Vị trạng nguyên nhờ vợ mà đỗ đạt

0
116

VũTuấn Chiêu Vũ Tuấn Chiêu còn có quê gốc ở làng Xuân Lôi, xã Cổ Ra (nay thuộc xãNam Hùng, huyện Nam Trực, NamĐịnh). Tuy ông có mặt mũi khôi ngô nhưng học hành tối dạ, hơn 10 năm đèn sách,tuổi đã ngoài tứ tuần mà học vẫn không tiến bộ, ngày ngày vẫn cắp sách đến lớp,ngồi học cùng đám hậu sinh tóc còn để chỏm nên có lúc lấy làm chán nản. Vợ ônglà bà Trần Thị Chìa biết chồng học hành kém cỏi nhưng vẫn kiên trì khuyên nhủchồng cố gắng dùi mài kinh sử. Có lần thầy giáo gọi bà đến trả chồng về, khôngcho học nữa vì kém quá, để làm ruộng còn hơn; bà Chìa đã lấy hình ảnh nước chảylàm mòn cột chống cây cầu đá bắc qua con nước gần làng để động viên chồng kiêntrì, chăm chỉ sẽ làm nên.

Nghelời vợ, Vũ Tuấn Chiêu xin thầy cho ở lại học tiếp, quyết chí học hành để khôngphụ công ơn dạy dỗ của thầy, của vợ. Từ đó, trong vòng 5 năm, bà Chìa tuy tócđã hoa râm, lưng còng vì gánh nặng việc đời vẫn đều đặn gồng gánh đem gạo, mangdầu thắp đèn từ nhà đến nơi trọ học cho chồng cho đến khi lâm bệnh mất, năm đóVũ Tuấn Chiêu đã gần 50 tuổi. Sự thành đạt của ông sau này có đóng góp khôngnhỏ của người vợ hiền.

Tronglịch sử Việt Nam,Vũ Tuấn Chiêu cũng là một trong ba vị trạng nguyên già nhất, những người nàyđều đỗ khi đã 50 tuổi. Ngoài ông ra còn có Nguyễn Đức Lượng, người xã CanhHoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc Thanh Oai, Hà Nội) đỗ Trạngnguyên khoa thi năm Giáp Tuất (1514) đời Lê Tương Dực và  Nguyễn XuânChính, quê ở làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (này làTiên Sơn, Bắc Ninh), đỗ Trạng nguyên  khoa thi năm Đinh Sửu (1637) đời LêThần Tông.

Bàivăn sách tại kỳ thi Đình của Vũ Tuấn Chiêu hiện vẫn được lưu lại trong cuốn giaphả của họ Vũ ở phường Nhật Tân gồm 23 trang, mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng từ 4đến 31 chữ. Nội dung là những kiến giải của Vũ Tuấn Chiêu về những điềumà  vua hỏi. Trong đó ông cho rằng: “Binh mạnh thì trong nước yên ổn, bênngoài thần phục, nước sẽ vững như bàn thạch. Dân giàu thì lễ nghĩa được thihành, giáo hoá cũng theo đó trở nên tốt đẹp. Mà muốn cho binh mạnh phải chọntướng giỏi và nên “dùng nhà Nho để cai quản việc quân thì quân sẽ mạnh”, nhữngnhà Nho đó không chỉ học rộng văn hay, thông kinh bác sử mà phải có lòng dũngkhí, cố gắng quên mình.

Cònmuốn dân giàu thì cũng cần “dùng Nho để chăn dân, nhưng phải dùng kẻ Nho cóphẩm chất, có tác dụng. Giảm bỏ kẻ ăn không, bớt chi tiêu phung phí, thực hànhchế độ tiết kiệm để của cải sinh sôi, muôn họ giàu có. Vậy lo gì nước khônggiàu”.

VũTuấn Chiêu còn được biết đến là một trong những sĩ tử có quyển thi xuất sắc vàonăm thi Ất Mùi (1475). Ngang tài với ông còn có hai người còn lại là Cao Quýnh(người đỗ đầu thi Hội) và Ông Nghĩa Đạt. Vua Lê Thánh Tông thấy ba người tàinăng như nhau, khó xếp hạng người trên kẻ dưới trong bảng Tam Khôi nên đã rathêm một câu đố để thử sức. Vua bảo ba người đoán xem là chữ gì rồi đọc: “Thượngbất thượng (Thượng chẳng ở trên)/Hạ bất hạ (Hạ không ở dưới)/Chỉ nghi tại hạ(Chỉ nghi ở dưới)/Bất khả tại thượng (Bất khả ở trên)”.

Trongkhi Cao Quýnh và Ông Nghĩa Đạt đang chau mày suy nghĩ thì Vũ Tuấn Chiêu đoán rađó là chữ “Nhất”. Vua Lê Thánh Tông thấy ông thông minh, nhanh nhẹn liền chấmđỗ đầu thi Đình, ban cho học vị Trạng nguyên, Ông Nghĩa Đạt đoạt học vị Bảngnhãn, danh hiệu Thám hoa thuộc về Cao Quýnh.

Saukhi đỗ đạt, Vũ Tuấn Chiêu làm quan đến chức Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu,Lại bộ Tả thị lang. Để có người lo cửa nhà, Vũ Tuấn Chiêu đã tục huyền với bàNguyễn Thị quê ở làng làng Chèm (xã Thuỵ Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội); ông bàsinh được 4 người con trai.

VũTuấn Chiêu mất ngày 29 tháng 8, phần mộ táng tại xứ Đồng Xù, xã Phú Xá, huyệnTừ Liêm (nay thuộc phường Nhật Tân, quận Tây Hồ). Triều đình truy phong là“Tuấn lương Quang ý tôn thần”, sau gia tặng thêm làm “Dực bảo Trung hưng, Linhphù tôn thần”.

Hiện,tại nhà thờ chính của Vũ Tuấn Chiêu ở xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh NamĐịnh còn có bia ghi hành trạng và 17 đôi câu đối ca ngợi sự thành đạt và cônglao của ông đối với dân với nước. Trong đó có câu: “Hồng Đức văn chương khôinhất giáp/Xuân Lôi trở đậu lịch thiên thu”. Nghĩa là: “Đời Hồng Đức vănchương nêu nhất giáp/Đất Xuân Lôi thờ cúng nghìn thu”.

(Theo Báo Đất Việt)