Ý nghĩa các tên gọi của chữ chùa” dưới góc độ ngôn ngữ văn hóa”

0
93

 

Về tên gọi Chùa hầu nhưđều thống nhất từ trước tới nay và ai cũng hiểu rõ đó là một tập hợpkiến trúc nhà làm nơi thờ Phật. Đó là tài sản chung của một cụm ngườicư trú trên địa bàn nhất định. (Phải chăng cũng vì thế mà trong ngônngữ của chúng ta xuất hiện những từ rất “Việt” là… chùa, để chỉ tài sảnhay sức lực không của riêng ai cả, muốn tiêu pha thế nào không ai cấm,không ai tiếc, như: của chùa, công chùa, tiền chùa?…).

Bên cạnh cái tên Chùa thuần Việt chất phác ấy thì còn nhiều mỹ từgốc Hán khác như Tự, Già lam cũng thông dụng không kém để chỉ ngôi chùatrong tiếng Việt.

Dưới đây chúng ta lần lượt tìm hiểu vì sao những từ được dùng để chỉ kiến trúc nhà có chức năng thờ Phật.

Trước hết là Tự (寺): Ngày nay chữ nàyđược dùng đứng sau làm thành tố chính (trung tâm ngữ) để kết hợp vớimột từ định danh nào đó (định ngữ) tạo thành một cụm danh từ nêu têngọi một ngôi chùa cụ thể, như Trấn Quốc Tự, Kim Liên tự, Bửu Lâm tự,Vĩnh Nghiêm Tự…

Và như vậy, ai cũng hiểu, Tự nghĩa là chùa. Nhưng trong ngôn ngữTrung Quốc cổ đại thì nghĩa của Tự không phải là chùa. Vì Phật giáo mớitiến nhập Trung Quốc từ đầu Công Nguyên, trong khi chữ Hán thì đã cósớm hơn rất nhiều.

Tự vốn là từ để chỉ cơ quan làm việc cụ thể của bộ máy chính quyền phong kiến. Sách Hán thưchú: Phàm phủ đình sở tại giai vị chi tự (nói chung nơi làm việc củaphủ đình đều gọi là Tự). Khang Hy tự điển chú khá rõ điều này: Hán dĩThái thường, Quang lộc, Huân vệ úy, Thái bộc, Đình úy, Đại hồng lô,Tông chính, Tư nông, Thiếu phủ vi cửu khanh. Hậu nguy dĩ lai danh tuynhưng cửu nhi sở lị chi cục vị chi Tự. Nhân danh Cửu tự (đời Hán lấyThái thường, Quang lộc, Huân vệ úy, Thái bộc, Đình úy, Đại hồng lô,Tông chính, Tư nông, Thiếu phủ làm Cửu khanh. Nguy trở về sau tuy vẫnđể như cũ nhưng các sở cục thì gọi là Tự. Vì vậy mà thành tên Cửu tự[thay cho Cửu Khanh]).

Vậy tại sao từ Tự chỉ một sở cục cụ thể được chuyển hẳn sang nghĩa làchùa? Đây là nguyên nhân lịch sử, đánh dấu mốc đầu tiên trong lịch sửPhật giáo Trung Quốc.

Hán Minh Đế Lưu Trang (25-75) là vị vua đầu tiên thừa nhận địa vịcủa Phật giáo ở Trung Quốc. Tương truyền nhà vua nằm mộng thấy “ngườivàng” bay qua sân điện, bèn sai sứ giả 12 người do Lang Trung Thái Âmdẫn đầu sang Tây Trúc cầu tìm đạo Phật. Đó là sự kiện năm Vĩnh Bình 7(64).

Ba năm sau (67), sứ giả về với hai tăng nhân người Ấn Độ cùng rất nhiều kinh sách và tượng Phật được thồ trên lưng ngựa trắng.

Lúc các tăng nhân cùng kinh, tượng, về đến kinh đô, triều đình chưachuẩn bị kịp chỗ ở riêng nên cho ở tạm trong Hồng lô tự (một cơ quantrong Cửu khanh).

Sau đó nhà vua mới cho xây dựng cái mà chúng ta gọi là chùa để thờPhật và các tăng nhân tu tập. Kiến trúc xây dựng theo kiểu mẫu dinh thựcủa quý tộc đương thời.

Sau đó chùa được xây dựng ngày càng nhiều cũng theo kiểu mẫu nhà ởcủa địa phương. Chính vì vậy mà chùa ở Trung Quốc, và cả ở Việt Nam khitiếp nhận Phật giáo theo hướng Trung Quốc, có kiểu chùa rất riêng,không theo quy chuẩn mái cong tháp nhọn như nơi Phật giáo phát nguyên.

Nhân vì kinh và tượng Phật được thồ về trên lưng ngựa trắng nên đặttên chùa là Bạch Mã. Tự là chỗ đầu tiên tăng nhân tạm trú khi đến TrungQuốc nên được chuyển sang làm thành tố chính để gọi tên cho ngôi chùa:Bạch Mã Tự, ngôi chùa phật giáo đầu tiên của Trung Quốc.

Già lam 伽 藍: cũng là tên gọi của ngôi chùa. Đây không phải là tên có nguồn gốc biến đổi như Tự trên kia.

Già lam là tên gọi tắt của Tăng già lam ma (Sangharama). Tăng già làmột nhóm tăng nhân đi Hoằng pháp, thường từ bốn người trở lên. Tăng giàlam ma 僧伽藍: là nơi ở của các tăng nhân để tu hành, sau chỉ chung kiếntrúc ngôi chùa.

Như vậy, già lam ở đây nghĩa như Tự. Nhưng theo tài liệu bằng chữHán của Tuần phủ Hà Nam-hiệp biện đại học sĩ Mai Viên Đoàn Triển (1854-1919) trong An Nam phong tục sách thì Già lam chỉ là chùa nhỏ. Nguyênvăn như sau: Tự dĩ Phụng phật, xã dân giai hữu chi (…). Hữu chung lâu,hữu cổ lâu, quy chế đa hữu hậu viện vi Tăng ni trụ trì sở. Sóc vọnghiến cung niệm Phật tụng kinh. Diệc hữu Tiểu tự, vô Tăng ni, hữu Thủ tựnhất nhân, hương hoa đăng cung lễ, vị chi già lam. (Chùa để thờ Phật,xã dân nào cũng có). Có lầu chuông, có lầu trống, quy chế (thờ tự, cúngtế) nhiều hơn đình, miếu; có tăng ni và tháp mộ, có hậu viện làm nơi ởcho trụ trì và Tăng ni. Ngày rằm mùng một cúng cúng hoa quả và niệmPhật tụng kinh.

Cũng có chùa nhỏ (tiểu tự), không có tăng ni có một người giữ chùa(Thủ tự, ông Tự) để dâng hương, thắp đèn lễ cúng, gọi là Già lam). Theoý kiến của ông Đoàn Triển ở sách trên thì Già lam chỉ là ngôi chùa nhỏ,không có quy mô tổ chức và kiến trúc như chùa. Nhưng theo các tài liệuPhật giáo cũng có những ngôi chùa cụ thể được gọi là Già lam, như ngôiGià lam- Cổ tự ở Phụng Hiệp (Hậu Giang) thì quy mô tổ chức cũng nhưquần thể kiến trúc không nhỏ chút nào, nếu không muốn nói là có phầndiễm lệ.

Thế nào gọi là Chùa? Vì sao nó chỉ kiến trúc ngôi nhà thờ Phật?

Điều chắc hẳn ai cũng thừa nhận chùa là tên gọi thuần của ngườiViệt. Để tìm hiểu nghĩa của chữ Chùa chúng ta cần tìm hiểu chức năngcủa ngôi chùa. Chùa là nơi thờ Phật, chốn linh thiêng, thanh tịnh, lànơi mỗi tháng hai lần các Phật tử dâng hương hoa trà quả để lễ Phật.

Lễ vật cúng Chùa thường là những hằng sản địa phương, được đem lêntế lễ rồi chẩn phát, cứu tế luôn cho những người nghèo khó. Như vậy ýnghĩa nhân văn của ngôi chùa truyền thống rất lớn: là nơi để người giàusan sẻ, người khó tựa nương.

Đây cũng là một trong những tôn chỉ quan trọng mà nhà chùa hiện nay đang thực hiện.

Truy về nguồn gốc chữ Chùa không đâu hơn là dựa vào mã chữ Nôm.Trong chữ Nôm, Chùa được ghi bằng Trù. Ngữ âm lịch sử đã chứng minh:/ch/ là âm trước của /tr/ khi người Việt đọc chữ Hán.

Chùa là âm tiền Hán Việt của Trù, nó nằm trong hệ thống ch > tr,như chén > trản, chém > trảm, chọn > trạch, chèo > trạo,chầy > trì, chay > trai, chứa > trữ… Trù có nghĩa là bếp,tiếng Hán hiện đại, trù phòng có nghĩa là nhà bếp, nơi ấm áp, yên bìnhtrong mỗi gia đình.

Suy rộng ra xã hội, nơi ấm áp, yên bình nhất chính là ngôi chùa.Chùa là nơi người ta được san sẻ, được thỏa nguyện về cả vật chất lẫntinh thần. Ý nghĩa từ ngữ thật cao đẹp biết bao!

Trong tiếng việt ta còn có chữ chùa chiền để chỉ chung về những thắngcảnh Phật giáo. Vậy Chiền là gì? Nó là từ có yếu tố độc lập hay là yếutố láy của từ chùa? Thực ra nó xuất phát từ âm Triền: chỗ ở của ngườidân nói chung. Cũng như chùa, Chiền là âm tiếng Hán Việt của Triền HánViệt.

Như vậy đây là một từ ghép đẳng lập của người Việt để chỉ thắng cảnhPhật giáo nói chung. Trong đó, Chùa là yếu tố trung tâm tương đương vớinó chính là Tự. Còn tiếng Hán tương đương với chùa chiền không phải làTự mà là Sát. Sát là âm được phiên âm từ tiếng Phạn, là chùa nói chung,từ Hán Việt có các từ như: Cổ sát: chùa cổ, Bảo sát danh sơn: thắngcảnh núi non có chùa…

Qua đây có thể thấy cha ông chúng ta đã biết tiếng Việt hóa cao độ cácthuật ngữ Phật giáo để làm giàu cho tiếng Việt. Tuy là vay mượn nhưngdấu vết hầu như mất hẳn vì nó thấm nhuần tư duy nhân văn của người Việt.

Bên cạnh một số tên gọi đã ăn sâu vào ngôn ngữ Việt khi chỉ về ngôichùa như trên, thì cũng còn nhiều từ khác dùng phổ biến ở Trung Quốc màkhi nhắc tới ta đều biết nó chỉ ngôi chùa, như: Phật sát, Phật điện,Phật đường, Phật khám, Phật sát, Phật tự, Tăng phòng, Tăng viện, Tăngxá, Thiền già, Thiền trai, Thiền xá, Tự môn, Tự quán, Tự viện…Đó là doquá trình tiếp xúc lâu dài,thường xuyên với tiếng Hán. Tất cả các từtrên đều có thể dịch là Chùa. Trong các từ trên, yếu tố đầu: Phật,Tăng, Thiền là thuật ngữ Phật giáo; Tự là chùa đã nói ở trên. Yếu tốsau là những kiến trúc nhà khác nhau trong tiếng Hán. Nó góp phần địnhdanh tường minh hơn cho ngôi chùa cụ thể.

Tổng quan lại có thể thấy nghĩa của các từ chùa chỉ về ngôi chùa luôngắn bó mật thiết với ngôi nhà của chúng ta. Chính vì vậy mà tư tên gọiđã toát lên vẻ ấm áp, thân thương và gần gũi, mang đậm tư duy Phật giáoÁ Đông.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Ngọc San – Lý thuyết chữ Nôm – NXB ĐHSP Hà Nội, 2006
2. Đoàn Triển – An Nam phong tục sách (tư liệu Hán Nôm).

Tạ Đức Tú

Theo: Phật học