Siêu việt thiện – ác

0
126

Tôi có một người huynh đệ băn khoăn bởi một vấn đề.

Đó là một đằng theo lời dạy của Lục Tổ Huệ Năng: “Không nghĩ thiện không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục, v.v.?”tức là không còn so sánh, phê phán, nhị biên, để hoà mình, thâm nhậpvới chân như. Đằng khác lại phải còn biết phải quấy để hành thiện, cảithiện, tức là còn nhị biên.

Như vậy người huynh đệ tự hỏi: chánh kiến là hành thiện, hay không thiện, không ác?Và đi xa hơn một chút, thế nào là định nghĩa đúng của chữ hành thiện(vì có rất nhiều cạm bẫy hiểu lầm: biết bao nhiêu kẻ quá khích lạitưởng mình hành thiện)?

Tôi có cảm tưởng rằng câu hỏi đặt ra cũng là câu hỏi chung của nhiềuPhật tử, trong đó có tôi. Nỗi băn khoăn, khắc khoải đó hoàn toàn có căncứ, và không phải là dễ dàng giải đáp.

Chúng ta nhiều khi đứng ở vào một tình thế khó xử, trước hai thái độchủ trương bởi đạo Phật: một thái độ tạm gọi là chính thống, có tínhchất phổ thông và mô phạm; và một thái độ phóng khoáng, dành cho hạng“thượng căn”, và đặt nặng vào trí tuệ. Nói một cách giản lược, một bênlấy “diệt khổ” làm cứu cánh, theo con đường vạch ra bởi các Bộ Kinh(Nikaya) của đạo Phật Nguyên thuỷ; một bên lấy “tuệ giác” làm cứu cánh,theo tinh thần Bát Nhã (Prajna-paramita) của Thiền tông.

Nếu không phân biệt thiện-ác, thì làm sao mà hành thiện?Nhưng nếu phân biệt thiện-ác, thì còn vướng mắc vào cái nhìn thiển cận,méo mó, sai lạc của nhị biên, còn chưa thấy được cái Không của sự vật…Phải chăng một bên hướng về tục đế, là sự thật tương đối của cuộc đời,liên quan tới cách xử thế giữa những con người và với cả các sinh vật,với thiên nhiên; và một bên hướng về chân đế, là một sự thật không thểnào diễn tả được, một sự thật như như, sự thật trong sự thật?

Thật ra, tôi có cảm tưởng đạo Phật trong căn bản không phải là mộttriết lý mô phạm, một hệ thống luân lý, chỉ dạy cho con người phải làmcái này, không làm cái nọ, thiện như thế này, ác như thế nọ. Giới là đểgiúp định, định là để giúp tuệ. Tự nó giới không có ý nghĩa gì, chấpchặt vào nó còn là một chướng ngại cản trở việc tu hành (giới cấm thủ).

Ngay cả hai từ “thiện” và “ác” cũng không có trong đạo Phật nguồngốc, mà là những chữ mượn tiếng Trung Hoa để dịch hai từ Pali “kusala” và “akusala”. “Kusala” gồm các ý muốn gây nên nghiệp tốt (kamma-cetana), đi cùng với 3 căn tốt là không tham (alobha), không sân (adosa) và không si (amoha). Ngược lại, “akusala” gồm các ý muốn gây nên nghiệp xấu, đi cùng với 3 căn xấu là tham (lobha), sân (dosa) và si(moha). Như vậy thì những điều “thiện” là những nhân tốt đưa tới nhữngquả tốt, lìa phiền não, diệt khổ đau, và những điều “bất thiện” lànhững nhân xấu đưa tới những quả xấu, phiền não, khổ đau. “Thiện” hay“ác” là tính chất của những gì đưa tới hạnh phúc hay khổ đau. Con ngườimuốn chọn hạnh phúc hay khổ đau, chỉ cần hành thiện hay hành ác. Do đó,một trong những lời kinh quen thuộc nhất đối với người Phật tử là “Không làm các điều ác, Thành tựu mọi việc lành, Giữ tâm ý thanh tịnh, Ấy lời chư Phật dậy” (Kinh Pháp Cú, 183).

Mọi việc như vậy đã có vẻ sáng sủa và giản dị.

Hỡi ôi, cuộc đời không đơn giản, bởi vì chính con người không đơn giản. Triết gia Pháp Montaigne đã có câu “Giữa thiện và ác, chỉ có một nửa vòng xoáy ốc”,tức là một đường tơ, kẽ tóc. Có một số điều thiện hay ác thật là phânminh, rõ ràng, những cũng có một số điều thiện hay ác không rõ rệt chútnào, tuỳ theo hoàn cảnh, xã hội mà thay đổi trắngd den. Chẳng hạn nhưkhi nhìn thấy cảnh tượng một con báo đuổi rượt một con nai, thì chúngta lấy làm thương hại con nai và cầu mong cho con nai chạy thoát khỏi.Ta có thể lấy súng ra bắn con báo và cứu con nai, và như vậy làm việcthiện đối với con nai và cả gia đình nó. Nhưng làm như vậy cũng là làmviệc ác đối với con báo, bởi vì nó chết hoặc bị thương và sẽ để đàn connó chết đói. Trong một cuộc chiến tranh cũng vậy, đứng bên này chiếntuyến là người anh em, thiện hữu, bên kia chiến tuyến là kẻ địch, ácđảng. Chỉ cần thay đổi bên chiến tuyến, là thiện- ác thay đổi bên, vàlàm quay mũi súng.

Lại nữa, một việc thiện mình làm chắc gì đâu đã là một việc thiện? Đócó thể là một việc thiện đối với mình, nhưng không phải việc thiện đốivới người nhận. Có thể một việc thiện ngày hôm nay sẽ trở thành mộtđiều ác ngày mai, chỉ có thời gian mới cho biết rõ.

Mình cũngphải tự hỏi rằng làm việc thiện đó là cho mình hay cho người? Nếu là đểđược tiếng khen, được biết ơn, được mát mẻ trong lòng hay để “lương tâmbớt cù”, thì đó còn phải là việc thiện hay không? Hành thiện đúng rathì phải theo tinh thần “vô ngã”, mà đ㠓vô ng㔠rồi, thì hkông cònngười cho, không còn người nhận, không còn người hành thiện nữa.

Cuối cùng, thiện – ác cũng là ở trong tâm của mình, chứ không ở nơi đâu xa lạ. Trong mình có Phật tính, nhưng cũng có Ma vương. Chừng nào chưa hiểu được điều đó, thì mình vẫn chưa hiểu mình (hãy nhớ câu gnothi seauton của Socrate), vẫn còn vật lộn với chính mình, vẫn còn phân chia ra cái đầu và cái bụng…

Alan W. Watts, trong cuốn The Wisdom of Insecurity, có nhấnmạnh vào điều đó. Con người giống như con rắn mù Ouroboros luôn luôntìm cách cắn chiếc đuôi của mình. Đó là một vòng luẩn quẩn nó chỉ thoátra khỏi được khi sáng mắt ra, và ý thức được một cách rõ rệt rằng đầuvà đuôi là một, thuộc vào một cơ thể đồng nhất. Ảo tưởng đầu và đuôitách rời nhau, là do chính cái đầu tạo nên. Khi chúng ta dự kiến làmviệc thiện, mà không làm được, đó là tại vì chúng ta tạo dựng nên ảotưởng “ thiện”, ảo tưởng “tương lai”, rốt cuộc chỉ là những vọng niệmkhông hơn không kém. Mộng mị về điều thiện cũng là mộng mị, chứ chẳngcứ là phải mơ tưởng tới điều bất thiện. Mong cầu giác ngộ, giải thoátcũng là vọng niệm, nghĩ đên việc phải làm, nghĩ đến tương lai cũng làvọng niệm (bạn hẳn còn nhớ câu “vô trí, diệc vô đắc…vô sở đắc cố…viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn” trong Bát Nhã Tâm Kinh).

Một trong những ám ảnh dai dẳng của người hành giả là sự an ninh.Chúng ta sợ sự bấp bênh, nên muốn tìm một cái gì vững chắc, một chiếckim chỉ nam, một bàn thạch để mà dựa lên, bám víu vào đó. Nhưng càngbám víu vào, lại càng cảm thấy nó trơn tuột, càng chới với giữa dòngnước chảy xiết, càng vùng vẫy lại càng cảm thấy chìm xuống nhanh. Chỉcó cách là bình tĩnh buông thả mình, nương theo dòng nước, rồi mới dầndần xáp lại bờ. Cuộc đời vốn là vô thường, không có gì là vững chắc,phải chịu là như vậy. Nếu đợi cho biển cả lặng im rồi mới nhổ neo, thìe rằng sẽ không bao giờ rời bến.

Cứ luẩn quẩn tự hỏi phải làm thế nào, phương pháp ra sao, đi theochiều hướng nào, con đường nào…Theo pháp môn nào, chùa nào, thầynào…Tất cả đều là trật lất!

Chỉ có một chuyện phải làm, đó là ý thức và sống một cách tỉnh thức phút giây hiện tại. Không có bí quyết gì ngoài : “Hãy sống ! Hãy nhìn ! “ (Sois ! Regarde !)

A.Watts lấy một thí dụ: bạn đang nghe một bản nhạc. Tôi bỗng nhiênhỏi bạn: “Hiện giờ, bạn là ai? “. Định thần một lát, bạn sẽ trả lời: “Tôi tên là…, sanh ngày…, ngụ tại…, làm nghề…, một vợ… con”.Nhưng câu trả lời này trả lời về quá khứ, chứ không phải về hiện tạicủa bạn. Lúc nghe câu hỏi, bạn đang nghe nhạc, thì câu trả lời phải làbản nhạc. Bạn đang sống trong bản nhạc, thì đáng lẽ ra bạn phải trả lờibằng cách hát lại cho tôi nghe bản nhạc đó.

Giả dụ như tôi TNP, tôi hỏi bạn : “Hiện giờ bạn là ai?” thì bạn chỉ cần trả lời bằng cách tiếp tục đọc dòng chữ này, bởi vì bạn đang sống giữa những dòng chữ này…

Những câu chuyện đối đáp giữa các thiền sư và thiền sinh , hay nhữnghành động đập gậy la hét, véo mũi véo tai, cũng chỉ nhằm kéo hành giảtrở về kinh nghiệm sống hiện tại, tức là sự thật duy nhất mỗi người cóthể chứng thực được.

“Không làm các điều ác, Thành tựu mọi việc lành…”Lời Kinh Pháp Cú vẫn còn đọng lại trong tai mỗi người Phật tử. Và khôngphải chỉ riêng trong đạo Phật, mà trong mọi tôn giáo khác, trải qua mọithời đại, người ta luôn luôn kêu gọi làm việc lành, tránh việc ác, yêuthương lẫn nhau, xoá bỏ hận thù, hướng về tương lai…

Nhưng mặc dù có cái văn hoá “hướng thiện” phổ biến đó, chúng ta cóthể tự hỏi vì sao lịch sử loài người đầy rẫy những điều ác độc, nhữngcuộc chiến tranh, những vụ thảm sát, máu chảy thành sông, xương chấtthành núi, gây những đau thương không thể nào tả xiết? Vì sao trong xãhội luôn luôn phải có luật pháp trừng trị và đe răn? Vì sao, sau baonhiêu thiên niên kỷ phát triển của loài người, với bao nhiêu thành quảđáng kể về khoa học, kinh tế, xã hội, thế giới chúng ta vẫn sống trongnhững giờ phút tối tăm của lịch sử, giữa nghèo đói và bạo động, mà tácnhân chính vẫn là con người?

Phải chăng là con người không biết đâu là “thiện”, không biếtđâu là “ác”? Hay là biết đâu là “thiện” nhưng không làm được, biết đâulà “ác” nhưng không tránh được?

Có lẽ cả hai câu trên đều đúng: “thiện /ác” chưa chắc gì đã phânbiệt được dễ dàng, và là một điều hết sức tương đối, như chúng ta đã đềcập đến. Và dù phân biệt được, lý trí con người chưa chắc gì đã thắngđược những cái đam mê (passions), mà trong đạo Phật thường gọi là tamđộc (tham, sân, si)…

Theo nhà triết học Mỹ Nagel, các lý thuyết đạo đức có thể được phânchia ra làm 2 loại khác biệt: một bên là những lý thuyết “suy luận”(déductive), hay “độc đoán” (autoritariste) dựa trên những tiền đề(axiomes a priori) hoặc những điều tự nó hiển nhiên (évidents an soi),về tốt và xấu, điển hình là triết lý của Kant. Trong đó cũng có triếtlý “vị lợi” (utilitaire), như của Bentham: việc “thiện” là việc làm lợi cho mình và cho người khác, mang lại thú vui hay hạnh phúc cho mình và cho người khác.Bên kia là những lý thuyết “qui nạp” (inductive), với sự từ chối mọitiền đề siêu hình hoặc chủ thuyết. Chúng không có tính chất ép buộc, xơcứng, mà ngược lại, cởi mở và có tính chất tiến hoá (évolutive). NhưSpinoza, khi ông nói : “Chúng ta không thể nào biết được một cách chắc chắn cài gì tốt hay xấu, nếu không thực sự hiểu được sự vật…”. Như vậy, chỉ có trí tuệ mới giúp được con người phân biệt tốt/ xấu, thiện/ác.

Thídụ như khi được biết rằng con bọ ngựa (mantis religiosa) cái, ngay saukhi giao cấu với con đực (bé nhỏ hơn nhiều), giết ngay ông chồng mìnhvà ăn thịt nó một cách ngấu nghiến, thì chúng ta lấy làm gớm ghiếc.Nhưng khi hiểu rằng con bọ ngựa cái làm như vậy để nuôi trứng của mìnhbằng chất đạm cần thiết cho sự phát triển của chúng, thì chúng ta thấyrõ rằng hành động tự nhiên của con bọ ngựa cái chỉ nhằm bảo tồn loàigiống, chứ không có lý do gì khác. Bọ ngựa cái không “ác” vì tội “giếtchồng”, mà bọ ngựa đực cũng không là người cha “gương mẫu”, tự “hysinh” cho đàn con mình. Dù sao, sau 6 tiếng đồng hồ giao cấu, nó cũngkiệt sức và sớm muộn gì cũng chết, vậy thì làm thức ăn bổ béo cho vợcon nó thì cũng là một điều tiện lợi, phù hợp với nguyên lý tiết kiệmcủa thiên nhiên!

Nhìn những gì xảy ra trong thiên nhiên, chúng ta sẽ thấy không có“thiện” mà cũng không có “ác”. Thiên nhiên không hiền từ mà cũng khôngác độc, không thiên vị mà cũng không lãnh đạm. Bởi vì nó không biết đạođức là gì, đạo đức chỉ là những giá trị mà con người và xã hội tự đặtra cho mình. Trong thiên nhiên, tất cả những gì xảy ra đều là do sự “tất yếu” (nécessité), bởi vì nếu không xảy ra như vậy, thì sẽ không có như vậy, như vậy,… do luật tiến hoá chung của vũ trụ.

Khoa học cho chúng ta biết rằng ngay trong cơ thể các sinh vật, trong các tế bào, đã có một hiện tượng gọi là apoptose, tức là sự chết có chương trình (mortprogrammée) của các tế bào, dường như mỗi tế bào sinh ra đã mang trongmình sự qui định về sự huỷ diệt của nó. Ngoài sự qui định đó ra, cònnhiều qui định khác nằm trong các gien di truyền, là nền tảng của cáchormones và hệ thần kinh có tác động quyết định nên tập tính các độngvật. Chẳng hạn như con ong thợ, khi làm những công việc như hút mật hoamang về tổ, hay xả mình quyết chiến với những kẻ thù muốn xâm nhập tổong để bảo vệ ong chúa, thì nó không hề biết “thiện/ác” là gì, không hềbiết hành động của mình là một hành động hy sinh, quên mình vì tập thể.Nó chỉ thể hiện cái bản năng, cái “chương trình” mang trong các giencủa nó, và chương trình đó chỉ nhằm một mục đích: bảo tồn nòi giống.Con báo hay con rắn cũng vậy, khi chúng vồ hay cắn mồi, một con “naivàng ngơ ngác” hay một “cánh chim bay về tổ ấm”, hành động đó cũng chỉnhằm bảo tồn sự sống, theo qui định của thiên nhiên.

Chỉ có con người mới đặt ra vấn đề “thiện/ác”, vì đã mất tự nhiên và hồn nhiên…

Trở về các triết lý đạo đức, thì quan niệm của Socrate cũng khôngkhác gì mất Spinoza, khi ông cho rằng “không có kẻ nào ác một cách cốtình” (nul nest méchant volontaire- ment). Hành động ác là do một lý dobất thường nào đó thúc đẩy. Khi hiểu được lý do đó, thì người ta dễthông cảm và tha thứ hơn. Và nếu hiểu rõ được mình, người và sự vật,thì người ta đã không làm ác. Do đó triết lý sống phải dựa lên trên sựhiểu biết. Mạnh tử cũng quan niệm rằng “nhân chi sơ tính bản thiện”, vàRousseau cho rằng chính xã hội làm hư hỏng con người, làm mất cái bảntính hồn nhiên hoang sơ của nó.

Đạo Phật từ xưa đến nay vẫn đặt nền tảng vào trí tuệ. Trong nhữnglời dậy của đức Phật trong kinh điển Pali, đức Phật luôn luôn dùng lýluận và ẩn dụ để dẫn mỗi đệ tử đi tới kết luận của chính mình. Đạo đứccủa đạo Phật không có tính chất sơ cứng ép buộc, điển hình là khi nóiđến Bát Chánh đạo, đức Phật không định nghĩa thế nào là chánh, thế nàolà bất chánh. Và kinh Kalama cũng là một trong những lời dậy căn bảncủa đức Phật: hãy giữ tinh thần phê phán, hãy giữ tự do suy tư củamình, đừng đi theo lời đồn đãi, lời truyền thống, lời dẫn giải của bấtcứ ai, hãy theo kinh nghiệm của chính mình mà tiến bước, tự mình thấyđiều tốt thì theo, điều gì xấu thì bỏ…

Mặc dầu trong Phật giáo đôi khi có những truyền thống cứng nhắc (nhưgiới luật, nghi lễ, hay thái độ đối với phụ nữ trong Bát Kỉnh Pháp),nhưng đó không phải là điều cốt yếu trong đạo Phật. Có hay không cónhững truyền thống đó, cũng không thay đổi gì trong sự phát triển vàcách áp dụng đạo Phật trong đời sống hàng ngày. Theo tôi, nếu phải xếploại theo quy Nagel, thì tôi sẽ đặt triết lý đạo đức Phật giáo vào loại“qui nạp” (inductive), ngược lại với các tôn giáo khác. Tức là không cótính chất xơ cứng, giáo điều, bất di bất dịch, mà vẫn sẵn sàng mở rộngcho mọi phê bình, mọi tiến hoá. Đạo Phật nguồn gốc đã như vậy rồi,nhưng với tinh thần Bát Nhã của Đại thừa, với sự phân biệt tục đế vàchân đế, với tánh Không vào tinh thần Thiền tông thì điều đó lại rõràng hơn nữa.

Có lẽ đó cũng là một nơi gặp gỡ giữa Phật giáo và khoa học. Dĩ nhiênkhoa học tự nó không có đạo đức, nhưng các nhà khoa học, các cộng đồngkhoa học, trong khi áp dụng sinh học vào đời sống, nhiều khi gặp phảinhững vấn đề đạo đức, và bắt buộc phải giải quyết những vấn đề nàyngoài khuôn khổ của tôn giáo. Thí dụ như những vấn đề này ngoài khuônkhổ của tôn giáo. Thí dụ như những vấn đề sinh đạo đức (bioéthique) đặtra trong cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 này: ngừa thai, thụ thai trongống nghiệm, ghép bộ phận, kiến tạo di truyền, sinh sản vô tính,v.v.Những bước tiến của khoa học- kỹ thuật, những thay đổi của xã hội, bắtbuộc các nhà khoa học phải áp dụng một triết lý đạo đức uyển chuyển,cởi mở, với khả năng sửa đổi , phê bình, và đặt lại vấn đề mới xuấthiện, với những dữ kiện mới, trong một khung cảnh văn hoá mới. Đó làcái mà nhà thần kinh sinh học Pháp J.P.Changeux gọi là “đạo đức từngbước nhỏ” (éthique des petits pas). Một nền đạo đức không thần khải,không siêu hình, không lý thuyết, không cố định, vì phải luôn luôn đượcxây dựng từng bước một, để phù hợp với thực tế.

Siêu việt “ thiện/ác” không có nghĩa là coi “thiện/ác” như nhau, làchủ trương thế nào cũng được, và con người muốn làm gì cũng được trongxã hội.

Trong một xã hội, một đoàn thể, phải có những giá trị đạo đức, nhữngmốc, những tiêu chuẩn để qui định nhưng lề luật cuộc sống. Nhưng đènđỏ, những bảng stop để tránh những va chạm, những đụng độ làm mất hoàkhí giữa nhau. Thiện và ác là những giá trị đạo đức, cũng như tiền bạc,hàng hoá là những giá trị kinh tế đã được qui định giữa những conngười, không thể thiếu sót được, tuy biết rằng đó chỉ là những qui ướctương đối và tạm bợ.

Siêu việt “thiện/ác” là vượt lên khỏi “thiện/ác”, không còn bị vướngmắc, bận tâm về vấn đề đó nữa, bởi vì việc thiện đã trở thành tự nhiênrồi, khi đi đứng nằm ngồi, từ thân khẩu ý sinh ra đều là hành thiện,đều gây nghiệp tốt, nghiệp lành. Những người siêu việt được “thiện/ác”như vậy – có thể gọi là đã giác ngộ- quả là hiếm hoi, muôn người chưacó một. Phải tu tâm dưỡng tánh bao nhiêu năm trời (hay bao nhiêu kiếpsống?) mới được như vậy. Nhưng tôi tin rằng con người tầm thường cũngcó thể, trong nhưng giây phút nào đó, siêu việt được “thiện/ác”. Nếusống thật trong hiện tại, một cách hồn nhiên, giản gị, không tiếc gì,cầu gì, lo gì, muốn gì…

Rốt cục, “ thiện/ác” cũng là ở cái tâm của mình.

Trong truyện Kiều, Nguyễn Du cũng tỏ ra là một người hiểu sâu xa đạo Phật khi ông kết luận: “Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài“ (Trần Kim Trọng giải thích là cái tâm của nhà Phật bao hàm thống nhấtđược cả ba phương diện của đạo Nho là tam tài: thiên, địa, nhân).

Đối với tôi, người Phật tử phải vừa một đằng hướng thiện một cách tựnhiên, trau dồi cái thiện tâm và thiện cảm (empathie) của mình đối vớimọi người, mọi sinh vật, vừa một đằng khác giữ một cái nhìn sáng suốt,siêu việt thiện/ác. Phải hiểu mình, hiểu người, hiểu những qui luật củathiên nhiên để đừng bị dằn vặt bởi những mâu thuẫn nội tâm và nhữngvướng mắc do lối nhìn nhị nguyên, xa rời thực tế và chỉ cản trở sự tuhọc của mình.

Olivet, 1/4/2004