Đời Sống Và Kinh Nghiệm Tôn Giáo

0
141

Sau khi tìm hiểu khái lược về tôn giáocủa đạo Phật,bây giờ chúng ta đi vào một lĩnh vực vô cùng quan trọng,đó là đời sống và kinh nghiệm tôn giáo của đạo Phật. Trước khi bàn vềvấn đề này, cần lưu ý rằng có hai khía cạnh luôn luôn đi đôi với nhautrong mọi thể cách vận hành của đời sống cũng như của kinh nghiệm màcon người không thể bước ra ,cho dù là người có tôn giáo hay là khôngtôn giáo; đấy là dòng vận hành của tâm thức tùy thuộc vào hoặc là tínhđặc thù của nhân tính (personality), hoặc là cơ sở của ý thức hướng đếnsự toàn thiện. Ở đây, tính chất đặc thù của nhân tính được xem như làcái trục nhân tính mà qua đó đời sống tình cảm của con người trổi dậytrong cái cơ cấu tương quan thường nghiệm,như sự hiểu biết, tình thươngyêu, lòng kính trọng, sự tôn thờ vv…

Trái lại,cơ sở của ý thức hướng đến sự tòan thiện (giác ngộ) luôn cókhuynh hướng đi ngược lại ngay từ niệm khởi đầu tiên khi mà một ngườiđàn ông hay một người đàn bà thực thụ đắm mình vào dòng sông thể nghiệmcủa đời sống tôn giáo ,một đời sống không còn vận hành lê thê trongtương quan logic ,mà Đức Phật gọi nó là trật tự của vòng nhân quả, luânhồi. Đấy là lý do tại sao phải phân định rõ hai thể cách của đời sốngvà kinh nghiệm tôn giáo.

 

Đời Sống Luân Lý Tự Nhiên

Như tôi đã nói ở phần tâm lý xã hội học-tôn giáo, sẽ rất sai lầm nếu chúng ta đẫy tôn giáo ra khỏi đời sốngtri thức luân lý của con người hoặc ngược lại.Vì lẽ, nhân tính vốn đượcxem như là một cái trục của sự sống mang tính cách bẩm sinh.Và từ cáitrục nhân tính này, nó vẽ nên mọi giá trị cho lòng thương yêu, niềmtin, sự kính trọng,sự tôn thờ,lòng vị tha vv… và điểm nối kết tất cảgiá trị đó chính là cái tình cảm chân thành, chất phát của con ngườingay từ lúc cất tiếng khóc chào đời. Đấy quả thực không gì khác hơn làmột phần thưởng quí giá độc nhất vô nhị dành để tặng cho con người. Dođó, nếu tôn giáo được xem là nơi lưu trữ và tôn vinh các đặc trưng củanhân tính- cái vốn làm nên trật tự của một nền luân lý tự nhiên- thìtôn giáo và đời sống luân lý tự nhiên của con người là một tổng thể bấtkhả phân ly. Ở đây, hoàn toàn không có cái phẩm chất đơn độc (Singlequality) trong mọi giá trị hiện hữu của đời sống con người, mà chỉ cónhững nhóm phẩm chất (group of qualities).Tỉ dụ như không thể có bất kỳmột tình thương yêu độc lập nào có thể tách rời khỏi sự kính trọng vàlòng vị tha. Giá trị của tình thương yêu thực thụ cũng chính là giá trịcủa sự kính trọng và lòng vị tha; hay nói khác hơn, tình yêu chỉ xuấthiện trong tương quan của các gía trị tình cảm như lòng vị tha, sự kínhtrọng , sự độ lượng, sự nhân từ ,sự hiểu biết vv…Điều này được ĐứcPhật gọi là đạo lý Duyên Khởi.
Trên cơ sở này, đời sống tôn giáođược tập trung vào niềm tin về một trật tự luân lý thiện ác- nhân quả,cũng như sự phúc đáp tốt đẹp cho mọi thiện hạnh mà con người là kẻ duynhất gieo và gặt mọi hậu quả; và sự hiện hữu Thánh linh nào đó xuấthiện ở đây chỉ được xem như là những chứng lý-hình thức cần có cho sựphán quyết nội tại mà thôi. Và như thế, không có gì là mâu thuẫn nếucần phải tôn vinh một hiện hữu Thánh linh hay qui ngưỡng về một hiệnhữu Thánh linh ,lấy đó làm tâm cho mọi sự phân bày, cho dù đó là tựnhiên hay siêu nhiên. Từ đó,đời sống tôn giáo ,một mặt nào đó gắn liềnvới các hình thức lễ nghi (cần được lâp đi lập lại nhiều lần) như là sựnhắc nhở trong mỗi niệm của con người hướng đến các tư duy, ứng xử,hành vi…mang giá trị tốt đẹp và lánh xa các việc xấu ác.
Tuynhiên, những điều được nói trên đây chỉ là một đời sống tôn giáo đượcxây dựng trên căn bản của trục nhân tính mà thôi. Đấy không phải là cốttủy trong đời sống tôn giáo của Đạo Phật.

Đời Sống Ý Chí Hướng Thiện

Chúng ta biết rằng, cái nguyên động lựcthúc đẫy con người tìm kiếm một đời sống tôn giáo thực thụ thì không gìkhác hơn là mối quan tâm về đời sống cá thể trong cái số phận hạn cuộccủa một đời người. Đây là mấu chốt trong sự ra đời của các tôn giáo nóichung ,cũng như là sự tồn tại hiện hành của tôn giáo. Như thế, một cáchngắn gọn có thể nói, tôn giáo là một chương tưởng niệm (Monumentalchapter)-theo cách nói của W.James – về lịch sử qui kỷ của nhân loại(Human egotism). Tư tưởng tôn giáo là tư tưởng của con người, của nhântính. Vì lẽ, Phật hay Chúa hay vân vân…đều xuất hiện từ tiếng gọi nộitại của con người, con người của Phật, con người của Chúa…Và rằng,những người được xem là đã đạt đến một sự kiến chiếu như thật đều khôngngớt nói rằng họ gặp Phật hay Phật gặp họ ngay trong cái bản thể tự nộicủa chính họ chứ không phải là ở một nơi nào xa khác.
Từ đó chothấy rằng, tôn giáo ra đời từ một ý chí hướng thượng cá nhân, và ngượclại ,con đường dẫn của tôn giáo đối với các cá nhân là hoàn thiện tráchnhiệm và đời sống của chính nó. Như thế, đời sống hướng thượng trongtôn giáo của đạo Phật trước hết được đặt ra là lý tưởng hòan thiện cánhân mà Đức Phật trình bày qua học thuyết Nghiệp (Karma) , một họcthuyết xây dựng trên cơ sở của trách nhiệm cá thể, nhằm giúp con ngườiý thức rõ về khả năng tự độ, hay nói khác hơn là khả năng thành Phật.Thông qua học thuyết này, mỗi người tự mình nỗ lực vượt qua mọi cảmnhiễm xấu ác, vượt qua con người tham dục , vượt qua mọi cơ đồ của cáitrần tục trong thế giới tương quan và giơí hạn để đạt đến một sự tòantri (giác ngộ) bằng con đường thể nghiệm chân lý. Trong suốt một tiếntrình, từ bước đầu tuân thủ các trật tự luân lý cho đến sự vượt qua mọitrật tự trong tương quan của logic suy lý, cái tâm của chúng ta đượcxem như là điểm trung tâm của mọi sự vận hành. Và dòng ý thức của cáitâm đó luôn luôn xoay ngược chiều với đời sống luân lý tự nhiên. Mộtđằng thì nỗ lực tìm kiếm những phúc đáp tốt lành từ các việc thiện,điều này được xem như là nguyên nhân thúc đẫy con người làm các viêclành và chấp hành mọi qui ước của luân lý đạo đức; trong khi một đằngkhác thì nỗ lực vượt qua mọi tương quan trong thế giới thiện -ác ,chấmdứt vòng luân hồi tái sinh mà Phật giáo goi là giải thoát sinh tử.
Do đó, đối với Phật giáo, cái cốt lõi của đời sống tôn giáo chính là sựvượt qua mọi đối đãi của thế gian (như thiện ác, tốt xấu, có không,sinh tử…) để làm cho tâm trở nên thanh tịnh (tự tịnh kỳ ý) nhưng vẫnkhông từ bỏ các thiện hạnh dù là nhỏ nhoi trong cuộc sống đời thường,mà ở đây có thể dùng khái niệm Viễn Ly để nói lên ý nghĩa của đời sốngnày.

Kinh Nghiệm Tôn Giáo

Trước khi bàn đến kinh nghiệm trong tôngiáo,chúng ta có vài ghi nhận về vấn đề nhận thức. Đây là một trongnhững vấn đề phức tạp thuộc ngành tâm lý học , mà ở đây là tâm lý họcPhật giáo.
Thông thường chúng ta biết rằng, để có một nhận thứcbao giờ cũng đòi hỏi có một chủ thể nhận thức và đối tượng được nhậnthức xuất hiện trong tương quan. Nếu thiếu một trong hai thì sự nhậnthức không thể hình thành. Và chính sự nối kết của những mẫu nhận thứcnhỏ nhoi này mà chúng ta có một chuỗi dài của kinh nghiệm.Điều này đượcgọi là tri thức thường nghiệm , nó góp phần soi sáng trong mọi quan hệcủa tư duy và thế giới thực tại – đối tượng của tư duy. Tuy nhiên ,sẽrất sai lầm khi dùng những mẫu tri thức như thế làm cơ sở cho kinhnghiệm của đời sống tôn giáo.
Vì lẽ, tri thức của chúng ta về mộtsự vật thì không phải là sự vật chính nó mà chỉ là ảnh tượng về sự vậtđó mà thôi. Tất nhiên ,trong tiến trình của biện chứng,con người thườngnỗ lực gán ép một căn tính nào đó lên mỗi đối tượng hiện hành của nhậnthức theo cái khuôn mẫu tri thức của con người, như -như thế này thìgọi là cái nhà, như thế kia thì gọi là chiếc xe… Và từ trong thâmtâm, người ta muốn đồng nhất hóa sự vật được nhận thức theo cái nhìncủa chủ thể nhận thức. Từ đó mà mọi khái niệm phân biệt trỗi dậy và làmcho cái một (đối tượng) trở thành đa thù (biểu hiện). Tỉ dụ như nhữngchàng mù sờ voi, do không có khả năng lĩnh hội tòan diện về con voi nênkhi tiếp xúc với nó, người sờ đụng cái tai voi thì cho rằng con voigiống cái quạt, người sờ đụng cái chân thì cho rằng con voi giống cáitrụ, người sờ đụng cái bụng thì cho rằng con voi giống cái trống…….Cứ như thế mà con voi được xuất hiện khác nhau trong tâm thức của nhữngchàng mù. Đấy là những giới hạn của tri thức con người trước thế giớithực tại. Học thuyết của Lotze bảo rằng : ” Thông qua cái khuôn mẫu trithức của chúng ta áp đặt lên sự vật (for itself) mà có thể lĩnh hộiđược sự vật như là chính nó (in itself) đây là ý nghĩa duy nhất củanhận thức “.
Một điều khác nữa là tri thức của chúng ta thườngkhông trung thực, nó bị chi phối bởi nhiều yếu tố chủ quan như vui,buồn ,thương ,ghét…Do đó ,tùy theo trạng thái của sự tiếp xúc tronggiao diện giữa chủ thể nhận thức và đối tượng được nhận thức mà đốitượng được đánh giá khác nhau. Như trước mắt chúng ta chỉ có một bônghoa, nhưng với người này nó là đẹp, với người kia nó là xấu…Có baonhiêu người thì có bấy nhiêu nhận thức khác nhau.
Bên cạnh đó, cómột yếu tố quan trọng mà không thể không nói đến đó là con đường dẫnđến sự tiếp xúc hay lĩnh hội cái kỳ bí nhiệm mầu ,tự nhiên hay siêunhiên, chung quanh chúng ta; con đường thể nghiệm tâm linh trong tôngiáo; và con đường vượt qua mọi khát vọng ,nhu cầu của cá nhân, như ănuống, dục tính chẳng hạn…Trên mặt phân tích thì nói như thế, nhưngthật ra cái cốt tủy để đạt đến một sự thể nghiệm tôn giáo chính là sựvượt qua mọi đam mê , dục vọng và cuồng si của tự thân mà tri thức củachúng ta luôn luôn là nguyên nhân của mọi cuộc “nội chiến”.Bởi lẽ, dầubiết rằng muốn đạt đến một đời sống thánh thiện, con người cần phải giữdìn mọi phẩm chất của đức hạnh, nhưng từ trong chiều sâu của tâm thức,cái mà gọi là bản năng dục vọng luôn thiêu đốt và thúc giục con ngườiđi tìm kiếm một sự thỏa mãn, dầu trong tư duy hay hành động.Ở lĩnh vựcnày, sự nỗ lực và nhiệt thành của ý chí đóng vai trò trung tâm.
Từ một vài trưng dẫn trên, có thể kết luận rằng, khả năng của nhận thứcdù thế nào đi nữa vẫn không thể làm nhân cho những kinh nghiệm tôn giáomà trái lại , nó đòi hỏi những yếu tố thể nghiệm, niềm tin và trựcgiác. Điều này giống như sự tri thức về nước và người uống nước thìhoàn toàn khác nhau.

Cái Cái Huyễn Ảo

Một yếu tố quan trọng trong việc xâydựng đời sống tôn giáo tiến bộ cũng như để củng cố niềm tin, trau dồiđức hạnh…đó là kinh nghiệm về cái huyễn ảo. Chính từ kinh nghiệm nàymà con người bắt đầu nhận thức sâu sắc về sự thật của cuộc đời.
Trong viễn kiến của tự nhiên, con người thường thấy rằng sự hiện hữucủa ta cũng như thế giới chung quanh ta là những cái gì đó như thực,như bền vững, như vĩnh hằng… và xu hướng sở hữu hóa căn tính của sựvật sai biệt đa thù chung quanh ta là tính chất thông thường của tư duy, của nhận thức, của cảm tính. Điều đó là một chướng ngại lớn nhất củacon người khi bước vào thực hành đời sống tôn giáo. Vì lẽ, mục tiêu lýtưởng của tôn giáo mà chúng ta đang bàn đến là sự thể nghiệm chân lý,vượt lên trên mọi giới hạn của đời sống trần tục này, đi từ cái hữubiên đến vô biên, từ cái sai biệt đa thù đến cái đồng nhất thể trongtương quan thống thiết giữa con người và vũ trụ bao la. Và như thế, khicòn bị buộc chặt hay bám víu vào thế giới phân biệt của tri thức luậnlý thì sẽ không bao giờ thể nhập vào cái siêu luận lý- thực tại. Đây làlý do tại sao Đức Phật trình bày học thuyết về Ba dấu ấn (Khổ, vôthường ,vô ngã) như là tính cách pháp định ,bất biến của thế giới tươngquan duyên khởi này.
Ở đây, cái huyễn ảo chính là cái đa tính củađối tượng , cái được sinh khởi từ trong tương quan giữa chủ thể nhậnthức và đối tượng được nhận thức, như tri thức về cái bàn , cái ghế,cái nhà, xe cộ, tài sản vv… trong khái niệm huyễn ảo, nó bao gồm cácđặc tính như tên gọi (danh) ,hình thể (tướng); trong hình thể bao gồmhai yếu tố biểu hiện (sắc) và không biểu hiện (vô biểu sắc); trong cáikhông biểu hiện bao gồm cả các dạng năng lượng, trong năng lượng baogồm hai tính chất vật lý và tâm lý. Đấy chính là cái tổng thể của mộtsự hữu. Và, khi cái tổng thể này được phân tích cặn kẻ đến độ không cònphân tích được nữa thì cái huyễn ảo bắt đầu xuất hiện ra trước mắtchúng ta. Sự kiện này có thể thảo luận cụ thể hơn như sau.
Nhưtôi đã trình bày,tri thức của chúng ta về một sự thể nào đó thì khôngphải là sự thể chính nó. Cái mà chúng ta biết được về thế giới thực tạichung quanh ta đó chỉ là những phóng ảnh từ tâm thức ,hay nói khác hơnchỉ là thế giới biểu tượng của thực tại, chứ không phải là thực tại bảnnguyên. Và nên nhớ rằng , cho đến cái khả tính tối thượng của nhận thứcvẫn không thể lĩnh hội được thực tại. Vì lẽ, tính chất của nhận thức làphân biệt thế giới thực tại qua khái niệm;mà giữa khái niệm và thực tạithì hòan toàn khác nhau. Do đó, bất luận một sự thể naò, hễ còn đượcxây dựng trên khái niệm thì đều là huyễn ảo- nghĩa là chúng luôn luônvô thường.
Trái lại,tâm thức chúng ta ngay từ trong mỗi niệm mọiảnh tượng đến rồi đi, sinh rồi diệt, trông có vẽ như nửa mộng ,nửathực; nhưng mọi diễn biến của nó ,dù đến hay là đi, vẫn để lại dấu tíchtrong tàng thức (alaya),và một ngày nào đó ,cái dấu tích cổ xưa ấy sẽxuất hiện trở lại cùng với tập quán của tư duy. Đấy là một loại ký ức-như một cuốn nhật ký-mà lúc nào và ở đâu con người cũng mang theo.Điều này được Đức Phật gọi là chủng tử (các hạt giống) của nghiệp thức,Và trong các hạt giống đó bao gồmba loại : hạt giống sẳn có, hạt giốngmới gieo vào và hạt giống hiện hành.
Từ một vài trưng dẫn trên,cho thấy rằng trong đời sống kinh nghiệm tôn giáo có một sự đảo lộncác giá trị của tự nhiên, và bản thân của giá trị đó được xem như làtương đương với giá trị đánh đổi trong các lý thuyết của nền kinh tếhọc hiện đại. Nó xuất hiện như một thứ nghịch lý hiển nhiên. Tất nhiên,ở đây hoàn toàn không hề có bất kỳ một sự thương lượng nào cả; cónghĩa là, đối diện trước đời sống của kinh nghiệm tôn giáo, hoặc là conngười nỗ lực vượt qua mọi chướng ngại của cái huyễn ảo, hoặc là mãi mãiđắm chìm trong trong hải hồ tục lụy bởi sự bám chặt vào cái huyễn ảo màthôi.
Nói tóm lại, con đường dẫn đến kinh nghiệm tôn giáo có mộtgiá trị đặc biệt trong đời sống đạo đức của con người và xã hội. Vì lẽ,một tôn giáo nếu không có những kinh nghiệm nội chứng thì xem như đó làmột tôn giáo hình thức, chẳng đưa con người đi đến đâu.Điều quan trọnghơn hết ở đây làchính kinh nghiệm tôn giáo thực thụ sẽ tạo nên một nềntảng bền vững nhất làm cơ sở cho các gía trị nhân bản của tình yêu,tình người, và cao xa hơn là niềm hạnh phúc vĩnh hằng.

Thích Tâm Thiện