VIỆC SỬ DỤNG INTERNET CỦA CÁC CƠ SỞ PHẬT GIÁO

0
97

Hệthống Internet là nguồn tài liệu quan trọng và phương tiện thông tin cóhiệu quả rất lớn. Nó cung cấp tài liệu cập nhật và cho chúng ta chiềuhướng mới để tác động đến thế giới bên ngoài. Cũng như tất cả ngànhnghề khác, các cơ sở tôn giáo đang vận dụng hiệu năng của hệ thốngInternet để truyền bá đạo pháp, và Phật giáo cũng không ngoại lệ.

Bàitiểu luận nầy sẽ trình bày về việc sử dụng hệ thống Internet của các cơsở Phật giáo. Bài gồm có hai phần. Phần đầu sẽ xét về cách truyền báPhật giáo thời xưa và giá trị truyền giáo mới trong thế giới kỹ thuậthiện đại. Câu hỏi thường được nêu lên là kinh điển có mất tính xác thựchay không, khi được phổ biến qua hệ thống Internet hay các phương tiệntruyền thông khác. Phần thứ hai của bài luận nầy chú trọng về việc sửdụng Internet của Tăng già để truyền bá lời Phật dạy đến Phật tử và thếgiới.  Có điều quan ngại nào trong việc Tăng già sử dụng kỹ thuậtchăng? Họ có nên trau dồi kỹ thuật tin học trong thế giới hiện đạikhông? Cách giảng dạy Phật pháp theo lối mới có thích hợp với tu sĩPhật giáo hay không?

Trongquá khứ, sau khi thành đạo đức Phật đã đem hết phần còn lại của đờimình để hoằng dương giáo pháp của ngài. Suốt bốn mươi chín năm, với đôichân trần ngài đã lê gót khắp nơi ở Trung Ấn, kể cả những vùng xa lạ đểtruyền bá giáo lý mầu nhiệm đến mọi người. Trong cuốn sách ‘Đức Phật vàPhật Pháp’, Đại đức Narada tán dương công hạnh của đức Phật như sau: 

ĐứcPhật là nhà truyền giáo đầu tiên hoạt động tích cực nhất trong lịch sửnhân loại. Trải qua bốn mươi chín năm trường, ngài đi từ nơi này sangnơi khác để hoằng dương giáo lý, đến hàng đại chúng cũng như các bậcthiện trí. (trích từ bản dịch của Phạm Kim Khánh: 1964: 14)

ĐứcPhật hoàn tất những công tác khó khăn nhất mà chưa ai từng làm bao giờ.Ngài không những phục vụ lợi ích cho nhân loại mà còn quan tâm đến nỗikhổ của tất cả mọi loài. Đức Phật thành lập đoàn thể chư Tăng, Ni đượcgọi là ‘Tăng già’, bao gồm các môn đồ đã thọ giới, sống chung đời phạmhạnh và bình đẳng. Hơn nữa, ngài đã chỉ bày cho quần chúng lối sống đạođức, hài hoà và hạnh phúc qua sự giữ gìn giới luật như: không sát sanh,không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không dùng các chất say vànhiều giới luật khác. Ngoài ra, ngài còn sử dụng trí huệ tối thượng,lòng từ bi và đạo đức của mình làm mẫu mực để chúng sanh noi theo vàthực hành, nhằm mang lại lợi ích cho chính mình và tất cả.

Mặcdù Đức Phật đã nhập diệt nhưng giáo lý của ngài vẫn được các đệ tử lưutruyền một cách trọn vẹn. Ba tháng sau khi ngài nhập Niết-bàn, kỳ kếttập kinh điển lần thứ nhất diễn ra dưới sự chủ toạ của ngài Ma ha Cadiếp, là đệ tử trưởng lão của Phật, cùng năm trăm vị La-hán.  Đại đức Anan đà, là người em họ và cũng là thị giả của Phật, đã trùng tuyên lạilời Phật dạy. Đại đức Ưu ba ly trùng tuyên Giới luật. Cuộc kết tập kinhđiển lần thứ hai xảy ra sau kỳ thứ nhất khoảng một trăm năm. Do sự bấtđồng ý kiến về giới luật, Tăng đoàn chia ra làm hai nhóm: nhóm thứ nhấthọp tại Tỳ-xá-ly được gọi là ‘Thượng Toạ Bộ’, nhóm kia gọi là ‘ĐạiChúng Bộ’, họp tại thành Vajji, và là cơ sở của Đại thừa Phật giáo saunầy. Qua hai kỳ kết tập, giáo lý của đức Phật được truyền miệng từ cácbậc Thầy đến hàng đệ tử trong Tăng đoàn qua nhiều thế hệ; chưa có trênvăn tự. Cho đến kỳ kết tập kinh điển lần thứ ba trước Dương lịch batrăm năm, ở thành Hoa thị dưới thời Hoàng đế A dục, giáo pháp của đứcPhật được ghi lại dưới nhiều dạng khác nhau, các bằng chứng đặc biệthơn hết là những lời Phật dạy được khắc trên nhiều trụ đá dưới dạng chữcổ, còn tồn tại tới ngày nay. Trước khi hoàng đế A dục trị vì, đạo Phậtlà một trong nhiều giáo phái đang hoạt động ở Ấn độ thời bấy giờ. Nhưngsau khi ngài trở thành Phật tử, đột nhiên Phật giáo trở thành tôn giáochánh ở Ấn độ. Ngài đã gởi các nhà truyền giáo đi khắp lục địa Ấn độ vàcác nước lân bang như Tích lan, Kashmir, Mông cổ và một số tăng đồ đãđi hướng Tây và Bắc đến các nước như Ai cập, Palestine và Hy lạp.     

Sựhoằng dương Phật pháp thời xưa còn chậm chạp vì phương tiện chuyển vậnvà truyền thông còn quá thô sơ. Sau mấy thế kỷ, Phật giáo mới truyềntới các nước ngoài lục địa Ấn-độ. Hơn nữa, phải mất khoảng năm trăm nămPhật pháp mới được truyền sang các nước Á Châu. Lúc bấy giờ, thời giankhông phải là vấn đề duy nhất, mà sự truyền giáo còn phụ thuộc vào sựtriển khai giáo lý đức Phật để hòa nhập với nền văn hóa bản xứ và trởthành một hình thức ‘Phật giáo địa phương’, thí dụ như Thiền tông ởTrung quốc. Phật giáo còn phải đương đầu với các tôn giáo và triết lýcủa bản xứ như Lão giáo, Khổng giáo, đạo Thờ tổ tiên và nhiều đạo khác,trước khi được dân chúng chấp nhận. Trong quá trình hội nhập nầy, giáolý được chia thành nhiều môn phái để thích hợp với văn hóa và truyềnthống địa phương. Ví dụ như, truyền thống Nguyên thủy thực hành giáo lýcăn nguyên từ thời đức Phật, và truyền thống Đại thừa có phần cải cáchtừ căn nguyên. Các nước theo truyền thống Nguyên thủy gồm có Tích lan,Miến điện, Cam bốt, Lào, Thái lan và nhiều nước khác. Truyền thống Đạithừa được ưu chuộng ở các nước như Trung hoa, Tây tạng, Việt nam, Nhậtbổn, Đài loan và Mông cổ. 

Ngàynay, Phật giáo đã có một phương hướng mới để phổ biến giáo lý hay thôngtin đến Tăng già, cộng đồng Phật tử và thế giới. Sự chấp nhận giáo lýđức Phật không còn dựa trên sự phù hợp với văn hóa địa phương hay tôngiáo khác, mà dựa trên sự trình bày cốt lõi của học thuyết. MarshallMcLuhan là lý luận gia của ngành truyền thông phát biểu như sau: 

‘Nộidung’ của mỗi ngành truyền thông luôn là ngành truyền thông khác, nộidung của văn tự là lời nói, nội dung của lời nói là sự suy nghĩ hoặckhông bằng văn bản. Nội dung của văn bản là in ấn và sự in ấn là nộidung của báo chí. (1964, 8)

Nhưlời ông Mcluhan, thì dường như ‘nội dung’ của giáo lý Phật sẽ không bịthay đổi khi được chuyển tải qua hệ thống Internet hay qua ngành truyềnthông nào khác. Sự trình bày giáo lý có thể thay đổi chút ít so vớiphương cách ngày xưa, nhưng cốt tủy hoặc ý nghĩa của kinh điển vẫn nhưcũ. Kinh điển Phật giáo không những được viết hoặc in trên sách mà cònđược biến đổi sang ‘Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản’ (Hypertext MarkupLanguage) hay những dạng thức mới mẻ khác.

Việcsử dụng hệ thống Internet và trang mạng lưới toàn cầu trở nên chánhthức trong việc phổ biến tôn giáo. Mục đích của họ là thực hiện sứ mệnhtruyền bá tôn giáo, phục vụ tín đồ và cộng đồng thế giới dưới nhiềudạng thức khác nhau. Cũng như thế, một tu viện hay cơ sở Phật giáo làcơ cấu quan trọng trong sự giữ gìn văn hóa và truyền thống Phật giáo.Họ dùng trang mạng lưới để trình bày kinh điển, hình ảnh, âm thanh vàđôi khi các nghi lễ tâm linh của Phật giáo, qua đó họ có thể biểu trưngvà duy trì sự hiện diện của giáo pháp, của đức Phật và chư Bồ-tát, đểkhuyến khích sự phát tâm của tín đồ.

Hơnnữa, việc sử dụng trang mạng lưới của các cơ sở Phật giáo nhằm mục đíchtạo sự nối kết hay liên hệ giữa Tăng già, cộng đồng Phật tử và thếgiới. Trước khi hệ thống Internet được phổ biến khắp nơi, các tu việnhay cơ sở Phật giáo hầu hết chỉ được cộng đồng và nhân dân địa phươngbiết đến qua nhiều cách khác nhau (báo chí, phát thanh địa phương,vv…). Bây giờ, các tổ chức Phật giáo được nhiều người ngoại quốc biếtqua các trang mạng lưới toàn cầu. Việc sử dụng Internet để đưa nhữnghình ảnh tu viện, công tác phục vụ và sinh hoạt của chùa sẽ thu hút dukhách trong nước và ngoại quốc, họ sẽ đến thăm chùa nhân dịp thuận tiệnnào đó. Hơn nữa, du khách có thể được tác động qua những tư liệu (hìnhảnh, âm thanh, video, vv…) về văn hóa Phật giáo được đăng tải hay trìnhbày trên các trang mạng lưới. Càng ngày càng nhiều học sinh từ cáctrường trung học viếng thăm chùa thay vì những nơi khác, nhân dịp dungoạn của họ. Hệ thống Internet được mở rộng toàn cầu để đem lại lợiích và thuận tiện cho những người tìm cầu tâm linh, hay tìm những nơidu lịch theo ý thích.

Theonhư Stevenson nói “dù chúng ta sống cố định ở thôn làng nơi mà chúng tasinh ra,  hoặc không ngừng du lịch toàn cầu, văn hóa của ngành truyềnthông luôn luôn hiện diện ở đó”. Cũng như vậy, các cơ sở Phật giáo cũngkhông thoát khỏi những phương tiện truyền thông, đặc biệt là hệ thốngInternet bởi sự thuận tiện của nó. Trong quá khứ, những Phật tử hayngười cầu đạo sẽ tới chùa chiền hỏi Phật pháp; có khi họ phải lặn lộitrong rừng sâu để tìm thầy học đạo. Bây giờ, người cầu đạo giải thoátcó thể ngồi ở nhà, trước máy điện toán để tìm kiếm những tài liệu cầnthiết từ những trang mạng lưới toàn cầu của Phật giáo trong khoảnhkhắc. Hơn nữa họ có thể gởi những câu hỏi Phật pháp bằng điện thư hoặcđăng tải trên những diễn đàn để có được câu trả lời từ những ‘tu sĩ máytính’. Cũng như vậy, Tăng già không còn phải lặn lội tới những nơi xaxôi để truyền bá Đạo pháp, giống như họ đã làm trước đây vài thế kỷ.

Ởthời điểm này, vẫn còn sự chống đối về ý niệm sử dụng hệ thống Internetvà ngành Tin học trong nội bộ Phật giáo. Trong cuốn “Reinventing theWheel; A Buddhist response to Information age” Peter Hershock sử dụngkhía cạnh Phật giáo để lập luận rằng, việc sử dụng kỹ thuật sẽ trởthành tập quán và điều này sẽ gây nên nhiều vấn nạn bắt nguồn từ sự thuhút của kỹ thuật, “ Chúng ta sẽ thất bại nếu dựa trên kỹ thuật để thựchiện sự cứu khổ, bởi vì kỹ thuật bị sự ham cầu điều khiển” (trích từBarnhart, M, G: 1999, 145). Ông đã lập luận thêm “chúng ta có càngnhiều, lòng tham của ta càng lớn, và chúng ta không thể thoát cái“ngã”. Nhưng, Phật giáo thì dạy chúng ta tự mình giải thoát khỏi cái“ngã”, đó là con đường duy nhất để ra khỏi “bế tắc”, ông dùng từ nàythay vì dùng từ “đau khổ” được dịch ra từ tiếng Pali “dukkha”. Ông nóitiếp theo: 

Thựchành thiền định không phải với mục đích kiểm soát các sự kiện hay nhữnggì liên quan đến mà chính là quay về nội tại và tháo bỏ những vướng mắctự tâm hồn (trích từ Barnhart, M: 1999, 414-418). 

Theogiáo lý Phật giáo thì những lập luận của Hershock dường như đúng. Nhưngviệc sử dụng kỹ thuật tin học đang gia tăng và ngày càng có nhiều người“dính mắc” nó, bởi vì sự tiện lợi. Trong trường hợp mạng lưới Internet, người sử dụng sẽ không ngừng được việc kiểm tra ‘hộp’ điệnthư của họ, bởi đó là sự cần thiết phải thông tin liên lạc hằng ngày.Trong sách New media; an introduction  Argyle diễn tả việc sử dụng điệnthư đã trở thành thói quen trong cuộc sống hằng ngày của cô “Tôi nốikết với những danh sách, các chủ đề và thư từ trong hộp thư của tôiđược gởi tới từ những người bạn trên mạng lưới của tôi”. (Argyle: 1999,133). 

Ngànhtin học sẽ tồn tại và phát triển trên thế giới, với những thuận tiện vàbất lợi của nó. Có nhiều vấn đề được nêu ra, và những quan ngại của mộtsố thành viên trong các cơ sở Phật giáo về việc sử dụng kỹ thuật choviệc hoằng pháp. Những thành viên nầy có nên cập nhật kiến thức của họvề phương diện kỹ thuật không? Tăng ni có thích hợp với việc sử dụngcomputer không? Tu sĩ có nên tra cứu trên trang mạng lưới không? Hàngloạt câu hỏi được tiếp tục đặt ra liên quan giữa Tăng già và kỹ thuật.Thầy Panyavaro, chủ trang mạng lưới BuddhaNet, bày tỏ quan điểm về việcPhật giáo sử dụng kỹ thuật để truyền bá giáo lý như sau: 

Phậtgiáo rất thích ứng trong việc sử dụng kỹ thuật để truyền bá giáo lý,nhưng phải nhận thức được mối nguy hiểm tiềm tàng do sự quyến rũ của kỹthuật. Giải pháp là bạn cần có chánh niệm và chú tâm tới công việc. Chonên khi trực tuyến, bạn cần có ý thức và cảnh giác về những gì mìnhđang làm. (trích từ Sean, H: 1997). 

Hệthống Internet sẽ tồn tại và Tăng già cần phải quyết định là chấp nhậnmáy điện toán và kỹ thuật mới, khi họ bước vào thế kỷ thứ 21 hay là giữnguyên truyền thống cũ. Có sự quan tâm và lo ngại rằng Tăng già có thểbị ô nhiễm thế pháp qua việc sử dụng kỹ thuật, đến mức bị hư hỏng haybiến chất. Vì thế, Tăng già cần có chánh niệm và chú tâm trong khi sửdụng kỹ thuật để đem Phật pháp đến quần chúng có hiệu quả hơn. Sự thựchành giáo lý Đại thừa hay Bồ tát hạnh bao gồm lý tưởng từ bi và phục vụtha nhân, nên có phần thích nghi với thế giới hiện đại hơn. Tôi nghĩ,bởi vì Phật giáo có cơ sở khoa học vững chắc, nó sẽ thích ứng với kỹthuật và vượt qua mọi khó khăn, để đem lại lợi ích rộng lớn cho chúngsanh. 

Hệthống Internet có thể trở thành công cụ to lớn cho ngành giáo dục tâmlinh cũng như giáo dục thế tục, đặc biệt là với sự thuận tiện và cậpnhật hóa liên tục của nó. Việc sử dụng Internet trong Phật giáo khôngphải hoàn toàn loại bỏ phương cách hoằng pháp thời xưa, nghĩa là chúngta vẫn cần có những tăng sĩ đi đến tận các địa phương để giảng dạy Phậtpháp. Tuy nhiên, mạng lưới Internet là ngành truyền thông có thể giúpđẩy mạnh và lan truyền lời Phật dạy một cách bao quát và ảnh hưởng hơn,đến khắp nơi trên thế giới.

Nguồn: quangminh.org