Vì sao Ngô Quyền có thể đánh tan quân Nam Hán?

0
337
Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử (tranh  minh họa)

Ngô Quyền người làng Đường Lâm (nay là xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, HàTây). Ông sinh năm 897, con trai thứ sử Ngô Mân, một hào trưởng địaphương. Được truyền thống địa phương hun đúc, được cha dạy bảo, từ tấmbé Ngô Quyền đã tỏ ra có ý chí lớn. Thân thể cường tráng, trí tuệ sángsuốt, chăm rèn võ nghệ. Sử cũ miêu tả ông “vẻ người khôi ngô, mắt sángnhư chớp, dáng đi như cọp, có chí dũng, sức có thể nhấc vạc dơ cao”.

 Trước trừ nội phản sau diệt ngoại xâm

Năm 920, Ngô Quyền đi theo Dương Đình Nghệ, một tướng của họ Khúc ởđất Ái Châu (Thanh Hóa). Dương Đình Nghệ là anh hùng dân tộc từng cócông đánh đuổi giặc Nam Hán, chiếm được thành Đại La năm 931, thúc đẩybước tiến của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Dương Đình Nghệ lêncầm quyền, tự xưng Tiết độ sứ, giao cho Ngô Quyền cai quản Ái Châu .Yêu mến tài năng và nhiệt huyết cứu đời, giúp nước của Ngô Quyền, DươngĐình Nghệ đã gả con gái cho ông.
 
Trong 7 năm (931-938), quản lĩnh đất Ái Châu, Ngô Quyền trổ tài lực, đem lại yên vui cho dân trong hạt.
 
Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn, một thuộc tướng và là hàotrưởng đất Phong Châu giết hại để đoạt chức Tiết độ sứ. Hành động phảntrắc của Kiều Công Tiễn đã gây nên một làn sóng bất bình, căm giận sâusắc trong mọi tầng lớp nhân dân. Ngô Quyền trở thành ngọn cờ qui tụ mọilực lượng yêu nước.
 
Năm 938, trời đang tiết mưa dầm gió bấc. Đoàn quân Ngô Quyền, ngườingười lớp lớp vượt đèo Ba Dội tiến ra bắc. Quân xâm lược còn đang ngấpnghé ngoài bờ cõi thì đầu tên phản bội Kiều Công Tiễn đã bị bêu ở ngoàicửa thành Đại La (Hà Nội). Mối họa bên trong đã được trừ khử. Kế sáchtrước trừ nội phản sau diệt ngoại xâm đã được thực hiện.
 
Ngô Quyền vào thành, hợp các tướng tá, bàn rằng: “Hoằng Tháo là một đứatrẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính mỏi mệt, lại nghe được tin CôngTiễn đã bị giết chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi.Quân ta sức còn mạnh, địch với quân mỏi mệt, tất phá được! Song chúngcó lợi ở thuyền, nếu ta không phòng trước thì chuyện được thua cũngchưa thể biết được! Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biểntrước, vạt nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền của chúng nhân khi nước triềulên, tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không kếgì hay hơn kế ấy cả”. (1)
 
Chư tướng đều phục kế sách ấy là tuyệt vời.
 
Phán đoán đúng con đường tiến quân của địch: Ngô Quyền – người được nhàsử học Lê Văn Hưu ngợi ca là “mưu giỏi mà đánh cũng giỏi” – đã chủtrương bố trí một trận địa cọc ở cửa sông Bạch Đằng, rồi nhân khi nướctriều lên, nhử thuyền địch tiến vào bên trong hàng cọc và tập trung lựclượng tiêu diệt địch bằng một trận quyết chiến nhanh, gọn, triệt để.
 
Sau khi diệt trừ xong bọn Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền và bộ chỉ huy kéoquân về vùng ven biển Đông Bắc chuẩn bị đón đánh quân Nam Hán. Thầntích và truyền thuyết dân gian các làng thuộc xã Nam Hải, Đằng Hải đềunói rõ từ Bình Kiều, Hạ Đoạn tới Lương Khê (thuộc An Hải, Hải Phòng) làkhu vực đóng quân của Ngô Quyền. Hơn 30 đền miếu thờ Ngô Quyền và cáctướng phá giặc Nam Hán đã được phát hiện, đều phân bố tập trung ở vùnghạ lưu sông Bạch Đằng. Đồn trại của Ngô Quyền đóng tại các thôn LươngXâm (An Hải, Hải Phòng), Gia Viên (nội thành Hải Phòng) (2)
 
Từ nhân hòa địa lợi đến chiến công oanh liệt

Trước mưu đồ xâm lược trở lại của phong kiến Trung Quốc, ngọn cờ cứunước của Ngô Quyền trở thành ngọn cờ đoàn kết của cả dân tộc. Đội quânNgô Quyền, từ một đội binh Ái Châu đã nhanh chóng trở thành một độiquân dân tộc. Truyền thuyết dân gian còn ghi nhớ chuyện 38 chàng trailàng Gia Viễn (Hải Phòng) do Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận dẫn đầu, đã tựvũ trang, xin theo Ngô Quyền phá giặc. Trai tráng các làng Lâm Động(Thủy Nguyên, Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động, Hải Hưng), người mang vũkhí, kẻ mang chiến thuyền, tìm đến cửa quân xin diệt giặc. Ba anh em LýMinh, Lý Bảo, Lý Khả ở Hoàng Pha (Hoàng Động, Thủy Nguyên), ông tổ họPhạm ở Đằng Giang (An Hải, Hải Phòng) cũng chiêu mộ dân binh, hăng háitham gia kháng chiến.
 

d
Trận Bạch Đằng

 

Vùng cửa sông và vùng hạ lưu sông Bạch Đằng được Ngô Quyền chọn làm chiến trường quyết chiến.
 
Bạch Đằng ngày ấy cũng như ngày sau vẫn mang “tên nôm” giản dị: SôngRừng!  Sông Rừng thường có sóng bạc đầu, vì vậy mới có thêm một “tênchữ” Bạch Đằng giang.  Bộ sử Cương mục mô tả: “Sông rộng hơn hai dặm, ởđó có núi cao ngất, nhiều nhánh sông đổ lại, sóng cồn man mác giáp tậnchân trời, cây cối um tùm che lấp bờ bến”.
 
Bạch Đằng là cửa ngõ phía đông bắc và là đường giao thông quan trọng từBiển Đông vào nội địa Việt Nam. Cửa biển Bạch Đằng to rộng, rút nước từvùng đồng bằng Bắc Bộ đổ ra Vịnh Hạ Long. Từ cửa biển ngược lên gần 20km là đến cửa sông Chanh. Phía hữu ngạn có dãy núi vôi Tràng Kênh vớinhiều hang động, sông lạch và thung lũng hiểm trở.
 
Hạ lưu sông Bạch Đằng thấp, độ dốc không cao nên chịu ảnh hưởng củathủy triều khá mạnh. Lúc triều dâng, nước trải đôi bờ đến vài cây số.Lòng sông đã rộng, lại sâu, từ 8m-18m. Triều lên xuống vào độ nướccường, nước rút đến hơn 30cm trong một giờ, ào ào xuôi ra biển, mựcnước chênh lệch khi cao nhất và thấp nhất khoảng 2,5-3,2m.
 
Lịch sử thành tạo vùng Bạch Đằng trên đây và một số tài liệu địa lý họclịch sử cho phép khẳng định, cửa sông Bạch Đằng thế kỷ 10 không phải làcửa Nam Triệu với địa hình như hiện nay. Lúc bấy giờ cửa sông Nam Triệulà cửa biển chung của sông Cấm (hay sông Nam Triệu) và sông Bạch Đằng.Cửa biển Bạch Đằng ngày xưa ở vào khoảng đó, nằm sâu vào phía trong sovới cửa Nam Triệu hiện nay khoảng hơn chục cây số. Giữa vùng thiênnhiên sông biển đó, trên cơ sở sức mạnh đoàn kết và ý chí độc lập củacả dân tộc, Ngô Quyền khẩn trương giàn bày một thế trận hết sức mưutrí, lợi hại để chủ động phá giặc.
d
Khi triều lên mênh mông, thì cả bãi cọc ngập chìm, khi triều xuống thì hàng cọc nhô lên cản trở thuyền qua lại.

Ông huy động quân dân vào rừng đẵn gỗ,vót nhọn, bịt sắt (hẳn số thợ rèn được huy động đến cũng khá đông) rồicho đóng xuống lòng sông thành hàng dài tạo thành một bãi cọc, một bãichướng ngại dày đặc ở hai bên sông. Khi triều lên mênh mông, thì cả bãicọc ngập chìm, khi triều xuống thì hàng cọc nhô lên cản trở thuyền qualại. Bãi cọc tăng thêm phần hiểm trở cho địa hình thiên nhiên.
 
Trận địa cọc là một nét độc đáo của trận Bạch Đằng phá quân Nam hán vàcũng là một sáng tạo rất sớm trong nghệ thuật quân sự Việt Nam mà ngườikhởi xướng là Ngô Quyền. Nhưng cho đến nay, vẫn chưa phát hiện đượcthêm nhiều di tích của bãi cọc này. (3)

Trong khi chuẩn bị trận địa, Ngô Quyền không những lợi dụng địa hìnhthiên nhiên, mà còn biết lợi dụng cả chế độ thủy triều. Đây cũng là mộttrận đánh biết lợi dụng thủy triều sớm nhất trong lịch sử quân sự nướcta, mở đầu cho truyền thống lợi dụng thủy triều trong nhiều trận thủychiến sau này. Rất tiếc là cho đến nay, chưa xác định được ngày thángxảy ra trận Bạch Đằng, nên chỉ có thể đưa ra một số giả định nào đó,chưa thể có những kết luận cụ thể về điều này. (4)
 
Quân thủy bộ, mai phục sẵn ở phía trong bãi cọc, có lẽ trong khoảng hạlưu và trung lưu sông Bạch Đằng; trong các nhánh sông và trên hai bờsông.
 
Theo truyền thuyết và thần tích, Dương Tam Kha chỉ huy đạo quân bên tảngạn, Ngô Xương Ngập và Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đạo quân bên hữu ngạn, maiphục ở hai bên bờ sông để cùng phối hợp với thủy binh đánh tạt ngangvào đội hình quân địch và sẵn sàng tiêu diệt số quân địch trốn chạy lênbờ. Có thể suy đoán rằng, ngược lên phía thượng lưu là một đạo thủyquân mạnh phục sẵn làm nhiệm vụ chẹn đầu, chờ khi nước xuống sẽ xuôidòng đánh vỗ mặt đội binh thuyền của địch.
 
Cũng theo truyền thuyết, thần tích người thanh niên Nguyễn Tất Tố, vốngiỏi bơi lặn và quen thuộc sông nước, được giao nhiệm vụ khiêu chiến,nhân lúc nước triều lên, nhử địch vượt qua bãi cọc vào cạm bẫy bêntrong.
 
Trong thế trận của Ngô Quyền, rõ ràng trận địa mai phục giữ vai tròquyết định. Trận địa cọc ở cửa sông là nhằm chặn đường tháo chạy củatàn quân giặc. Sự phối hợp giữa hai trận địa chứng tỏ quyết tâm chiếnlược của Ngô Quyền là phen nàykhông phải chỉ đánh bại quân giặc mà cònphải tiêu diệt toàn bộ quân giặc, đập tan mộng tưởng xâm lăng của triềuđình Nam Hán.
 
Cuối năm 938, cuộc kháng chiến chống xâm lược Nam Hán lần thứ hai củaquân dân Việt đã giành được thắng lợi hết sức oanh liệt.Cả một đoànbinh thuyền lớn của giặc vừa vượt biển tiến vào mạn sông Bạch Đằng đãđược nhử vào thế trận đã bày sẵn và bị tiêu diệt gọn trong một thờigian rất ngắn. Toàn bộ chiến thuyền của giặc bị đánh đắm, hầu hết quângiặc bị tiêu diệt. Chủ soái của giặc là Lưu Hoằng Tháo cũng bị giết tạitrận.
 
Chiến thắng Bạch Đằng có những nét rất độc đáo và giữ một vị trí trọng đại trong lịch sử dân tộc. 

Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra nhanh, gọn, triệt để đến mức độ vua NamHán đang đóng quân ở sát biên giới mà không sao kịp tiếp ứng. Nghe tinquá bất ngờ và kinh hoàng, chúa Nam Hán đành thương khóc thu nhặt tànquân quay về nước. Y bèn hạ đổ tội cho Trước tác Tá Lang hầu Dung “làmcho khí thế quân binh không phấn chấn lên được”. Lúc này Dung đã chết,chúa Nam Hán tàn bạo sai quật mả, phơi thây Dung để trả thù!
 
Sau chiến thắng chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, Ngô Quyền bắt tay xâydựng quốc gia. Ngô Quyền xưng vương, bãi bỏ chức Tiết độ sứ, định đô ởCổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Ông đặt ra chức quan văn, võ, nghi lễ trongtriều. Nhưng đáng tiếc thời gian tại ngôi của ông thật ngắn ngủi, chỉđược 6 năm (939-944).
 
Ông mất ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Thìn, thọ 47 tuổi.
 
Ngợi ca Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng, nhà sử học Lê Văn Hưu viết trong Đại Việt sử ký toàn thư:”TiềnNgô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạnquân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắckhông dám lại sang nữa. Có thể nói là một cơn giận mà yên được dân, mưugiỏi mà đánh cũng giỏi vậy”.

——————
(1) Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ.q.5

(2) Tại Lương Xâm (thuộc xã Nam Hải,huyện An Hải, Hải Phòng) còn di tích một thành đất có hình giống nhưvành kiệu nên nhân dân quen gọi là thành Vành Kiệu. Thành đắp trên mộtgò đất cao, chu vi vào khoảng 1.700 m. Thành đã bị phá hủy nhiều đoạn,phần còn lại dài khoảng 1.300 m, bề rộng trung bình 1 m, có chỗ rộng 7m, cao khoảng 0,8 m, chỗ cao nhất 1,6 m. Giữa thành có đền thờ NgôQuyền nhân dân gọi là Từ Cả. Thần tích câu đối, truyền thuyết dân gianđều nói Ngô Quyền đắp thành ở Lương Xâm và di tích còn lại là thànhVành Kiệu. Năm 1981, Khoa Sử Đại họctổng hợp Hà Nội phối hợp với Sở Văn hóa – Thông tin Hải Phòng cắt mộtđoạn thành để khảo sát. Nhưng rất tiếc là chưa phát hiện được nhữnghiện vật đặc trưng để xác định niên đại của thành Vành Kiệu. Thần tíchNgô Quyền ở Gia Viên (nội thành Hải Phòng) nói ông đã cho lập đồn trạiở đây để chống giặc Nam Hán.

(3) Năm 1953 – 1954, nhân dân địaphương phát hiện được những cọc gỗ gần cửa sông Chanh, cách sông BạchĐằng hơn 400 m, thuộc xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh.Sau đó, Vụ Bảo tồng Bảo tàng Bộ Văn hóa, Khoa Sử Đại học Tổng hợp HàNội, Viện Bảo tàng Lịch sử đã cùng Sở Văn hóa Hải Phòng, và Ty Văn hóaQuảng Ninh tiến hành khảo sát, khai quật và nghiên cứu. Ngoài ra, cònphát hiện những cọc tương tự ở cửa sông Kênh (đồng Vạn Muối), cửa sôngNam giáp sông Bạch Đằng, phía dưới sông Chanh…

Hai mẫu gỗ ở cửa sông Chanh được xácđịnh niên đại bằng phương pháp các bon phóng xạ, cho kết quả 615+100 và850+100 năm sau Công Nguyên. Nhưng theo ý kiến của những người nghiêncứu thì những bãi cọc này thuộc phạm vi trận địa Bạch Đằng phá quânNguyên năm 1288, chứ không phải bãi cọc của Ngô Quyền diệt quân Nam Hánnăm 938.

(4) Về thời điểm xảy ra trận Bạch Đằng, các bộ chính sử chép không cụ thể và không thống nhất.
Việt sử thông giám cương mụcchép Ngô Quyền diệt Kiều Công Tiễn và phá quân Nam Hán vào “mùa thu,tháng chín” năm Mậu Tuất, tính ra dương lịch là từ 27/9 đến 25/10/938.
Đại Việt sử ký toàn thư lại chép những sự kiện trên vào “mùa đông, tháng Mười”, tính ra dương lịch là từ 26/10 đến 24/11/938.
Việt sử lược chép vào “mùa đông, tháng Chạp”, tính ra dương lịch là từ 25/12/938 đến 22/1/939.

Về mặt sử liệu học thì trong ba tài liệu trên, Bộ Việt sử lược được biên soạn sớm nhất (vào đời Trần), gần với thời gian xảy ra sự kiện hơn hai bộ sử đời Lê và đời Nguyễn. Sự ghi chép của Việt sử lượclại phù hợp với nhiều thần tích Ngô Quyền và các tướng tham gia trậnBạch Đằng, trong đó có thần tích ở Hoàng Pha (Hoàng Động, Thủy Nguyên,Hải Phòng) chép cụ thể trận Bạch Đằng xảy ra vào ngày 7 tháng Chạp nămMậu Tuất, tức ngày 31/12/938…

(Theo VNE/bee)