Tin tặc mũ trắng (2)

0
127

Julian Assange sống trong nỗi sợ hãi bị bắt

Tháng9-1991, Julian Assange xâm nhập trạm đầu cuối chính của Công ty Viễnthông Canada Nortel đặt tại Melbourne, Úc. Lúc đó Julian tròn 20 tuổi,vẫn hoạt động trong nhóm hacker International Subversives.

Julianthường xâm nhập hệ thống máy tính của Nortel vào ban đêm. Đó là lúc hệthống ở trong tình trạng lơ mơ. Nhưng một đêm nọ, có một quản lý mạngcủa Nortel trên hệ thống. Cảm thấy bị bắt quả tang, Julian nhắn tin:“Tôi đã nắm quyền kiểm soát hệ thống”. Julian viết nửa đùa nửa thậtnhưng không xưng tên.

“Từlâu, tôi loay hoay trong bóng đêm. Bây giờ, cuối cùng tôi đã thấy ánhsáng”- Julian viết tiếp. Tay quản lý không trả lời. Julian gửi tiếp mộttin nhắn: “Thật là thú vị khi dạo chơi trên hệ thống của anh. Chúng tôikhông làm gì có hại cả. Xin đừng báo Cảnh sát Liên bang Úc”.

Ác mộng

Việcnhóm International Subversives xâm nhập hệ thống máy tính của Norteltrở thành một đầu mối thông tin quan trọng của Chiến dịch Thời tiết,chuyên án của Cảnh sát Liên bang Úc về nhóm tin tặc InternationalSubversives.

KenDay, trưởng nhóm điều tra, nhận định: “Julian là tin tặc giỏi nhất vàbí ẩn nhất trong nhóm. Động cơ của y mang tính vị tha. Theo tôi nghĩ,Julian hành động theo đức tin ai cũng có quyền tiếp cận bất cứ thứ gì”.

JulianAssange rất sợ bị bắt. Quyển Underground (một cuốn sách Julian viếtchung với nhà văn Suelette Dreyfus) mô tả “Mendax (nickname của JulianAssange) thường nằm mơ thấy bị cảnh sát truy đuổi ráo riết, nghe tiếngchân nghiến trên con đường đầy sỏi đá, thấy bóng người chập chờn trongbóng đêm nhạt nhoà, thấy họng súng tự động đen ngòm của cảnh sát độtnhập nhà bằng cửa sau lúc 5 giờ sáng”.

Julianchỉ có thể cảm thấy nhẹ lòng khi anh giấu đĩa vi tính trong cái tổ onganh nuôi trong nhà. Tháng 10-1991, Julian lâm vào cảnh vô cùng khốnkhó. Vợ anh bỏ nhà theo trai, đem theo đứa con trai. Julian hầu nhưkhông ăn uống, ngủ cũng rất ít. Ngày 29-10, Ken Day gõ cửa, bước vàonhà Julian: “Tôi nghĩ rằng anh đang đợi tôi”.
Assangebị cáo buộc 31 tội danh bao gồm tội xâm nhập bất hợp pháp các hệ thốngmáy tính và các tội liên quan khác. Trong khi chờ ngày hầu toà, Julianbị suy nhược thần kinh phải nhập viện.

Chínhquyền Úc mất hơn 3 năm để đưa Julian Assange và các thành viên khác củanhóm International Subversives ra toà. Một nhóm an ninh mạng làm việccho Nortel ở Canada báo cáo rằng những cuộc xâm nhập hệ thống máy tínhNortel gây thiệt hại nghiêm trọng. Tiền sửa chữa có thể hơn 100.000 USD.

JulianAssange đối mặt với nguy cơ lãnh án 10 năm tù giam nếu báo cáo trênchính xác. Julian mua quyển Vòng đầu của nhà văn Nga AlexandrSolzhenitsyn viết về các nhà khoa học và kỹ thuật viên bị lưu đày, đọctới đọc lui ba lần vì cảm thấy “sao giống cuộc đời mình”.

Juliancho rằng việc xâm nhập máy tính để “dòm ngó” chẳng có tội tình gì vìtrên thực tế anh chẳng làm gì có hại cho hệ thống cả. Anh quyết địnhchống án tới cùng. Cuối cùng, Julian nhận 25 tội danh. Sáu tội danhkhác bị huỷ bỏ.

Tuy nhiên, trong phiên xử cuối cùng, chánh án kết luận: “Không thấy có chứng cứ nào khác ngoài chuyện  tò mò và khoái cảm được lướt sóng trên các máy tính”. Julian Assange chỉ bị phạt một số tiền nhỏ.

Cuộc chiến giành con

Sau khi kết thúc vụ án trên, Julian và mẹ lao vào một cuộc chiến  khác, lần này là chiến dịch giành quyền nuôi con trai của Julian. Cuộc chiến này cam go và khó khăn hơn vụ án tin tặc.

Julianvà mẹ – bà Christine- đưa ra lý lẽ rằng vợ Julian và bạn trai mới củacô ta là một mối đe doạ cho đứa bé. Nhưng, Cơ quan Bảo vệ Trẻ em Úc(HCS) không chấp nhận lập luận của Julian, viện cớ không rõ ràng.

Cuộcchiến giành nuôi con bất thành càng khiến cho mẹ con Julian Assange cămghét chính quyền. Bà Christine nói: “Những gì chúng tôi thấy là cả mộtbộ máy quan liêu khổng lồ chèn ép dân chúng”.

Bà Christine và Julian cùng với nhiều người thành lập một tổ chức  mangtên Cha mẹ Thẩm tra việc Bảo vệ trẻ em. Họ vận dụng luật tự do thôngtin Úc để tiếp cận tài liệu của HCS, tổ chức rải tờ rơi, khuyến khíchcác nhà hoạt động bảo vệ trẻ em thu thập thông tin nội bộ để lập “ngânhàng dữ liệu trung ương”.

Năm 1999, sau gần 30 phiên điều trần và kháng án. Julian đạt được một thoả thuận với vợ về việc nuôi  con. Trong thời gian này, theo lời bà Christine, cả hai mẹ con đều mắc chứng hậu sang chấn stress giống như bệnh của  binh sĩ Mỹ trở về nhà sau khi tham chiến ở Iraq.  Đặc biệt, tóc của Julian vốn màu đen nâu đã biến đổi thành đủ màu.

Cómột thời gian Julian đến Việt Nam cưỡi mô tô rong ruổi khắp hang cùngngõ tận. Anh làm nhiều nghề khác nhau, kể cả nghề tư vấn an ninh mạng,để sống. Anh dùng số tiền tiết kiệm được chu cấp cho con.

Trởvề Úc, Julian ghi danh học môn vật lý ở Trường Đại học Melbourne với kỳvọng giúp ích được nghề tin tặc. Nhưng kết quả không được như ý. Là họctrò của Kafka, Koestler và Solzhenitsyn, Julian tin rằng sự thật, sángtạo, tình yêu và đam mê đã bị các thể chế hiện hữu hủ hoá, tinh thầncon người bại hoại.

Julian phác thảo một tuyên ngôn chống việc “cai trị bằng âm mưu”,  áp dụng lý thuyết đồ thị vào chính trị. Julian  tin rằng các thể chế chính trị  âmmưu dùng bí mật để tồn tại, bất chấp lợi ích của nhân dân. Triệt tiêuđược bí mật, làm cho dòng thông tin giữa những kẻ âm mưu bị teo tóp đếnmức gần bằng  không thì  sẽ không còn âm mưu nữa. Rò rỉ bí mật  trở thành một công cụ của chiến tranh thông tin. Đó là lý do ra đời WikiLeaks.

(Theo nld.com.vn)