Hiệu ứng Lười biếng xã hội

0
110

Năm 1920 Max Ringelman – một giáo sư kỹ thuật người Pháp đã đề nghị mộtnhóm những người đàn ông kéo hết sức họ có thể một dây có nối với mộtdụng cụ đo lường để đo lực kéo của họ. Không có gì đáng ngạc nhiên làtổng số lực kéo tăng lên khi số thành viên trong nhóm tăng. Song đángngạc nhiên là lực trung bình thể hiện sự cố gắng của mỗi người trongnhóm đã giảm xuống khi số thành viên trong nhóm tăng. Kết quả thu đượccho thấy, khi kéo một mình, lực kéo trung bình của mỗi người là 63 kg,lực trung bình giảm xuống còn 53 kg khi trong nhóm có 3 người, và giảmđến 31 kg khi trong nhóm có 8 người.

Hiện tượng này được Latane, Wiliams và Hankin đặt tên là hiệu ứng “Lười biếng xã hội”.

Một câu hỏi đặt ra là tại sao việc thực hiện công việc với những người khác lại làm giảm sự cố gắng của mỗi người?

Với lý thuyết tác động xã hội, Bibb Latane và các cộng sự cho rằng bấtkỳ áp lực nào đối với nhóm cũng được “khuyếch tán” đến các thành viêncủa nhóm. Như vậy, khi mà số thành viên trong nhóm tăng lên, mỗi ngườisẽ cảm thấy phải chịu một áp lực ít hơn. Ngoài ra, khi mọi người làmviệc cùng nhau thì họ có thể có xu hướng tin rằng sự cần thiết nỗ lựccủa cá nhân sẽ giảm đi. Và kết quả cuối cùng của hiệu ứng “Lười biếngxã hội” là năng xuất, hiệu quả làm việc của nhóm giảm.

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu sau này đã chỉ ra rằng, hiện tượng “Lườibiếng xã hội” chỉ xẩy ra khi mà các chủ thể nghĩ rằng công việc khôngquan trọng và không ai theo dõi việc thực hiện công việc đó. Ngoài ra,hiện tượng này còn chịu tác động của các đặc điểm văn hoá của cá nhân -thành viên của nhóm. Người ta thấy rằng, ở các nước có định hướng nhómnhư Nhật Bản, Trung Quốc thì hiệu quả của hiện tượng “Lười biếng xãhội” có thể bị đảo ngược: Việc làm việc theo nhóm ở những nước này cóthể làm tăng hiệu quả thực hiện một số công việc mà ở những nước cóđịnh hướng cá nhân lại xẩy ra hiện tượng ngược lại: hiệu quả công việcgiảm xuống.

Việc nghiên cứu hiệu ứng “Lười biếng xã hội” rất có ý nghĩa trong thựctiễn cuộc sống. Chẳng hạn, người ta có thể áp dụng các kết quả nghiêncứu hiện tượng này để xác định số lượng người trong đoàn bồi thẩm ở toàán, nhằm nâng cao hiệu quả làm việc của đoàn bồi thẩm. Ở Mỹ, một sốbang yêu cầu phải có 12 thành viên trong đoàn bồi thẩm, trong khi đómột số bang khác lại chỉ cần có 6 người. Trong một cuộc nghiên cứu,người ta đã tạo ra một bối cảnh xét xử giả tạo và so sánh hiệu quả làmviệc của hai loại đoàn bồi thẩm: đoàn có 12 thành viên và đoàn có 6thành viên. Theo lý thuyết tác động xã hội, có thể dự đoán rằng đoànbồi thẩm có 12 người sẽ làm việc kém hiệu quả hơn. Kết quả nghiên cứucho thấy, các thành viên trong đoàn bồi thẩm 12 người thiếu nhiệt tìnhtrong công việc xem xét các bằng chứng chống lại bị cáo và họ không xemxét kỹ các bằng chứng đó một cách có phê phán. Khi mà các bằng chứngchống lại bị cáo tỏ ra rất có sức thuyết phục thì trong đoàn 12 ngườitỷ lệ thành viên bỏ phiếu tán thành việc kết tội bị cáo ít hơn so vớiđoàn có 6 thành viên (tính theo tỷ lệ phần trăm). Còn khi các bằngchứng tỏ ra thiếu sức thuyết phục thì trong đoàn bồi thẩm 12 người tỷlệ số người chần chừ bỏ phiếu cho việc tha bổng bị cáo lại nhiều hơn.

Hoa Lê (Viện TLH)