Khái quát về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại Việt Nam

Phap Ngo Thich
Văn bản gốc Khái quát về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại Việt Nam Nguồn gốc hình thành giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Làng Hoà Hảo là một địa danh được hình thành...

Văn bản gốc

Khái quát về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại Việt Nam

Nguồn gốc hình thành giáo hội Phật giáo Hòa Hảo

Làng Hoà Hảo là một địa danh được hình thành từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nằm gần biên giới Việt Nam - Campuchia, thuộc quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, ngày nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Từ xa xưa, nơi đây cùng với vùng núi Thất Sơn hợp thành “Châu Đốc Tân Cương” được coi là nơi biên viễn xa xôi hiểm trở của miền Tây Nam Bộ.

Người sáng lập ra Phật giáo Hòa Hảo là ai?

Người sáng lập Phật giáo Hòa Hảo là ông Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) sinh tại làng Hoà Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) là con thứ tư trong gia đình nhưng là con trai trưởng của ông Huỳnh Công Bộ (Hương Cả Bộ) và bà Lê Thị Nhậm. Sau khi tốt nghiệp tiểu học ông phải bỏ học vì mắc nhiều bệnh. Quá trình lên núi chữa bệnh cũng là thời kỳ ông bắt đầu học đạo, học làm thuốc. Khi chưa tròn 18 tuổi, ông tuyên bố mình là bậc “Sinh nhi tri”, biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và “đưa nhơn loại đi vào vòng hạnh phúc”. Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc nam do ông kê hoặc nước lã, giấy vàng, lá xoài, lá ổi, hoa mẫu đơn, hoa cúc vạn thọ, đồng thời qua đó ông truyền dạy giáo lý bằng những bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.

Khái quát về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại Việt Nam

Ngày 18/5 năm Kỷ Mão (tức ngày 04/7/1939), ông Huỳnh Phú Sổ tổ chức lễ khai đạo tại tư gia, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo - nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo do mình sáng lập là “Phật giáo Hòa Hảo”. Sau đó, ông được tín đồ Phật giáo Hòa Hảo suy tôn là “Thầy tổ”, và được gọi “Đức Tôn Sư”, “Đức Thầy”, “Đức Huỳnh Giáo chủ”.

Quá trình phát triển của Phật giáo Hòa Hảo

  • Giai đoạn từ ngày thành lập đạo (1939) đến trước năm 1975 Đối với tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, ông Huỳnh Phú Sổ trở thành Đức Phật hoá kiếp, là Phật sống vì những việc làm và lời lẽ “siêu phàm”. Chính trong khoảng thời gian ngắn này, ông Huỳnh Phú Sổ đã cho ra đời 6 tác phẩm trong “Sấm giảng giáo lý”. Bối cảnh xã hội phức tạp của không khí chiến tranh thế giới lần thứ hai đã ảnh hưởng đến cá nhân ông Huỳnh Phú Sổ và ảnh hưởng đến sự phát triển của Phật giáo Hòa Hảo. Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của Phật giáo Hòa Hảo: giáo lý tiếp tục được hoàn chỉnh; nghi lễ tôn giáo được hình thành và ổn định, đặc biệt là việc phát triển số lượng tín đồ. Từ năm 1947, Phật giáo Hòa Hảo chuyển sang một thời kỳ mới - thời kỳ phát triển có tổ chức hành chính đạo. Năm 1964, Ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo nhiệm kỳ I do ông Lương Trọng Tường là Hội trưởng chính thức hoạt động. Sau 25 năm, từ khi ra đời, đây là mốc mở đầu cho thời kỳ Phật giáo Hòa Hảo có tổ chức hành chính đạo.

Khái quát về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại Việt Nam

  • Giai đoạn từ năm 1975 đến tháng 5/1999 (giai đoạn trước khi Phật giáo Hòa Hảo được công nhận tư cách pháp nhân) Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giữa năm 1975 đại diện Tổ đình là bà Huỳnh Thị Kim Biên và ông Huỳnh Văn Quốc ra thông cáo giải tán Ban Trị sự các cấp của Phật giáo Hòa Hảo. Kể từ thời điểm đó, tổ chức hành chính đạo của Phật giáo Hòa Hảo không còn, tuy nhiên, Phật giáo Hòa Hảo vẫn tồn tại thông qua hoạt động tôn giáo của từng cá nhân trong cộng đồng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo. Trong môi trường xã hội của chế độ mới, sự đạo của Phật giáo Hòa Hảo vẫn duy trì bình thường. Về đức tin, trong ý thức đông đảo tín đồ vẫn tồn tại biểu trưng của Phật giáo Hòa Hảo; Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ được coi là cội nguồn của đức tin; nhu cầu tôn giáo của tín đồ không suy giảm, họ tuân thủ giáo lý nguyên thuỷ và có biểu hiện thế tục hoá trong đời sống đạo.

  • Giai đoạn từ tháng 5/1999 đến nay (Giai đoạn từ khi được nhà nước công nhận tổ chức đến nay). Xuất phát từ nguyện vọng, nhu cầu chính đáng của đại đa số tín đồ, mong muốn có một tổ chức giáo hội để hướng dẫn, phổ truyền giáo lý Phật giáo Hòa Hảo cho bà con tín đồ tu học và có địa điểm hợp pháp để làm nơi hoạt động và sinh hoạt tôn giáo. Ngày 11/6/1999, Ban Tôn giáo của Chính phủ (nay là Ban Tôn giáo Chính phủ) ban hành Quyết định số 21/QĐ/TGCP về việc công nhận tổ chức và hoạt động của Ban Đại diện Phật giáo Hòa Hảo (nay là Ban Trị sự Trung ương giáo hội Phật giáo Hòa Hảo). Đây là một sự kiện đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa to lớn vừa thể hiện tính đúng đắn về chủ trương, chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, vừa tạo luồng sinh khí mới đối với đời sống tinh thần, tâm linh của toàn thể tín đồ Phật giáo Hòa Hảo. Đại hội đại biểu toàn đạo lần thứ II tháng 6/2004, đã xây dựng Hiến chương, tiếp tục khẳng định đường hướng hành đạo của Phật giáo Hòa Hảo trong giai đoạn mới là: “Vì đạo pháp, vì dân tộc”; kiện toàn tổ chức, bao gồm Ban Trị sự 2 cấp hành chính đạo: cấp toàn đạo và cấp cơ sở. Ban Trị sự trung ương Phật giáo Hòa Hảo - tổ chức đại diện hợp pháp duy nhất của đồng bào theo Phật giáo Hòa Hảo.

Khái quát về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại Việt Nam

Trải qua năm kỳ đại hội (hiện nay đang là nhiệm kỳ thứ V), Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo đã từng bước phát triển, trở thành tổ chức giáo hội 2 cấp hành chính đạo gồm có Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo và 400 Ban Trị sự xã, phường, thị trấn (cấp cơ sở), cùng 14 Ban Đại diện tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đến nay, Phật giáo Hòa Hảo có khoảng 1,5 triệu tín đồ, sinh sống ở 22 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó, chủ yếu tập trung ở 09 tỉnh miền Tây Nam bộ là: An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Hậu Giang, Tiền Giang, Long An và Kiên Giang.

Giáo lý Phật giáo Hòa Hảo

Giống như các tôn giáo khác, Phật giáo Hòa Hảo cũng có những lời giáo huấn, cầu nguyện, tiên tri do Đức thầy truyền dạy, chép thành từng cuốn gọi là Sấm giảng viết theo dạng thơ văn truyền ngôn, giản dị dễ nhớ. Kinh sách của Phật giáo Hòa Hảo bao gồm phần Sấm giảng giáo lý và phần Thi văn giáo lý. Phần Sấm giảng gồm 6 cuốn:

  • Cuốn 1: “Sấm giảng khuyên người đời tu niệm” được viết theo thể lục bát gồm 912 câu.
  • Cuốn 2: “Kệ dân của người khùng” được viết dưới dạng thơ thất ngôn, dài 846 câu.
  • Cuốn 3: “Sấm giảng” viết năm 1939, theo thể lục bát, dài 612 câu, trong cuốn này ông dạy người ta phải tu nhân đạo.
  • Cuốn 4: “Giác mê tâm kệ” viết năm 1939, thơ 7 chữ, dài 846 câu. Ông bắt đầu đề cập tới các khái niệm Phật giáo như Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Ngũ uẩn, Lục căn, Lục trần,… khuyên người đời tu theo Phật giáo, nhưng cốt lòng thành, không câu nệ hình thức, nghi lễ.
  • Cuốn 5: “Khuyến thiện” viết năm 1941, văn lục bát, 756 câu, kể chuyện Thích Ca ngộ đạo, luận khổ về tịnh độ, diệt ngã trược, trừ thập ác, hành thập thiện.
  • Cuốn 6: “Cách tu hiền và sự ăn ở của người bổn đạo”, được viết năm 1945 dưới dạng văn xuôi. Cuốn này bàn về cách tu của Phật giáo Hòa Hảo là tu tại gia, tức là học Phật tu nhân. Lý giải tại sao phải trả tứ ân, luận về tam nghiệp, Thập ác, về Bát chính đạo. Cuốn sách cũng quy định cách thờ phượng, hành lễ, những kiêng kỵ mà một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo phải tin theo. Cuốn sách là kết quả của một thời kỳ đạo đã hình thành, phát triển, có hệ thống tổ chức, giáo luật. Phần thi văn giáo lý bao gồm những bài thi văn xướng hoạ được tập hợp lại từ năm 1939 đến 1947, gồm 253 bài văn vần và văn xuôi. Như vậy, Phật giáo Hòa Hảo được coi là đạo Phật không thờ cốt Phật, Sấm giảng giáo lý chủ yếu dựa vào hình thức tín ngưỡng thần bí, vào các câu sấm giảng của Trạng Trình. Giáo lý của Phật giáo Hòa Hảo chứa đựng các tư tưởng của Nho, Phật, Lão bởi “Tứ ân” là một hình thức tam giáo mà tính trội thuộc về Nho giáo, thứ đến là Đạo giáo vì dùng phù phép trừ tà chữa bệnh, cuối cùng mới đến là Phật giáo (ân Tam bảo). Theo Phật giáo Hoà Hảo, tu nhân tạo nên công, học Phật tạo nên đức, có công có đức mới trở thành bậc hiền nhân.

Bài viết mới

Bạn đã từng nghe về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại Việt Nam chưa? Đây là một tôn giáo đặc biệt, với một lịch sử lâu đời và tín ngưỡng độc đáo. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng khám phá về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, từ nguồn gốc hình thành cho đến giáo lý và tổ chức.

Nguồn gốc hình thành giáo hội Phật giáo Hòa Hảo

Làng Hoà Hảo, một địa danh nằm gần biên giới Việt Nam - Campuchia, đã trở thành nguồn gốc hình thành Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo. Đây là một vùng đất xa xôi và hiểm trở thuộc tỉnh An Giang. Làng Hoà Hảo và khu vực núi Thất Sơn đã hợp thành "Châu Đốc Tân Cương", nơi được coi là biên viễn xa xôi của miền Tây Nam Bộ.

Người sáng lập ra Phật giáo Hòa Hảo là Huỳnh Phú Sổ, sinh năm 1920 tại làng Hoà Hảo. Ông Huỳnh Phú Sổ đã khám phá ra tận cùng "Sinh nhi tri" và có khả năng thấy được quá khứ và tương lai. Ông chữa bệnh cho người dân bằng thuốc nam và giảng dạy giáo lý. Từ đó, ông trở thành người sáng lập và truyền bá tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương, với mục tiêu Chấn hưng Phật giáo và cứu độ chúng sinh khỏi sự đau khổ.

Khái quát về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại Việt Nam

Quá trình phát triển của Phật giáo Hòa Hảo

Từ khi được sáng lập, Phật giáo Hòa Hảo đã trải qua những giai đoạn phát triển quan trọng.

Trong giai đoạn từ ngày thành lập đạo (1939) đến trước năm 1975, Phật giáo Hòa Hảo đã tiếp tục phát triển và trở nên nổi tiếng. Ông Huỳnh Phú Sổ đã viết sáu cuốn Sấm giảng giáo lý trong thời gian này.

Tuy nhiên, giai đoạn từ năm 1975 đến tháng 5/1999, Phật giáo Hòa Hảo đã gặp khó khăn khi tổ chức hành chính đạo không còn tồn tại. Tuy vậy, tín đồ Phật giáo Hòa Hảo vẫn tiếp tục thực hành tôn giáo của mình trong một môi trường xã hội mới.

Đến giai đoạn từ tháng 5/1999 đến nay, Phật giáo Hòa Hảo đã được công nhận và tổ chức đầy đủ. Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo và Ban Trị sự cấp cơ sở đã được lập để giúp việc tài chính và quản lý tổ chức.

Khái quát về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại Việt Nam

Giáo lý Phật giáo Hòa Hảo

Phật giáo Hòa Hảo có những giáo lý độc đáo và dễ nhớ. Các cuốn Sấm giảng giáo lý của ông Huỳnh Phú Sổ được viết dưới dạng thơ văn truyền ngôn. Ngoài ra, còn có các bài thi văn xướng hoạ và văn bản giáo lý.

Phật giáo Hòa Hảo cũng có các quy tắc đạo đức và giới luật. Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tuân thủ 8 điều răn của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, bao gồm việc không uống rượu, không làm việc xấu, không sử dụng tiền tài một cách vô lý, không nguyền rủa thần thánh và không ăn thịt động vật.

Khái quát về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại Việt Nam

Tổ chức Phật giáo Hòa Hảo

Phật giáo Hòa Hảo được tổ chức thành Ban Trị sự Trung ương và Ban Trị sự cấp cơ sở. Tất cả các Ban Trị sự đều có tư cách pháp nhân và có trách nhiệm quản lý tài chính. Ngoài ra, còn có Ban Đại diện Phật giáo Hòa Hảo tỉnh, thành phố và các ban chuyên ngành.

Từ khi được công nhận tổ chức, Phật giáo Hòa Hảo đã phát triển và trở thành một tổ chức giáo hội 2 cấp hành chính đạo.

Khái quát về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại Việt Nam

Đó là một số thông tin về Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo tại Việt Nam. Hy vọng bạn đã tìm thấy những thông tin hữu ích.

1