Hình Ảnh Tây Phương Tiếp Dẫn: Khám phá vẻ đẹp của Thế giới Cực Lạc

Phap Ngo Thich
Từ khi Phật A Di Đà đạt được Tịnh thổ, cả thế giới đã quay về Tây Phương - nơi được gọi là Thế giới Cực Lạc. Đây còn được gọi là Thế giới Cực...

Từ khi Phật A Di Đà đạt được Tịnh thổ, cả thế giới đã quay về Tây Phương - nơi được gọi là Thế giới Cực Lạc. Đây còn được gọi là Thế giới Cực Lạc Tây Phương, Tịnh thổ Tây Phương, hoặc gọi là An Dưỡng Tịnh thổ, An Lạc Quốc. Phật A Di Đà giáo hóa chúng sinh tại đó, tại chính nơi Thế giới Cực Lạc, Phật A Di Đà tuyên thuyết Phật pháp.

Bạn có thắc mắc tại sao gọi nơi đó là Cực Lạc? Kinh A Di Đà Phật viết:

"Chúng sinh trong nước ấy không phải chịu khổ lự nào mà được thọ hưởng toàn sự sung sướng khoái lạc, nên gọi là cực lạc".

Đó là ý nghĩa cho rằng chúng sinh trong Thế giới Cực Lạc được giải thoát triệt để, không còn phải chịu 4 thứ khổ: Sinh - lão - bệnh - tử; từ ái biệt ly khổ đến các loại khổ khác trên đời.

Thế giới Cực Lạc ẩn hiện nghiêm, cả miền quốc thổ được kết thành toàn bằng loại vật liệu lưu ly, đường sá toàn bằng vàng rồng, tỏa ánh sáng rực rỡ, xán lạn huy hoàng. Hoa trời thơm ngát, như mưa bay bất tuyệt khắp miền đất quốc thổ, cảnh quan thì tưởng mỹ. Cây cối mọc thành hàng, bố trí rất chỉnh tề. Các cây cối ấy được trang sức bằng các vật báu như vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, hồng châu, mã não. Trên các cành cây còn lưng lẳng các loại trân châu, tỏa ánh lung linh nhiều sắc màu rất đẹp mắt, như tất cả cái đẹp cái tốt của vô lượng thế giới. Còn nữa, gió mát dịu dàng, cây cối rát rào, phát ra âm thanh tự nhiên thành những điệu nhạc êm tai, hương thơm nhè nhẹ phản phất, như hương từ gỗ chiên đàn, chim chóc hót lên hòa điệu càng thêm vui tai như lời chúc tùng, tâm tô trở nên thanh tịnh, xa xa một hồ nước trong veo với các hàng lân cận vây quanh, mặt nước lăn tăn sóng nhẹ với vài giọt thủy tạ; đất vàng, cây báu kết hợp với hồ nước trong xanh tạo thành một không gian vô cùng tráng lệ.

Hồ ao châu báu rải đều ở Thế giới Cực Lạc, trong hồ ao ấy chứa toàn loại nước bát công đức, nên có thể nói trong các ao hồ ấy chứa đựng rất nhiều thứ đặc biệt, thật là những nơi thú vị. Thứ nhất, nước trong vắt như lưu ly chẳng có loại nước nào ở thế giới so sánh được. Thứ hai, nước ôn thư đật chẳng nóng chẳng lạnh chẳng ướt với các loại nước ở thế giới, đun chẳng sôi, lạnh chẳng đông bằng. Thứ ba, nước có vị ngọt thành, chẳng loại nước nào ở thế giới có được hương vị ấy. Thứ tư, chất nước nhu nhuyễn như khói mây chẳng giống loại nước ở thế giới vừa ẩm ướt vừa mặn. Thứ năm, nước tô sáng ao hồ, chẳng vô quang như các loại nước ở thế giới. Thứ sáu, tính chất cực kỳ ôn hoà, lẻ loi không gợn chút sóng nào chẳng như các loại nước trên thế giới, sóng vỗ ầm ào. Thứ bảy, nước có thể trừ đói giải khát chẳng như các loại nước ở thế giới, uống nhiều trướng bụng. Thứ tám, uống các căn vào thì được lợi dưỡng, tâm được thêm nhiều thiện căn.

Theo tuyên thuyết thì nước trong hồ tùy ý sâu cạn, tùy ý nóng ấm, biến đổi khôn lường, thiên biến vạn hoa. Nước hồ hoãn hoãn lưu động, phát ra nhiều loại âm thanh tưởng thích với âm thanh nghe thuận tai, tùy ý diễn tấu, tùy ý ngắn tấu. Thỉnh thoảng, từ trong hồ tỏa lên hương thơm êm dịu như hương hoa lan. Đáy hồ không chút bùn bẩn mà toàn loại cát vàng lát đáy. Dẫm đến êm chân như dẫm trên những lụa. Sen mọc đầy ao hồ, hoa sen đều to như cái bánh xe. Hoa sen màu xanh phát ra ánh sáng xanh, hoa sen màu vàng phát ra ánh sáng vàng, hoa sen màu đỏ phát ra ánh sáng đỏ, hoa sen màu trắng phát ra ánh sáng trắng. Nhiều loại hoa sen phát ra ánh sáng nhiều màu sắc, cầu vồng chiếu diệu cả hư không như bầu trời sau cơn mưa, thật là mỹ lệ, như thể hoa sen các màu tán phát lên cao, khiến cho thế giới Phật quốc, tươi sáng linh diệu vô cùng.

Bầu hư không của Thế giới Cực Lạc không có mưa đá, không có sương tuyết, suốt 6 thời ngày đêm đều lắc rắc hoa mạn đà la năm sắc, hương thơm thoang thoảng, rơi xuống đất tạo thành bức thảm hoa rất đẹp. Trên trời thì từng đàn chim, nào chim bạch hạc, khước tước, ánh vũ, chim xá lợi, chim ca lăng tần ca bay lượn hót lên vui tai, diễn tưởng nghĩa lý của 37 đạo phẩm tu hành chánh pháp của đạo Phật. Các loài chim ấy không phải là chúng sinh của Thế giới Tà bà, là do tội báo mà xuất sinh, nhưng vì Thế giới Cực Lạc không có nghiệp nhân sở cảm của tâm ác thú, thậm chí đến danh xưng địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh (tâm ác thú) cũng không có. Đương nhiên, không có thực thể của tâm ác đạo. Các loài chim ấy đều do vị giáo chủ của Thế giới Cực Lạc là Phật A Di Đà muốn dùng để tuyên giảng pháp âm, nên mới dùng sức mạnh bất khả tự nghị biến hoá ra, cũng từ trong tâm từ bi mà có được vậy.

Ngoài tiếng chim hót diễn xuất phật pháp ra, còn có tiếng gió cũng góp vào hội diễn tưởng phật pháp. Gió thổi hiu hiu trên tán lá của các hàng cây làm rung những quả chuông nhỏ treo lơ lửng phát ra những âm thanh vui tai và diệu, như từ trên trời vọng xuống. Nghe được âm thanh này thì tự nhiên tâm tạ sinh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, cảm niệm công đức của Tâm Bảo vậy.

Tứ sự là chuyện ăn, mặc, ở, đi lại nơi Thế giới Cực Lạc thì tự tại. Căn cứ vào kinh "Vô lượng thọ kinh" thấy viết:

"Những ai được vãng sinh đến quốc thổ của Phật thì được cụ túc sắc thân, thanh tịnh thần thỏa công đức, được ở nơi cung điện, ăn uống toàn thức ăn "diệu hoa hương", tràn ngiệm là những vật thực từ "đệ lục thiên" tự động cung cấp. Khi muốn ăn, muốn uống thì chén bát thất bảo tự nhiên hiện ra trước mặt, toàn là các loại bát đĩa bằng vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mã não, san hô, hổ phách tùy ý mà hiện đến. Đồ ăn thức uống hàng trăm thứ tự nhiên cung cấp đầy đủ, không thiếu thứ nào".

Đức Thích Ca Mâu Ni đã liễu giải sự thú thắng của Thế giới Cực Lạc cho người đời, qua việc tôn giả A Nắn đi khất thực xin ăn để so sánh với đời sống đế vương. A Nắn nói:

"Ví như một người đang sống bên cạnh đế vương, bao nhiêu chuyện bậy bạ tàn ác, không chừa chuyện gì, bách thiên vạn ức không thể tính hết. Cho nên tự nhiên khi người ấy lâm cảnh nghèo khó, nghèo đến cùng cực, quần áo rách rưới như đeo tấm giẻ rách trên người, cơm không đủ no bụng, khốn khổ cơ hàn, chẳng còn chút gì là con người nữa. Do ở các kiếp trước không vun trồng gốc đức, tích của cải mà không chịu bố thí, ngày càng giàu lên, ham muốn giàu mãi thâm lấm vô độ, không tin vào tu thiện, tội ác chất chồng cao như núi. Người như vậy sau khi qua đời, của tiền tiêu tan. Khổ một đời lo toan việc kiếm tiền, suy nghĩ ưu phiền, quả thật vô ích, không có chút thiện để nhờ vả, không có chút đức để gỡ gạc nên chết vào nơi ác thú, chịu bão khổ đau trường cuối. Khi tội đền hết thì được ra khỏi ngục tù, đầu thai nơi nhà hạ tiện, ngu muội cực khổ trong cõi nơi tà bà... Thế cho nên, bậc đế vương trên thế giới, độc tôn đứng trên mọi người đều do đã tích chứa nhiều công đức ở kiếp trước mà n

1