Luật Nhân Quả trong cuộc sống xã hội và khoa học

0
107
Luật Nhân quả là một cuộc cách mạng tâm linh.

Khi không hiểu luật nhân quả, con người sống trong sự sợ hãi mê tínmù mờ. Họ giải thích những hiện tượng thiên nhiên qua sự mê tín dịđoan. Thí dụ khi hạn hán mất mùa, họ nghĩ là vì ông thần đất đai giậnnên phải hối lộ ông ta bằng cách cúng kiến mới có được trời mưa. Mớiđầu thì tế lễ bằng con gà không có hiệu quả, rồi đến con bò, đến khi sựcuồng tín lên cao có thể dẫn đến giết một em bé hay một trinh nữ để tếthần như dân tộc Incas đã từng làm. Ngoài ra trong cuộc sống hàng ngàyđi đứng làm cái gì quan trọng thì phải coi ngày giờ tốt như vậy đểtránh cái sợ hãi của những điều xấu xảy ra bất thần chớ không hẳn làtránh được những điều xấu. Nếu quả thật có như vậy thì thế giới nàykhông có sự đau khổ vì mọi sự đều như ý con người muốn. Ông vua dù cómướn thầy địa lý giỏi nhất nước để xây cung điện nhưng nếu không thươngdân, lấy thuế cắt cổ, lúc hết thời thì ngai vàng vẫn bị mất như thường.Nói về hành động cá nhân, nếu không nhận thức có luật nhân quả thìkhông có gì ngăn cản con người làm việc ác miễn sao trốn tránh được cặpmắt của luật pháp là được, cho nên xã hội rất bấp bênh. Nếu vua và dânhiểu được luật nhân quả thì đất nước dễ thanh bình và dân sẽ được hạnhphúc.

Khi Đức Phật giác ngộ thì Ngài nhận ra luật nhân quả là nền tảng củathế giới tâm linh và vật chất. Mọi hiện tượng từ tâm lý đến vật chấtđều có những sự liên quan vô hình rất chặt chẽ, đó là luật nhân quả.Luật nhân quả là sợi dây vô hình nối liền hai biến cố xuyên qua thờigian và không gian. Cho nên khi hiểu luật nhân quả, ta có thể thay đổibiến cố đó theo chiều thuận cho ta, thay vì phải lo sợ hối lộ hoặc cầukhẩn một vị thần linh tưởng tượng nào đó phù hộ cho ta hoặc thỏa mãnđiều ta mong ước. Sự mê tín cuối cùng sẽ đưa đến sự thất vọng và mặccảm tội lỗi(ta có tội nặng quá vị thần không giúp được).

Luật nhân quả rất đơn giản, nếu muốn có một kết quả tốt thì ta phảitạo nhân lành. Thí dụ như khi ta nuôi dưỡng một ý nghĩ hận thù thì takhông thể vui cười hồn nhiên được. Khi ta gạt gẫm người khác thì tối vềngủ không yên giấc vì sợ bị phát hiện. Khi ta gieo hạt lúa thì khôngbao giờ được cây cổ thụ. Khi con người bắt đầu hiểu được như vậy thì họlấy về được một phần sức mạnh của những vị thần linh. Họ bắt đầu làmchủ được tương lai của họ và lấy lại định mệnh của họ từ tay các vịthần. Hiểu và tin được luật nhân quả là một cuộc cách mạng tâm linh(spiritual revolution) vì sự nhận thức đó sẽ phá tan gông cùm của sự mêtín và giúp con người làm chủ được cuộc sống của họ.

Luật Nhân quả và khái niệm không gian thời gian.

Khi đi từ thế giới tâm linh qua thế giới vật chất thì sự thể hiệncủa luật nhân quả thay đổi từ rõ đến mờ. Sự thể nghiệm ở thế giới tâmlinh rất nhanh và rõ nhưng khi qua cái màn nặng nề của thế giới vậtchất thì luật nhân quả bị loãng ra vì phải trải qua nhiều thời gian mớihiện ra rõ được. Cũng vì thế mà khi con mắt bị vật chất làm mờ rồi rấtkhó mà nhận thức luật nhân quả. Thí dụ như kẻ trộm thành công một vàilần rất khó nhận thức rằng mình sớm muộn gì sẽ vào tù. Nếu kẻ trộm đónhận thức rằng mình cần phải thay đổi lòng tham của mình (thế giới tâmlý) thì trong tức khắc có khả năng thay đổi được chiều hướng cuộc sốngmình bằng cách học nghề và làm ăn lương thiện. Ngược lại nếu anh ta cứtiếp tục hành nghề bất lương, lòng tham càng lớn và ăn trộm càng táobạo hơn, thì một thời gian sau đó anh bị bắt vào tù và sẽ hối hận (thếgiới vật chất). Như vậy khi nhận thức ở tâm linh thì chuyển nghiệp(karma) rất nhanh, đợi khi nó thể hiện ở cõi vật chất rồi thì cái thờigian thay đổi rấtchậm chạp, khó khăn, phức tạp và khổ sở. Với đời sốngcon người có giới hạn thời gian, sự nhận thức có được khi hoàn cảnh xấuxảy ra đôi lúc quá trễ. Con người có thể không còn đủ thời giờ để cảithiện. Ngoài ra khi họ tiến quá sâu trong hoàn cảnh xấu, trở lại điểmban đầu rất là gian nan. Thí dụ như anh trộm khi ra tù muốn học lại thìtuổi cao, kiến thức đổi khác nhiều, bạn bè cùng lứa đã có sự nghiệpthành công hết. Anh ta phải khuất phục sự chậm chạp của tuổi cao vàlòng mặc cảm để đi học lại. Mặc dù như thế, anh ta sẽ khó mà ngang hàngvới các bạn được vì mất khoảng thời gian quá lâu trong tù.

Khi hiểu được luật nhân quả thì câu hỏi có định mệnh (destiny) haykhông là tùy nơi con người. Định mệnh có thật khi ta để lực (force)nhân quả lôi cuốn và thụ động để cái nhân ở tâm lý biến thành cái quả ởthế giới vật chất. Định mệnh không có khi ta chủ động biến chuyển nhữngtư tưởng (nhân) xấu thành tốt và theo đó diễn biến (quả) tốt lành sẽđến với ta. Đôi lúc cái nhận thức nhân quả ở thế giới vật chất rất khókhăn vì có người làm lành mà sao lại gặp ác, rồi họ đâm ra chán nản vàcho rằng không có luật nhân quả. Sở dĩ như vậy vì con mắt phàm khôngthể nhìn thấu được quá khứ và không hiểu được những khúc mắc củanghiệp. Nhưng nếu có người nào đó giữ được tâm hồn tha thứ buông xả thìmặc dù biến cố xấu đến với họ đó, nhưng cái tác động trên tâm lý tạo sựđau khổ giảm đi rất nhiều. Thì đó chẳng qua là một điều lành trong mộtbiến cố dữ. Hiểu được luật nhân quả ở tâm thì ta nhận thức rõ hơn và tasẽ thấy sự thay đổi nhanh hơn.

Nhân-duyên-quả

Nghiệp (karma) là những biến cố vui buồn xảy ra trong đời người.Nghiệp, dòng sông nhân quả trong cuộc đời con người, rất là phức tạp.Nghiệp không phải đơn giản như một cái máy, ta bấm nút (nhân) thì máyhoạt động (quả). Nghiệp có thể ví như một dòng sông và nhân quả lànhững phân tử (molecule) nước lưu chuyển, tác động lẫn nhau trong dòngsông đó. Ngoài nhân-quả ra còn yếu tố duyên nửa. Duyên là những yếu tốở không gian và thời gian giúp nhân trở thành quả hoặc ngược lại ngăncảng hoặc đình trệ sự nối liền của nhân quả, làm giảm sức mạnh của quả.Sự sống đa dạng và sáng tạo là nhờ duyên. Như vậy duyên đóng vai tròđiều chỉnh (modulation) nhân-quả. Thí dụ dễ hiểu là khi ta gieo hạt lúa(nhân) trong đồng ruộng ẩm ướt phì nhiêu (duyên) vài tháng ta sẽ cónhững cọng lúa xanh mượt (quả). Nếu có người lữ hành băng qua sa mạc vàlàm rơi một hạt lúa thì ngàn năm sau hạt lúa đó vẫn là hạt lúa (nghịchduyên). Nếu hạt lúa đó được gió thổi rơi vào một nơi ẩm ướt trên sa mạcthì hạt lúa sẽ mọc thành cọng lúa nhưng rất yếu ớt vì thiếu phân bón.Như thế ta thấy rằng cùng một nhân, qua nhiều duyên khác nhau sẽ cho takết quả khác nhau. Thực tế nhân quả không đơn giản như trên mà hoạtđộng như một mạng lưới nhện (web).

Một nhân có thể là khởi đầu của một chuỗi phản ứng (chain ofevents). Những yếu tố duyên tác động lên chuổi phản ứng đó để cho ranhiều kết quả ở nhiều từng lớp khác nhau. Thí dụ: Có một người vì lòngtham (nhân) phá rừng bán gỗ làm lợi nhuận cho riêng mình. Trời mưa,không có rễ cây hút nước (duyên) nên tạo thành lụt (quả), loài chim mấtmôi sinh (duyên) dời đi nơi khác (quả). Không có chim ăn (duyên) nênsâu bọ lan tràn đồng ruộng (quả). Không có cây hút thán khí (CO²) nêntừ đó khí hậu bị ô nhiễm. Một nhân thiếu sáng suốt sẽ gây ra rất nhiềuhậu quả tai hại về sau mà ta khó có thể lường trước được.

Giới luật là nhằm biến đổi cái duyên để cho cái nhân tham, sân và sikhông có cơ hội để biến thành quả dữ (tham-ăn trộm, sân-giết chóc,si-đau khổ). Xuất gia là tránh xa những duyên có thể dẫn đến quả dữ vàgần gũi với những duyên khuyến khích quả lành được biểu hiện. Tuy nhiênthay đổi duyên ở thế giới vật chất không bền vững lắm. Thí dụ lòng thamtiền có thể biến thành tham chùa mình được đẹp nhứt, sân (giận) có thểbiến thành bực bội khi đệ tử quên chấp tay xá mình, và si là chấp vàothời gian tụng kinh mà không hiểu ý kinh tạo ra sự tranh chấp hơn thua.Cho nên vào cảnh tịnh mà còn giữ mầm mống tham, sân, si thì cảnh tịnhđó sẽ trở nên cảnh ưu phiền.

Thiền tông chú trọng đến cái duyên ở tâm là tư tưởng. Tham, sân, simà không có tư tưởng để nuôi dưỡng chúng thì dần dần sẽ tự tiêu mòn.Cho nên giữ giới nơi tâm thì hiệu nghiệm hơn là giữ ở thân hay cảnh.Nếu tâm ta nuôi dưởng sự bực dọc mà miệng thì tụng kinh thì khó có thểmà ta có được hạnh phúc vì càng tụng kinh, càng mệt mỏi thì sự bực dọccàng nhiều hơn nữa. Một trong những phương pháp thiền là ta nhận thứcsự bực bội và từ bi hỷ xả phóng sanh nó ra theo từng hơi thở nhẹ nhàngrồi dần dần sự bực bội đó sẽ tan biến. Đó là một cách “tụng kinh sống”hữu hiệu nhứt. Tụng kinh sống là tụng ý (thay vì chữ) kinh trong từnghơi thở, trong lúc đi, đứng, nằm và ngồi. Nói một cách khác, thiền haytụng kinh sống là khi ta ý thức không tạo cái duyên nuôi dưỡng tham,sân, si trong tâm ta. Nếu ta không nuôi chúng thì tự động chúng sẽ rờibỏ ta. Rồi ta sẽ trở về sống với con người hạnh phúc của ta.

Nhân quả và Thiên Chúa giáo.

Mặc dù Thiên Chúa giáo không đề cập nhân quả một cách trực tiếpnhưng tất cả những câu chuyện trong Thánh kinh đều khuyên răng conchiên hãy củng cố lòng tin Chúa, thương người, giúp đỡ xã hội thì sẽđược cuộc sống hạnh phúc trong vĩnh cửu. Nói một cách khác Chúa khuyêncon chiên tạo nhân lành (lòng tin, thương người, tha thứ), tạo duyênlành (xây dựng một xã hội lấy nền tảng là sự yêu thương đùm bọc lẩnnhau, truyền đạo cho nhiều người được nhận thức) thì kết quả cuộc sốnghạnh phúc sẽ dễ được thực hiện trên thế gian này và nếu tất cả mọingười làm được thì sẽ được hạnh phúc trong vĩnh cửu.

Tuy nhiên có nhiều con chiên quá cuồng tín dùng sức mạnh áp đặt niềmtin lên kẻ khác và kết quả là hận thù và chiến tranh. Điều dễ hiểu làvì cái nhân là tham (muốn cá nhân mình được nhiều phước khi dẫn ngườikhác vào đạo), sân (bực tức khi người ta không theo đạo mình) và si mê(ngạo mạn coi đạo mình trên tất cả các đạo khác) thì kết quả sẽ làchiến tranh và đau khổ. Vấn đề này không hẳn xảy ra ở đạo Chúa mà còngặp ở nhiều tôn giáo khác hoặc ngay cả ở đạo Phật (phái này chê baiphái khác). Đó là vì con người mê lầm không chữa trị cái tham, sân sinơi chính mình mà muốn thay đổi thế gian. Muốn cái quả khác cái nhânthì không bao giờ có được. Nếu có kẻ nào nói làm được hẳn là họ tự gạtchính họ, sống trong ảo tưởng u mê. Tôn giáo cũng như thuốc, trị đúngbịnh thì thuốc hay, dù có thuốc quý mà dùng sai bịnh thì thuốc quý cóthể thành độc dược. Vì thế không thể nói thuốc này hay hơn thuốc kiađược. Đạo Phật có thí dụ ngón tay (phương tiện) chỉ mặt trăng, nếu ta ởnhiều nơi khác nhau thì ngón tay sẽ chỉ nhiều hướng khác nhau, nhưngkhi nhìn thấy mặt trăng (cứu cánh) thì chỉ có một.

Tác động trên tâm lý của Thiên Chúa giáo là dùng tình thương ngườivà sự tha thứ tạo cái duyên lành làm giảm bớt ảnh hưởng của hoàn cảnhxấu (quả). Nếu ta tin vào một Thượng Đế công bằng bác ái ở bất cứ mọinơi và mọi lúc, thì ta giao phó cho Ngài xử phạt những bất công trongcuộc đời ta. Như thế ta không mất ngủ bực tức tìm cách trả thù hay tìmnhững lời nói đâm thọc xỏ xiêng. Với lòng tin đó ta sẵn sàng tha thứ kẻmuốn ám hại ta, tâm ta được an ổn và ta gieo rắc sự an ổn đó cho nhữngngười chung quanh ta. Làm được như vậy, mặc dù ta không mở miệng truyềngiáo nhưng sẽ có rất nhiều người theo vì họ mến ta. Như thế lời cầunguyện hữu hiệu nhứt phát xuất từ tư tưởng tha thứ thương yêu chớ khôngphải từ miệng nói tiếng thương yêu trống rỗng. Giáo đường chân thật củamột linh mục hay mục sư là sự an ổn của con chiên khi họ cảm nhận đượctình thương và sự tha thứ chân tình qua hành động của vị mục sư đó, chớkhông phải cái giáo đường bằng ngói, bằng gạch. Cái giáo đường vật chấtkhông bao giờ làm ấm được lòng người. Ta không thể nào gieo rắc sự anlành chung quanh ta nếu ta không có cái nhân của sự an lành đó trongtâm ta. Ta có thể dối chính ta chớ không thể dối với Thượng Đế và luậtnhân quả được.

Nhân quả và y khoa.

Tuy nhân quả xuất xứ từ Phật giáo nhưng không hạn chế ở phạm vi tôngiáo. Hiểu được nhân quả giúp ta rất nhiều trong việc phòng ngừa bịnhtật. Trong Đông Y có câu người y sĩ giỏi trị bịnh lúc mà bịnh chưa pháttriển. Y khoa hiện đại cũng đồng ý với vấn đề ngừa bịnh hơn là chữabịnh. Cách tốt nhứt cho con người về vấn đề sức khỏe và xã hội về vấnđề tài chánh là thay đổi cuộc sống để ngừa bịnh. Muốn ngừa bịnh (quả)ta phải hiểu cho ra lẽ những yếu tố gây ra bịnh (nhân), tìm cách làmsuy giảm những nguyên nhân gây ra bịnh, tìm cách không tạo duyên xấu đểcho hậu quả bịnh dễ xảy ra và củng cố những duyên lành để ngăn ngừabịnh.

Bây giờ ta hiểu nguyên nhân của nhiều chứng bịnh là do vi trùng(bacteria) và vi khuẩn (virus) có kích thước nhỏ hơn vi trùng gây ra.Để làm suy giảm những nguyên nhân tạo ra bịnh, những nhà thuốc sáng chếra các loại thuốc trụ sinh. Sự ỷ y có thuốc trụ sinh để trị bịnh màkhông cần phòng ngừa hoặc dùng thuốc trụ sinh một cách không phân biệtđưa đến sự ra đời của những siêu vi trùng (“super bugs”) có sức khángtrụ sinh. Về phần bịnh nhân phải ráng ăn ở vệ sinh để không tạo cáiduyên cho những loại vi trùng xâm chiếm cơ thể họ. Vaccine (chích ngừa)là cách phòng ngừa bịnh bằng cách dùng bộ kháng nhiễm (immune system)để chống lại bịnh. Vaccine là một cách thay đổi duyên làm cơ thể khôngthuận cho sự phát triển của bịnh. Một cách ngừa bịnh khác nữa là ta ănở vệ sinh, tìm cách tránh những nơi dễ gây ra bịnh tật là góp phần vàosự củng cố những duyên không thích hợp cho bịnh phát triển. Thực tế, takhông thể nào diệt trừ được tất cả những nhân tạo bịnh mà cách dễ dàngnhất là biến đổi cái duyên không thuận cho bịnh-quả phát triển. Conđường trị bịnh bằng cách diệt trừ nhân một cách hoàn toàn rất nguy hiểmvì có thể đưa đến sự mất cân bằng môi sinh và có thể tạo nhiều mối hiểmnguy khác. Thí dụ như khi ta đi du lịch ở những nước khác dễ bịnh tiêuchảy vì ở điều kiện ta sống không có loại vi trùng đó (nhân bị diệt)nên cơ thể ta không có chất miễn nhiễm, dễ sanh ra bịnh. Đứng trênphương diện năng lượng (sức lực, thời gian, tài chánh), dùng duyên đểphòng ngừa quả là áp dụng năng lượng một cách hữu hiệu nhứt.

Nhân quả và tâm lý học.

Stress, sự căng thẳng tinh thần, là vấn đề lớn của thời đại. Stresscó thể coi như cái cửa mở cho nhiều bịnh tật vào thân thể ta. Nhữngtriệu chứng khởi đầu của stress là lo âu, bực bội và mất ngủ. Ngoài ranhức đầu, buồn nôn, mất ăn, cao máu với nhịp tim đập nhanh cũng có thểlà một triệu chứng của stress nửûa. Thuở xưa, Đức Phật có cho một thídụ rất thích hợp với stress ngày nay. Thí dụ rằng có một người bị mũitên bắn bi thương. Người đó lo âu muốn biết mũi tên này từ đâu tới, aibắn, lý do nào bắn, rồi lo sợ cho tính mạng, không biết vết thương nhưthế nào…người đó cứ mải lo mà quên tìm cách tháo gỡ mũi tên ra. Tínhchất của lo âu là nó không bao giờ chịu dừng ở hiện tại mà lại có chiềuhướng lẩn quẩn ở quá khứ hoặc tương lai. Chính vì vậy mà sự lo âu ngàycàng tăng vì khi tư tưởng lẩn quẩn ở quá khứ và tương lai thì ta sẽkhông giải quyết được vấn đề và tình trạng vô định đó tạo nên cái duyênlàm cho lo âu càng lớn dần.

Một khoa tâm lý trị liệu (psychotherapy) trị stress là Cognitivebehavioral psychotherapy, tạm dịch là tâm lý trị liệu qua nhận thức. Tanhận thức ta có những tư tưởng sai lầm dẫn đến sự lo âu đau khổ (1),quán xét kỹ càng rằng những tư tưởng đó không có liên hệ ở thực tế (2),sau cùng thay thế vào đó những tư tưởng thích hợp với thực tại hơn (3).Khi nhận thức thích hợp với thực tại thì ta sẽ tìm được biện pháp giảiquyết vấn đề một cách hữu hiệu và từ đó nhẹ gánh lo âu. Thí dụ anh A cótriệu chứng hay lo (general anxiety disorder). Khi bị chủ sở phê bình,anh về ngủ không được, liên tưởng đến ngày mai mình sẽ mất việc, khôngcó tiền trả tiền nhà, vợ anh sẽ bực bội bỏ anh (1)… Qua khâu tâm lýtrị liệu, anh kiểm duyệt lại thực tế thì không thấy có dấu hiệu nào chủsở sẽ đuổi anh, chủ anh chỉ muốn anh sửa khuyết điểm nhỏ mà thôi, vợchồng lúc nào cũng hòa thuận(2)… Khi nhận thức như vậy, anh cảm thấyyên tâm và hiểu rằng mình có phản ứng quá đáng (3). Khi nhìn ở khíacạnh nhân duyên quả, thì khi anh nhận thức rằng cái nhân sai lầm khôngquan trọng lắm, không để những tư tưởng lo âu thổi phồng sự thật(nghịch duyên), và anh tìm cách học hỏi trao giồi nghề nghiệp thì kếtquả sẽ tốt đẹp. Như thế hiểu được nhân quả thì cuộc sống ta sẽ nhẹ gánhlo âu.

Tóm lại

Nhân quả không phải là một khái niệm tôn giáo (dogma) mà là một quyluật thiên nhiên (natural law) ảnh hưởng thế giới nội tâm và thế giớivật chất. Nhân quả còn là một lực (force) gắn liền hai biến cố với nhauqua không gian và thời gian.

Ta khó có thể thay đổi nhân ở quá khứ, nhưng điều dễ làm là thay đổiduyên ở hiện tại để quả dữ khó có thể biểu hiện được. Ở thế giới vậtchất, duyên lành là bạn tốt, nơi chốn yên tịnh (chùa, nhà thờ, hocđường…). Ở thế giới tâm lý, duyên lành là ý muốn học hỏi, trao giồitrí tuệ, cố giữ lòng nhân từ, bác ái và tha thứ. Gần duyên lành thì quảxấu khó thể hiện hoặc thể hiện một cách yếu ớt hơn.

Nếu ta còn giữ tâm tham, sân, si làm nhân và nuôi dươnõg những tưtưởng tham,sân, si (ác duyên) thì không bao giờ biến đổi được cuộc sốnghay xã hội một cách tốt lành được (quả). Cảnh lúc nào cũng hiện theotâm. Người mang tâm xấu lên thiên đàng sớm muộn gì cũng biến cảnh thiênđàng thành địa ngục.

Hiểu được nhân quả thì ta nắm giữ được chìa khóa mở cửa tự do trongđời ta và giúp ta làm chủ lấy cuộc đời. Không hiểu nhân quả thì ta sẽsống trong mê tín dị đoan hay trong sự lo âu của cuộc sống vô định, bắpbênh.

Hiểu được nhân quả giúp ta định hướng dễ dàng và có một hướng đi và một quan niệm sống vững chắc trước mọi hoàn cảnh khó khăn.