Giác Chúng Sanh Hữu Tình – Ngộ Nhập Phật Tri Kiến

Phap Ngo Thich
Phần thứ nhất: Pháp Hội Thành Tựu Một thưở nọ, Phật ở trong thành Tỳ Da Ly Đạt Ma, ấp Liêu Quách. Mười phương hướng về, bốn chúng vây quanh. Mở bày Chánh Kiến Vô...

Giác Chúng Sanh Hữu Tình

Phần thứ nhất: Pháp Hội Thành Tựu

Một thưở nọ, Phật ở trong thành Tỳ Da Ly Đạt Ma, ấp Liêu Quách. Mười phương hướng về, bốn chúng vây quanh.

Mở bày Chánh Kiến

Vô Ngại Bồ tát từ trong chúng đứng dậy, chấp tay hướng về phía Phật, cung kính thưa rằng:

  • Bạch Thế Tôn! Chúng sanh trong cõi Diêm phù đề nầy từ vô thủy đến nay, xoay vần sanh ra, lên miên không dứt, người hiểu biết thì ít, người thiếu trí thì nhiều, người niệm Phật thì ít, người cầu Thần thì nhiều, người giữ giới thì ít, người phá giới thì nhiều, người cố gắng thì ít, người biếng nhác thì nhiều, người trí tuệ thì ít, người ngu si thì nhiều, người sống lâu thì ít, người ngắn mạng thì nhiều, người thuyền định thì ít, người tán loạn thì nhiều, người giàu sang thì ít, người nghèo hèn thì nhiều, người dễ dạy thì ít, người cứng đầu thì nhiều, người thẳng ngay thì ít, người cong vạy thì nhiều, người trong sạch thì ít, người tham lam thì nhiều, người bố thí thì ít, người gian lận thì nhiều, người thành thật thì ít, người dối trá thì nhiều, tình đời cạn lợt, phép quan dữ tợn, thuế dịch nặng nề, trăm họ nghèo khổ, việc cầu khó được, do vì tin tà bỏ chính chịu khổ như vậy. Nguyện xin Thế Tôn vì những chúng sanh tà kiến, giảng dạy pháp chánh kiến, làm cho được hiểu ngộ, thoát khỏi các khổ.

Phật dạy:

  • Lành thay! lành thay! Vô Ngại Bồ Tát! Ông có lòng từ bi, vì những chúng sanh tà kiến mà hỏi Như Lai pháp Chánh kiến không thể nghĩ bàn. Ông hãy lắng nghe, khéo léo suy nghĩ, ta sẽ vì ông phân biệt giải nói kinh Thiên Ðịa Bát Dương. Kinh nầy chư Phật quá khư đã nói, chư Phật vị lai sẽ nói, chư Phật hiện tại đang nói.

Phàm trong trời đãt, thân người là trên hết, là quí nhất trong vạn vật. Nhơn là chơn, tâm không vọng niệm, thân làm việc chơn chánh. (Phảy) bên trái là Chơn, (nét) bên phải là Chánh, thường làm việc chơn chánh, nên gọi là nhơn. Do đó biết rằng con người có thể mở Ðạo, Ðạo nhuần nơi thân, cùng đạo cùng nhơn, bèn thành Thánh Ðạo.

Lại nữa, Vô Ngại Bồ Tát! hết thảy chúng sanh, có được thân người, không lo tu phước, bỏ thật theo giả, tạo các ác nghiệp, khi đến lúc chết, chìm đắm biển khổ, chịu các thứ tội, nếu nghe Kinh nầy, tâm tin không trái, liền được giải thoát các nạn do tội gây ra, ra khỏi biển khổ, thiện thần bao vệ, không các chướng ngại, tốt lành ích thọ, không bị chết yểu. Do lòng tin tưởng, được phước như vậy, huống lại có người chịu khó biên chép, nhận lãnh tụng đọc, đúng pháp tu hành, công đức người nầy không thể nói được, không thể đo lường, không có ngần mé, sau khi thọ hết, thành tựu Phật đạo.

Phật bảo Vô Ngại Bồ Tát Ma Ha Tát:

  • Nếu có chúng sanh, tin tà thấy ngược, liền bị tà ma, ngoại đạo, li, mị, vọng, lượng, chim kêu, trăm quái, các quỷ thần ác, đến gần làm hại, các loại bệnh hiểm, chịu các bệnh khổ không lúc nào dừng, đọc Kinh (nầy) ba biến, các ác quỷ ấy thảy đều tiêu diệt, các bịnh tiêu trừ, thân mạnh sức đủ. Công đức đọc Kinh được phước như vậy.

Nếu có chúng sanh bị nhiều dâm dục, sân giận, ngu si, tham lam đố kỵ, nếu gặp Kinh nầy, tin tưởng cúng dường, tụng đọc ba biến, các ác ngu si thảy đều tiêu diệt, từ bi hỉ xả, được vào Pháp Phật.

Lại nữa Vô Ngại Bồ Tát! Nếu thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhơn, làm pháp hữu vi, trước hết tụng đọc Kinh nầy ba biến, phá tường động thổ, xây dựng nhà cửa, nhà nam nhà bắc, chái đông chái tây, nhà bếp, nhà khách, cửa cổng giếng bếp, chày, thang, kho chứa, chuồng nuôi lục súc, Nhựt Du Nguyệt Sát Tướng quân, Thái Tuế, Hoành phan, Báo vĩ, Ngũ thổ địa kỳ, Thanh long, Bạch hổ, Châu tước, Huyền vũ, lục giáp cấm kỵ, mười hai thời thần, Thổ úy, Phục long, tất cả quỉ mị, thảy đều lẩn trốn, rời xa bốn phương, hình tiêu bóng diệt, không đến làm hại, tốt lành rất lớn, được phước vô lượng.

Thiện nam tử! sau khi khởi công, chỗ ở mãi yên, đất nhà bền bỉ, giàu sang tốt đẹp, không cầu tự có. Nếu có đi xa, đi lính, làm quan, được nhiều lành tốt, cửa nhà hưng thịnh, người được sang quí, con cháu đông vầy, cha hiền con hiếu, trai trung gái trinh, anh nhường em nhịn, vợ chồng hòa thuận, tín nghĩa đốc thân, mong cầu thành tựu. Nếu có chúng sanh, bị huyện bắt giam, giặc cắp rình rập, đọc Kinh (nầy) ba biến tức được giải thoát.

Nếu thiện nam tử, hay thiện nữ nhơn, nhận lãnh đọc tụng, vì người biên chép Kinh Bát Dương nầy, khi vào lửa nước, không bị đốt, trôi, nếu tại núi rừng, cọp sói ẩn dấu, không bị tám họa, thiện thần bảo vệ, thành Vô Thượng Ðạo.

Lại nếu có người nói lời dối trá thêu dệt đủ điều, lời ác hai lưỡi, nếu hay thọ trì đọc tụng kinh nầy, trừ được bốn tội, được bốn vô ngại biện, thành được Phật Ðạo.

Nếu người thiện nam, hay người thiện nữ, cha mẹ có tội, đến ngay lâm chung phải đọa địa ngục, chịu vô lượng khổ, các con các cháu tụng đọc kinh nầy cho đến bảy biến, cha mẹ tất được thoát khỏi địa ngục, sanh vào cõi trời, thấy Phật nghe Pháp, ngộ vô sanh nhẫn, thành được Phật đạo.

Phật bảo Vô Ngại Bồ Tát:

  • Trong thời Tỳ Bà Thi Phật có ưu bà tắc và ưu bà di tâm không tin tà, kính tin Phật Pháp, sao chép Kinh nầy, nhận lãnh đọc tụng, nên làm liền làm, không có chút nghi, niềm tin chân chánh, làm việc bố thí, cúng dường bình đẳng, được thân vô lậu, thành tựu đạo Bồ tát, tên là Phổ Quang Như Lai ứng đắc chánh giác, kiếp tên Ðại Mãn, nước tên Vô Biên, nhân dân nước đó, hành đạo Bồ tát, không pháp thể được. Oai lực của Kinh, quả báo như vậy.

Lại nữa Vô Ngại Bồ Tát! Kinh Bát Dương nầy, lưu hành trong cõi Diêm Phù Ðề nầy, bất cứ nơi nào, có tám Bồ tát, các Phạm Thiên Vương, hết thảy minh linh, nhiễu quanh quyển Kinh, cúng dường hương hoa như Phật không khác.

Phật bảo Vô Ngại Bồ Tát Ma Ha Tát:

  • Nếu thiện nam tử, hay thiện nữ nhơn, vì lợi chúng sanh, giảng nói Kinh nầy, hiểu sâu thật tướng, được lý sâu xa, tức biết thân tâm, Phật tâm, Pháp tâm. Biết được như vậy, tức được trí tuệ.

Mắt thường thấy các thứ vô tận sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng tức thị không, tức Diệu Sắc Thân Như Lai.

Tai thường nghe các thứ vô tận thanh, thanh tức thị không, không tức thị thanh, tức Diệu Âm Thanh Như Lai.

Mủi thường ngửi các thứ vô tận hương, hương tức thị không, không tức thị hương, tức Hương Tích Như Lai.

Lưỡi thường hiểu rõ các thứ vô tận vị, vị tức thị không, không tức thị vị , tức Pháp Hỷ Như Lai.

Thân thường biết các thứ vô tận xúc, xúc tức thị không, không tức thị xúc, tức thị Trí Thắng Như Lai.

Ý thường tư tưởng phân biệt các thứ vô tận pháp, pháp tức thị không, không tức thị pháp, tức thị Pháp Minh Như Lai.

Nếu người thiện nam, hay người thiện nữ, với sáu căn nầy hiện ra trong đời, miệng nói lời lành: pháp lành thường chuyển, thành tựu Thánh Ðạo; nếu nói lời tà, pháp ác thường chuyển, bị đọa địa ngục.

Thiện nam tử! Ðọc tụng Kinh nầy, đạt lý tướng thật, tức biết thân tâm chính là pháp khí của các đức Phật. Nếu mê không tỉnh, không biết thân tâm chính là nền tảng của Pháp Giác Ngộ, trôi lăn các cõi, đọa vào đường ác, chìm mãi biển khổ, không dịp nghe được danh tự Phật Pháp.

Lúc bấy giờ có năm trăm thiên tử từ trong đại chúng nghe Phật thuyết Kinh được Pháp nhãn tịnh, tâm rất vui mừng, liền phát Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Phần ba: Sanh tử Táng theo Chánh Ðạo

Vô Ngại Bồ Tát lại bạch Phật:

  • Kính thưa Thế Tôn! Người trong thế gian, sống chết việc lớn, đến lúc thì sanh, chết không định ngày, đến lúc thì chết. Tẩn táng thì coi lương thần kiết nhựt, rồi mới tẩn táng. Sau khi tẩn táng, lại cũng không yên. Kẻ nghèo khó nhiều, thuận lợi thì ít. Kính mong thế tôn vì những chúng sanh tà kiến không trí, nói nhân duyên nầy, làm cho họ được vào trong chánh kiến, trừ các điên đảo.

Phật dạy:

  • Lành thay, lành thay! Này Thiện nam tử! Ông hỏi Như Lai về phép tẩn táng, ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông nói về trí tuệ, chánh pháp đại đạo. Trời đất xưa nay tánh vốn trong trẻo, mặt trời mặt trăng mãi mãi sáng sủa, ngày tháng thời gian mãi mãi tốt lành, chưa từng sai khác.

Này thiện nam tử! Nhơn Vương Bồ Tát, rất đại từ bi, thương xót chúng sanh, coi như con đỏ, làm chủ loài người, làm cha mẹ dân, thuận theo người đời, dạy phép tắc đời, sai làm lịch nhật, ban bố thiên hạ, cho biết được thời tiết, gồm các tự Bình, Mãn, Thành, Thâu, Khai, Trừ, các văn Chấp, Nguy, Phá, Sát. Người ngu chỉ biết theo tự mà dùng, khi gặp hung lỗi lại nhờ thầy tà tìm cách yểm trấn, nói đó là đạo, cầu khẩn tà thần, cúng tế quỷ đói, rước lấy tai ương, tự nhận khổ não. Người như làm vậy là phản lại thiên thời, làm nghịch địa lý, che mất sự sáng của vầng nhật nguyệt, thường vào nhà tối, ngăn đường Chánh Ðạo, hay tìm tà kinh, điên đảo vô cùng.

Lại nữa. Này thiện nam tử, và thiện nữ nhơn, trong lúc sanh sản tụng kinh (nầy) ba biến thì sanh con lạ, lành tốt rất lớn, thông minh trí tuệ, đầy đủ phước đức, không chết lúc sanh. Lúc chết cũng tụng kinh nầy ba biến, sẽ không chút hại.

Này thiện nam tử! Ngày ngày đều tốt, tháng tháng đều tốt, năm năm đều tốt, thiệt không ngăn cách. Về việc tẩn táng, vào ngày tẩn táng, đọc Kinh (nầy) bảy biến, được nhiều lợi lành, được phước vô lượng, người nhà phú quí, mạnh khỏe sống lâu, đến ngày mạng hết, thành tựu Phật đạo.

Này thiện nam tử! Về đất tẩn táng đừng bàn đến chuyện đông tây nam bắc, nơi có an ổn, người được yên vui, quỉ thần yên vui, tụng Kinh (nầy) ba biến, sau đó sửa dinh, an trí mồ mã, mãi không tai chướng, nhà giáu người thịnh, được kiết lợi lớn.

Bấy giờ Thế Tôn nói lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Sinh ra ngày ngày lành Chôn cất giờ giờ tốt Sinh, chết đọc Kinh nầy Ðược kiết lợi rất lớn.

Tháng tháng đều lành sáng Năm năm đều năm tốt Ðọc kinh khi tẩn táng Vinh hoa mãi hưng thịnh.

Lúc bấy giờ bảy vạn người trong chúng nghe Phật thuyết dạy, tâm mở ý tỏ, bỏ tà về chánh, được phần Phật Pháp, vinh viễn cắt trừ được mối nghi hoặc, được tâm Vô Thượng Chánh Giác Bồ Ðề.

Phần thứ tư: Pháp thế gian về Hôn cấu

Kính thưa Thế Tôn! Hết thảy phàm phu đều lấy hôn phối để kết thành thân, trước hỏi tương nghi, lại tìm ngày tốt, sau mới thành thân. Sau khi thành thân, giàu sang đến già là việc ít thấy, nghèo hèn sanh ly tử biệt thì nhiều. Một loại tin tà, sai khác ra sao, xin nguyên Thế Tôn giải rõ mối nghi.

Phật dạy:

Này thiện nam tử! Ông hãy lắng nghe, ta sẽ nói rõ. Phàm lý âm dương ở trong trời đất, nhựt âm nguyệt dương, thủy âm hỏa dương, nam âm nữ dương, khí trời đất hợp thì cỏ cây sinh, trời trăng giao hòa làm cho bốn mủa tám tiết thuận trôi, nước lửa giao hòa làm cho hết thảy vạn vật trưởng thành, nam nữ hòa thuận, con cháu hưng thịnh, đó là đạo thường ở trong trời đất, cái lẽ tự nhiên, pháp tắc thế tục.

Này thiện nam tử! người ngu không trí, tin nơi thầy tà, bói toán cầu tốt, không chịu tu thiện, tạo nhiều nghiệp ác, sau khi mạng chung, được lại thân người như đất móng tay, đọa vào địa ngục, súc sanh, quỷ đói, như đất đại địa. Này thiện nam tử! Ðược lại thân người, chánh tín tu thiện như đất móng tay, còn người tin tà tạo các ác nghiệp như đất đại địa.

Này thiện nam tử! khi kết hôn thân, không cần phải coi thủy hỏa khắc nhau, bào thai yểm nhau, niên mạng không đồng, chỉ coi lộc mạng mà biết phước đức có nhiều hay ít, bảo với bà con vào ngày hô nghinh đọc tụng kinh nầy thì được thành tựu. Ðó là lành lành cùng đến với nhau, sáng sáng cùng quyện vào nhau, cửa cao người quí, con cháu hưng thịnh, thông minh trí tuệ, có nhiều nghề khéo, hiếu kính lẫn nhau, kiết lợi vô cùng, không bị trúng yểu, phước đức đầy đủ, thành tựu Phật đạo.

Phần thứ tám: Phụng Hành Thủ Hộ

Lúc bấy giờ, các vị Bồ tát, Di Lặc Bồ tát, cùng bốn Ðại Thiên vương cùng bạch Phật rằng:

  • Kính thưa Thế Tôn! Chúng con đều cùng ủng hộ kinh Bát Dương Thần Chú, con nguyện giúp đỡ ủng hộ người có lòng tin, nếu bị tật bịnh làm cho tiêu trừ.

Các vị Bồ tát, ngài Xá Lợi Phật, các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, trời, rồng, quỉ thần, A tu la, Chuyển luân thánh vương vui mừng đảnh lễ, tin lãnh làm theo.

1