Tâm lý nương rẫy và sự phát triển bền vững ở các dân tộc Tây Nguyên

0
289

Ở đây chỉ xin thử bàn về ba khía cạnh tác động bất lợi của thói quen và tâm lý nương rẫy đến phát triển bền vững kinh tế nói riêng và phát triển bền vững kinh tế – xã hội nói chung ở các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Thứ nhất, làm nương rẫy trên đất dốc, lấy tro rừng làm phân, không áp dụng khoa học kỹ thuật, mọi thành quả đều phụ thuộc vào đất, vào rừng, vào mưa nắng, phụ thuộc hoan toàn tự nhiên. Con người chỉ biết trông cậy và tin tưởng vào tự nhiên, vào các đấng siêu linh vô hình nhưng tồn tại khắp nơi, trên trời và xung quanh con người. Năng suất rẫy cao hay thấp, lúa rẫy tốt hay xấu đều không phải do con người, mà do thần linh quyết định. Người giàu ở Tây Nguyên là người có nhiều lúa gạo. Lúa gạo nhiều không do nội lực người giàu phấn đấu, mà do thần linh ban cho. Giàu hay nghèo không phải do con người, mà do thần linh. Giàu không tự hào, nghèo không xấu hổ. Khi trong buôn làng đói kém thì người giàu phải chia lúa cho người nghèo như là lẽ tự nhiên. Giàu không xót ruột và nghèo không băn khoăn. Vậy nên về mặt nhận thức, trong trồng trọt, người Tây Nguyên thường thụ động, trông chờ, ỷ lại vào tự nhiên, có sao hưởng vậy mà ít có khát vọng và nỗ lực làm giàu. Điều này phần nào giải thích khó khăn của công tác xóa đói giảm nghèo cũng như hiệu quả thấp của công tác xóa đói giảm nghèo ở các dân tộc Tây Nguyên trong những thập niên qua.

Thứ hai, đặc trưng lệ thuộc tự nhiên của nương rẫy đồng nghĩa với việc trên nuơng rẫy con người chỉ cần sử dụng hệ thống kỹ thuật canh tác đơn giản đến mức tối đa, bao gồm phát, đốt, chọc, trỉa, khác hẳn với hệ thống kỹ thuật canh tác đã phức tạp và đòi hỏi tri thức khoa học kiểu như nước, phân, cần, giống trên ruộng nước của người Kinh đồng bằng, càng không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp như canh tác các loại cây công nghiệp hàng hóa như cà phê, cao su, hồ tiêu, chè và dấu tằm như người Kinh Tây Nguyên hiện nay. Nói cách khác, canh tác nương rẫy là đơn giản và bắt trước, là ổn định và là trao truyền. Về mặt kỹ thuật thì như vậy.

Còn về mặt tín ngưỡng cũng có những lý do tâm lý ảnh hưởng tới tiếp thu khoa học kỹ thuật mới. Tín ngưỡng vật linh giáo hay tín ngưỡng vạn vật hữu linh nguyên thủy là nét đặc thù tinh thần ở các dân tộc Tây Nguyên. Trọng tâm của tín ngưỡng vạn vật hữu linh vẫn là tín ngưỡng nông nghiệp nương rẫy, trong đó, tin theo, ngưỡng mộ và thờ cúng nhiều vị thần nông nghiệp là tín ngưỡng chủ đạo và xuyên suốt ở tất cả các dân tộc Tây Nguyên. Với người dân Tây Nguyên, thần lúa, thần củ, thần đất, thần rừng, thần mưa, thần sấm sét, những vị thần nông nghiệp, thần lúa đứng đầu, là những vị thần được tôn kính và thờ cúng nhiều nhất. Dề hiểu vì sao trước đây người Ba Na và người Xơ Đăng kiêng không dùng trâu cày ruộng vì trâu là vật hiến sinh, sợ thần lúa giận mà gây mất mùa, kiêng không dùng liềm cắt lúa, vì sợ làm lúa đau, hồn lúa giận mà gây mất mùa, kiêng không bón phân cho nương rẫy vì sợ làm bẩn đất, thần đất giận mà làm cho lúa xấu, kiêng không chôn người chết khi đang thu hoạch vì sợ thần lúa giận mà bỏ đi,…

Tóm lại, cả về lý do kỹ thuật lẫn lý do tâm linh, canh tác nương rẫy không đòi hỏi áp dụng khoa học kỹ thuật mới, cũng như nó xa lạ và phản ứng trước tất cả những mong muốn và thử nghiệm áp dụng khoa học kỹ thuật mới. Nhìn xa hơn, canh tác nương rẫy dẫn đến tâm lý muốn chối bỏ và phản ứng việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động trồng trọt ở các dân tộc Tây Nguyên, kể cả các hoạt động mới du nhập vào trong những thập niên gần đây. Điều này góp phần lý giải tại sao những thập niên sau giải phóng, ruộng nước và cây công nghiệp du nhập vào các buôn làng Ba Na, Xơ Đăng khó khăn và chậm chạp đến thế, cũng như khi đã được du nhập vào buôn làng Tây Nguyên, ruộng nước và cây công nghiệp lại có năng suất và hiệu quả thấp kém hơn nhiều đến thế so với ruộng nước và cây công nghiệp của người Kinh.

Thứ ba, nuơng rẫy nói chung và nương rẫy Tây Nguyên nói riêng không sử dụng thủy lợi, mà trông vào nước mưa, nước trời. Khí hậu Tây Nguyên một năm chia hai mùa là mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Nương rẫy không thể canh tác vào mùa khô, mà chỉ có thể canh tác vào mùa mưa, nghĩa là một năm chỉ canh tác một vụ kéo dài 7 tháng, chỉ có lao động và lao động nhiều nhất để có thu hoạch lương thực, thực phẩm nhiều nhất và cao nhất trên nương rẫy. Mùa khô hiển nhiên và bắt buộc phải là mùa nông nhàn, mùa ăn chơi, mùa nghỉ ngơi của canh tác nương rẫy, kéo dài 5 tháng. Nhưng mùa khô với các dân tộc Tây Nguyên không đơn giản chỉ là mùa nông nhàn và mùa nghỉ ngơi. Ngoài nông nhàn và nghí ngơi, mùa khô còn là mùa của hoạt động kinh tế khác, đặc biệt của sinh hoạt lễ hội và sinh hoạt văn hóa. Mùa khô đến là lúc người dân Tây Nguyên chăn nuôi, đan lát, dệt vải, làm gốm, làm rèn, đãi vàng, trao đổi, khai thác các nguồn lợi trong rừng, chuyển làng mới, làm nhà mới, cưới xin, hát sử thi, tổ chức các lễ hội cộng đồng kèm theo nghi thức đâm trâu, thường thấy là lễ mừng thu hoạch, lễ mừng nhà rông mới, lễ cúng máng nước, lễ mừng chiến thắng, lễ mừng kết nghĩa hai làng,…mùa khô cũng là mùa của những lễ hội bỏ mả mà ý nghĩa văn hóa và tâm linh vốn nổi tiếng và được khẳng định từ lâu.

Điều quan trọng thông qua những trình bày trên là vói hoạt động canh tác nương rẫy, từng tồn tại ở các dân tộc Tây Nguyên một chu trình sinh hoạt hai mùa/năm mặt trời: Mùa canh tác và mùa nghỉ ngơi, trong đó mùa canh tác chủ yếu dành cho lao động đáp ứng nhu cầu vật chất, nhu cầu mưu sinh, còn mùa nghỉ ngơi chủ yếu dành cho đáp ứng nhu cầu tinh thần, nhu cầu văn hóa. Chu trình lao động và nghỉ ngơi trong năm mặt trời đó là điều kiện cần và đủ về thời gian và không gian làm nên cuộc sống và văn hóa truyền thống Tây Nguyên. Nó ăn sâu, bám rễ vào tâm thức, tình cảm và trở thành tâm lý cố hữu của người dân Tây Nguyên từ ngàn đời nay. Thay đổi nhịp sống đó cũng là thay đổi tập quán, thói quen và văn hóa của các dân tộc Tây Nguyên. Đây là trở lực không nhỏ cho công cuộc chuyển đổi từ nông nghiệp canh tác nương rẫy sơ khai truyền thống lao động một vụ/năm sang nông nghiệp canh tác ruộng nước và cây công nghiệp hiện đại lao động nhiều vụ quanh năm hiện nay ở các dân tộc Tây Nguyên. Tâm lý và thói quen này góp phần giải thích tại sao những năm qua, ở nhiều buôn làng, người dân các dân tộc Tây Nguyên có ruộng nước nhưng lại không canh tác mà cho người Kinh thuê mướn vụ đông xuân, tại sao ở nơi này, nơi kia, người dân các dân tộc Tây Nguyên lại thích làm nương rẫy hơn làm ruộng nước và trồng cây công nghiệp, tại sao mùa khô lại là mùa công nhân người dân tộc thiểu số trong các nông, lâm trường hay tùy tiện nghỉ việc hay bỏ việc dài ngày…

Ngọc Rơđăm (Viện TLH)