Ý nghĩa các thủ ấn trong tượng Phật Thái Lan

0
289

Phật giáo hình thành ở Ấn Độ hơn hai ngàn năm trước đây. Từ Ấn Độ, Phậtgiáo được truyền bá khắp nơi trên thế giới. Văn hóa Phật giáo được cácquốc gia hấp thu một cách uyển chuyển không hề áp đặt một cách cứngnhắc. Vì vậy, Phật giáo Thái Lan không giống với Phật giáo Ấn Độ. Điềunày thể hiện rõ ở các thủ ấn (cử chỉ của tay) trên các pho tượng Phật ởThái Lan.

Córất nhiều các thủ ấn khác nhau, nhưng có một thủ ấn rất đặc biệt ở TháiLan đó là thủ ấn tượng Phật nằm. Ngoài thủ ấn này, còn có 6 thủ ấnchính khác nữa ở tượng Phật Thái Lan.

1. Thiền ấn (pang sa-maa-ti hay dhyana mudra)

wwthien.jpg

Cử chỉ này thường thấy ở các tượng Phật ngồi. Lòng bàn tay Phật ngửalên đặt ngay ngắn trong lòng. Tư thế này cho thấy Phật đang tập trungtinh thần nhiếp phục thân tâm.

2. Thí vô úy ấn (pang bpra-taan a-pi hay abhaya mudra)

wwvouy.jpg

Khi bàn tay Phật thể hiện động tác này cho thấy Đức Phật không hề sợhãi trước một kẻ thù hay nghịch cảnh. Tư thế này thường thấy ở cả tượngPhật đứng và tượng Phật ngồi. Có hai biến thể. Một trong các biến thểlà cánh tay cong ở cả cổ tay và khuỷu tay. Các ngón tay chỉ lên trên vàlòng bàn tay hướng ra ngoài. Trường hợp nếu là cánh tay phải thì cónghĩa là điều phục thú dữ. Nếu là cả hai tay thì có nghĩa là nghiêm cấmthân nhân.

3. Thí nguyện ấn (pang bpra-taa pon hay varada mudra)

wwthinguyen.jpg

Tay phải của ĐứcPhật chỉ xuống với lòng bàn tay phải hướng về phía trước và các ngóntay mở rộng. Tư thế này thường được thấy trên tượng Phật đứng khi đangcho hoặc nhận của bố thí.

4. Xúc địa ấn ( pang maa-ra-wi-chai hay bhumisparsa mudra)

wwxucdia.jpg

Trong nghệ thuật tượng Phật Thái tư thế này được gọi là ĐứcPhật điều phục Mara (Ma vương). Mara là một con quỷ cám dỗ ĐứcPhật. Tay phải của Phật được đặt trên cẳng chân trong trạng thái chạmvào Trái đất, đôi khi chỉ là tượng trưng. Đây là tưthế thường thấy nhất.

5. Chuyển pháp luân ấn (dharmacakrapravartana mudra)

Wchplaun.jpg

Ngón tay trỏ và ngón tay cái của mỗi bàn tay chạm vào nhau. Các ngóncủa bàn tay trái chạm vào lòng bàn tay phải. Đây là một tư thế rất hiếmgặp. Tư thế này nói lên việc Đức Phật chuyển bánh xe pháp với bài phápđầu tiên của mình.

6. Giáo hóa ấn (vitarka mudra)

wwghoa.jpg

Ngón tay cái và ngón tay trỏ, thường là ở bàn tay phải chạm vàonhau, các ngón còn lại hướng lên trên. Cánh tay cong nơi khuỷu tay vàcổ tay. Điều này được xem như lời kêu gọi hòa bình. Đức Phật đang nhằmkêu gọi mọi người hãy giải quyết các vấn đề thông qua tư duy lôgic vàlý luận.

Văn Công Hưng (Theo ArticlesBase/GNO)