Có 3 Lý Nam Đế?

0
134

Trần Thái Tông ngẫu hứng xuất ngoại

Có lần vua Trần Thái Tông đi tuần biên giới, có lẽ nổi hứng muốn biếtbên ngoài thế nào bèn đi sâu vào địa giới nước Tống, qua Khâm Châu,Liêm Châu tự xưng là Trai lang. Để tiện cho việc tuần thú, ông bỏthuyền bè lại chỉ dùng thuyền Kim Phượng và Nhật Quang (Đại Việt sử ký toàn thư).Khi biết đó là vua nước Nam, người Tống liền chăng xích sắt trên sôngđể chặn đường. Vua trở về, nhổ vài chiếc cọc sắt đem theo (có lẽ để làmkỷ niệm chăng?).

Chuyến “xuất ngoại” ngẫu hứng này của vua Trần Thái Tông bị sử sách chêcười:  Bất quá mu”ốn xem sông núi ở nội địa Tống, cho là người Tốngkhông làm gì được, chung quy vì sự đi chơi này mà gần bị người Tống làmkhốn; thoát được miệng hùm là may đó” (Việt sử tiêu án).

Mạc Thái Tổ bị nhổ vào mặt

Mạc Thái Tổ, tức Mạc Đăng Dung, vốn xuất thân làm nghề đánh cá, vì cósức khỏe lại giỏi đánh vật nên được vào làm lính hầu cận cho vua, saudần lên đến chức đại thần lớn trong triều đình nhà Lê. Tháng 6 năm ĐinhHợi (1527), Mạc Đăng Dung giết vua, cướp ngôi của nhà Lê lập ra nhà Mạc.

Nhiều quan lại trung thành với nhàLê, người thì nổi binh chống Mạc, người thì tự vẫn để tỏ khí tiết;người thì ở ẩn tỏ thái độ bất hợp tác. Trong số đó có Nguyễn Thái Bạt,đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn (1520), làm quan đến chức Hiệu lý Hàn lâmviện. Ông bị Mạc Đăng Dung bắt ép phải vào triều kiến. Tức giận kẻ cướpngôi, Nguyễn Thái Bạt giả vờ mắt kém xin đến gần để được nhìn vua mớirõ hơn, nhân thế ông nhổ nước bọt vào mặt Mạc Đăng Dung rồi lớn tiếngchửi mắng đến khi bị giết; đời sau có nhiều tác phẩm ca ngợi nghĩa khícủa ông.

Lê Chiêu Thống bị lột mất hoàng bào

Lê Chiêu Thống lên ngôi tháng 8 năm Bính Ngọ (1786), ở ngôi 2 năm. Ônglà vị vua gặp nhiều bất hạnh, quyền hành hạn chế trong thời kỳ xã hộicó nhiều loạn lạc.  Năm Đinh Mùi (1787) quân Tây Sơn tấn công ra Bắc Hàđể diệt quyền thần Nguyễn Hữu Chỉnh, vua Lê Chiêu Thống hoảng hốt bỏchạy sang Kinh Bắc (Bắc Ninh ngày nay).

Trước cảnh thất thế của vua, viên quan Trấn thủ Kinh Bắc là Lê CảnhThước cáo bệnh không chịu đón tiếp, sau đó lại còn “tung chân tay rachặn đường cướp bóc những người đi theo xa giá, chúng còn đuổi theo đòilột hoàng bào của nhà vua. Nhà vua rớt nước mắt mà cởi ra để trao chochúng” (Hoàng Lê nhất thống chí).

Tự Đức – vị vua có hiếu nhất nhưng không có con, bị coi là “đại bất hiếu”

Vua có hiếu nhất là Tự Đức (1848-1883). Trong suốt 36 năm trên ngaivàng, ông bao giờ cũng dành ngày chẵn vào cung vấn an sức khỏe mẫu hậu,ngày lẻ thì lo việc triều đình, chẳng vì ngồi trên chỗ vạn năng quyềnthế mà lơ là phận làm con. Khi vào thì sửa mình, nén hơi, quỳ xuống hỏithăm sức khỏe rồi cùng mẹ bàn luận kinh sách. Bà Từ Dũ được vua sănsóc, tôn kính, vâng lời hết mực, bà truyền bảo điều gì đáng lưu tâm,vua liền ghi ngay vào cuốn sách nhỏ luôn mang theo mình gọi là “Từ huấnlục” (sách chép lời mẹ dạy) để nghiền ngẫm, suy nghĩ.

Không những thế, có gì lo âu vua liền thỉnh ý để được nghe ý kiến củamẹ, chính vì thế bà Từ Dũ đã từng đề nghị giảm thuế má cho dân vàonhững khi gặp thiên tai, mất mùa, đói kém, nhà vua đều làm theo. Có lầnvua ham săn bắn, gặp nước lụt chảy mạnh bất ngờ, nên về cung muộn trongkhi sáng hôm sau là ngày giỗ vua Thiệu Trị, bà Từ Dũ phải cho người điđón. Đến cung, trời còn mưa to nhưng vua đi kiệu trần vội vào gặp mẹxin chịu tội, ông lấy roi mây dâng lên rồi tự nằm xuống xin chịu đòn,bà Từ Dũ tha cho mới dám đứng dậy.

Xem thế, đủ biết vua Tự Đức thờ mẹ rất chí hiếu, thế nhưng theo dângian thì vua cũng là người bất hiếu vì quan niệm rằng “Bất hiếu hữutam, vô hậu chi đại” (Nghĩa là: Có 3 điều bất hiếu, không có con làđiều nặng nhất). Tự Đức có rất nhiều vợ nhưng ông lại không có ngườicon nào, thậm chí vua còn hạ cố lấy một bà sinh được nhiều con để hivọng có được người nối dõi nhưng cuối cùng vua chỉ còn cách là đànhnhận mấy người cháu làm con, ngay cả bài văn bia dựng ở lăng mộ mìnhcũng do vua tự viết.

Phùng Hưng dùng tiếng hò reo để hạ thành của giặc

d
Lăng mộ Phùng Hưng

Căm giận sự tham lam, tàn bạo của bọn đô hộ nhà Đường, một hào trưởngngười Đường Lâm (nay thuộc Sơn Tây, Hà Nội) là Phùng Hưng đã đứng lênphát động khởi nghĩa. Ông đem quân đánh phá nhiều nơi, bọn quan quânnhà Đường chống không nổi kéo nhau chạy về phủ đô hộ Tống Bình (nay làHà Nội).

Quân khởi nghĩa chia làm 5 đạo bao vây Tống Bình, tên quan đô hộ CaoChính Bình đóng chặt cửa thành không dám ra đánh. Phùng Hưng liền choquân reo hò ầm trời giả cách sắp đánh thành; cứ liên tục như vậy làmquân Đường “ăn không ngon, ngủ không yên” lúc nào cũng trong trạng tháinơm nớp kinh hoàng. Cao Chính Bình sợ phát ốm rồi chết, quân giặc khôngđánh mà tan phải xin hàng, Phùng Hưng chiếm lĩnh phủ thành, lên làmvua.Nhân dân suy tôn ông là Bố Cái đại vương.

Trần Dụ Tông mở sòng bạc tại cung đình

Chỉ ham vui chơi, không màng đến triều chính, Trần Dụ Tông thậm chí mởsòng để bài bạc trong cung. Sử chép rằng vua “họp các nhà giàu như làngĐình Bảng ở Bắc Giang, làng Nga Đình ở Quốc Oai vào cung đình đánh bạclàm vui, một tiếng bạc nghìn quan tiền…” (Việt sử tiêu án).

Sử sách đã lên án mạnh mẽ việc làm này của vua, nhà sử học Phan PhuTiên nhận xét: “…Dụ Tông công nhiên làm bậy, gọi những nhà giàu vàocung đánh bạc rồi sau người trong nước bắt chước cái dở ấy, không thểngăn cấm được nữa. Cuối cùng vì tệ đánh bạc mà mất nước (Đại Việt sử ký toàn thư); trong sách Việt sử tiêu án viết: “Làm vua một nước mà mở sòng đánh bạc để lấy hồ…thật đáng bỉ”.

Có 3 Lý Nam Đế?

Năm Nhâm Tuất (542), một hào trưởng người Việt tên là Lý Bí phát độngkhởi nghĩa và chỉ trong vòng ba tháng đã quét sạch quân đô hộ nhà Lươngra khỏi bờ cõi. Sau đó ông lên ngôi hoàng đế, xưng là Lý Nam Đế, đặtquốc hiệu là Vạn Xuân, đến năm Mậu Thìn (548) trước khi mất, ông traoquyền lại cho Triệu Quang Phục (hiệu là Triệu Việt Vương).

Năm Đinh Sửu (557) một tướng cũ của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đem quânđánh Triệu Việt Vương để giành quyền lại cho họ Lý nhưng không thành,hai bên giảng hòa. Năm Tân Mão (571), Lý Phật Tử bất ngờ cho quân đánhúp, Triệu Việt Vương bị đại bại phải tự vẫn. Lý Phật Tử liền lên ngôicũng xưng là Lý Nam Đế,  để phân biệt với Lý Bí, sử cũ gọi Lý Phật Tửlà Hậu Lý Nam Đế.

Theo chính sử, năm Nhâm Tuất (602), giặc Tuỳ sang xâm lược, Hậu Lý NamĐế chống không nổi phải đầu hàng rồi bị bắt đưa về phương Bắc, kết thúc31 năm làm vua; tuy nhiên theo sách Việt điện u linh thì “Hậu Lý Nam đếlàm vua 23 năm, sau bị phó tướng là Lưu Đức diệt”. Khác với chính sử,một số tư liệu dã sử thì cho biết người quân Tùy bị bắt không phải làLý Phật Tử (Hậu Lý Nam Đế) mà là một vị vua khác cũng xưng hiệu là LýNam Đế, đó là Lý Sư Lợi, con trai thứ của Hậu Lý Nam Đế. Lên làm vuađược mấy năm, chỉ ham ăn chơi hưởng lạc vì thế vị Hậu Lý Nam Đế thứ 2này khi giặc chưa đánh đã xin hàng rồi bị bắt làm tù binh. Ông tự chuốcnhục vào thân, làm nước mất nhà tan.

Lê Thái Dũng (bee)