả. Chuyện tín ngưỡng hầu như không gồm Khổng giáotrong đó. Còn thờ cúng “hình tượng” tất nhiên là ám chỉ đạo Phật bảnđịa, có phần pha tạp với tín ngưỡng dân gian địa phương. Theo miêu tảcủa Henry Bond Restarick thì Tôn Dật Tiên đã sớm đối kháng với kiểu tínngưỡng đó. Một thứ tín ngưỡng thờ cúng “những hình tượng”, tồn tại đểnhận đồ cúng, hương khói, khấn vái. Có thể hình dung đó là một dạng“Phật giáo đa thần”, kiểu mà chúng ta vẫn còn thấy ở các chùa quê ViệtNam hiện nay, lai tạp, lộn xộn, trống rỗng về giáo lý, nặng về mê tín,là đối tượng để vái van, mặc cả khi cúng kiếng, an ủi khi tang ma. TônDật Tiên khi đó mang tên Đế Tượng đã nghĩ rằng “chừng nào Trung Hoakhông chịu từ bỏ các mê tín sùng bái hình tượng, thì chẳng có một tiếnbộ nào có thể thực hiện cho tiền đồ dân tộc được”2.Như vậy, tín ngưỡng Phật giáo bản địa cổ truyền của Trung Hoa được coilà nguyên nhân của việc trì trệ, chậm tiến, hủ bại. Tất nhiên, để xâydựng một nước Trung Hoa phát triển, canh tân, tiến bộ thì phải loại trừthứ tôn giáo đó và thay bằng một tôn giáo khác thích hợp với yêu cầucảu thời đại.

Còn Cơ Đốc giáo xuất hiện trong mắt của Tôn Dật Tiên ra sao? Đó là tôngiáo của văn minh Tây phương. Sách của Henry Bond Restarick viết nhưsau về thời gian Tôn Dật Tiên du học ở trương Iolam, Hawai, Hoa Kỳ: “dosự tiếp xúc thường xuyên với những người Cơ Đốc và do nền học vấn tôngiáo dịnh giới thuyết mà cậu đã lãnh hội cùng với các bạn học, nhữngnhân tố ấy giúp cậu hiểu rõ về sự ngu dại của việc sùng bái hình tượng.Nhờ đó, cậu tin rằng nhiều cổ tục Trung Hoa còn là sự mê tín cũng nhưsự sợ hãi của những khối óc kém lành mạnh chi phối các thời kỳ của đờingười, từ sơ sinh cho đến khi chết,chô đến những lễ lạc tang ma…

Cộng thêm vào nền học vấn tôn giáo, những người trẻ tại Iolam còn bịbắt buộc tham dự lễ cầu kinh sớm chiều trong ngôi nhà thờ nhỏ củatrường, và ngày chủ nhật thì tất cả được hướng dẫn tới nhà thờ lớnSai-Andre. Giám mục Willis cũng như bà Willis đều rất chăm sóc đến họcsinh, dùng bữa trưa trong cùng phòng ăn với họ. Giám mục còn dạy cậu tagiáo lý Cơ Đốc nữa. Trong sự chung đụng mật thiết thường ngày với cácgiáo viên và bà hiệu trưởng, Đế Tượng không cảm trước sự dịu dàng và dễmến của những người chăm nom cho cậu về thể xác lẫn linh hồn.

Cho nên, không lạ gì khi thấy cậu thâm nhiễm óc bài xích những mê tínsùng bái hình tượng, và chấp nhận lòng tin vào một vị chúa duy nhất làđức Chúa trời. Điều đáng ghi là tất cả những người Trung Hoa theo học ởIolani thời ấy đều theo Đạo (Cơ Đốc) cả, và vài người thời gian sau cònđạt tới địa vị trưởng sở các nhà thời ở Honolulu hoặc những nơi khác.Khi Đế Tượng thấy các bạn học chuẩn bị làm lễ rửa tội, lẽ tự nhiên cậucũng mong muốn vào đạo Cơ Đốc cùng thể như chúng bạn”3.

Nhưng ý muốn được rửa tội để vào đạo Cơ Đốc ở Hoonolulu, nơi ông duhọc, không thực hiện được vì gia đình phản đối. Mãi đến khi đến HồngKông sửa soạn vào trường thuốc, Tôn Dật Tiên mới trở thành tín đồ đạoCơ Đốc.

Bình luận và liên hệ đến vấn đề quan hệ giữa Phật giáo và giới trẻ

Nếu chúng ta là Tôn Dật Tiên, trong hoàn cảnh như vậy, chúng ta có từbỏ tôn giáo truyền thống để theo tôn giáo mới, biểu tượng cho văn minhTây phương không? Đó là vấn đề đặt ra trước hàng triệu triệu thanh niênĐông Á, Đông Nam Á, v.v… Chúng ta không thể trách Tôn Dật Tiên, vì sựlựa chọn là đương nhiên đối với ông. Trong hoàn cảnh như vậy, không thểkhác được.

Vấn đề là một hoàn cảnh như vậy vẫn còn, sau gần 100 năm kể từ trườnghợp của Tôn Dật Tiên. Tại Việt Nam chúng ta, bao nhiêu thanh niên lớnlên từ làng quê, tiếp xúc kiểu đạo Phật mà không khác gì kiểu đạo Phậtở làng quê Trung Hoa mà Tôn Dật Tiên đã từng tiếp xúc. Họ nhìn nhận đạoPhật qua các hoạt động như van vái, cúng sao hạn, dâng sớ, đội sớ cầunguyện, bói toán, xem ngày giờ… Rồi lớn lên, học hành tấn tới, họ điMỹ, đi Anh du học, tu nghiệp như Tôn Dật Tiên một thế kỷ trước, để rồitiếp xúc với những tôn giáo biểu tượng của văn minh Tây phương. Họ cóhành động như Tôn Dật Tiên? Rất có thể như vậy. Vì sau 100 năm vẫn cònmột kiểu đạo Phật như thời Tôn Dật Tiên và không chỉ ở các làng quê xaxôi, hẻo lánh.

Trường hợp Tôn Dật Tiên là một trường hợp phổ biến, nhưng cũng là mộttrường hợp đặc biệt, vì ông là nhà cách mạng vĩ đại của đất nước đôngdân nhất thế giới, là tổng thống đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc. Cáicách mà ông lựa chọn đã làm hình mẫu cho nhiều thế hệ thanh niên TrungQuốc thuộc thành phần ưu tú nhật, tinh túy nhất. Tưởng Giới Thạch trởthành một con chiên ngoan. “Hình mẫu” Tưởng Giới Thạch lại tác động đếnthanh niên Trung Quốc, và sau đó, lãnh thổ Đài Loan.

Khi từ trần, lễ tang Tôn Dật Tiên được tổ chức long trọng tại Bắc Kinhtheo nghi lễ Cơ Đốc giáo và sau đó lễ truy điệu được tổ chức tại điệnThái Hòa của Kinh thành, nơi ngày xưa các tăng sĩ Phật giáo Lạt-ma cửhành các nghi lễ tôn giáo cho Thanh triều.

Có thể nói, diện mạo tôn giáo của Trung Quốc thay đổi nhiều với một nhàlãnh đạo cải đạo, từ bỏ tôn giáo truyền thống như Tôn Dật Tiên. Tấtnhiên, các nhà lãnh đạo Phật giáo Trung Quốc có tầm nhìn cũng sớm ýthức được vấn đề. Cùng lúc đó là phong trào chấn hưng Phật giáo TrungHoa. Phong trào này đã nhanh chóng lan sang Việt Nam từ nửa đầu thế kỷXX.

Nhưng, như đã trình bày ở trên, vấn đề vẫn còn đó với thanh niên tríthức Việt Nam, sau hàng trăm năm chấn hưng Phật giáo. Vì vẫn còn mộtkiểu Phật giáo mà thanh niên trí thức Châu Á ngày xưa như Tôn Dật Tiêncoi là mê tín, hủ tục và cần phải đến với một tôn giáo đại diện cho nềnvăn minh cao hơn.

Do vậy, theo chúng tôi, một trong những vấn đề lớn nhất đặt ra trongquan hệ Phật giáo với thanh niên trí thức là vấn đề làm sao để khôngcòn hoàn cảnh mà anh sinh viên Tôn Dật Tiên (khi đó mang tên Đế Tượng)gặp phải trước đây đã một thế kỷ.

Cần phải nhìn thấy rằng Phật giáo cần phải được tiếp tục chấn hưng vìkết quả của chấn hưng vẫn chưa đạt tới hoàn toàn: trong con mắt thanhniên Á Đông ngày nay vẫn còn một đạo Phật là tôn giáo truyền thốnggiống với hình ảnh mà người thanh niên sau này là lãnh tụ của nướcTrung Hoa nhìn thấy.

Có lẽ vấn đề phải cần đến hàng trăm năm nữa để giải quyết. Và nếu khôngnhận diện và quyết tâm giải quyết nó, thì đạo Phật dần dần sẽ chỉ làtôn giáo của những cụ già đến chùa để van vái, cầu cúng, bói toán, xinxăm, rút quẻ, xem ngày giờ, thỉnh sư làm đám…

Trường hợp cải đạo của Tôn Dật Tiên thiết tưởng cần được xem là mộttrường hợp đặc biệt cần được nghiên cứu và rút kinh nghiệm. Tổn thấtcho Phật giáo Trung Hoa từ sự kiện “cải đạo” của Tôn Dật Tiên là khôngnhỏ. Không phải là cường điệu khi xem đây là bài học có ý nghĩa đặcbiệt trong việc mang đạo Phật đến với giới trẻ trí thức.

Chú thích:
1. Người dịch: Nguyễn Sinh Duy, Nxb Đà Nẵng, 2000.
2. Sách đã dẫn
3. Sách đã dẫn

Nguồn:phapluanonline