Về tác phẩm Siddhartha” hay “Câu chuyện dòng sông” của Hermann Hesse”

0
132

“Hermann Hesse không những chỉ thông suốt lịch sử văn hóa Tâyphương mà còn quán triệt kiến thức sâu sắc của gia tài văn hóa Á đôngnhư Ấn độ và Trung hoa trên các bình diện văn chương, tôn giáo và triếtlý qua các tác phẩm của Leopld Schroeder (Bhagavadgita) và Karl EugenNeumann (Lời dạy của Ðức Phật)…”

Tácphẩm “Tất Ðạt Ða” hay như Hermann Hesse đã có lần gọi “Thi ca xứ Ấn” đãxuất hiện lần đầu tiên năm 1922 do nhà xuất bản S. Fischer tại Bá Linhấn hành. Trước khi tác phẩm này ra đời, như Hesse đã ghi chú trong mộtlá thư ngày 5. 2. 1923, “đã có không những chỉ 3 năm bộn bề công việcvà kinh nghiệm nhọc nhằn mà còn có hơn hai mươi năm trăn trở thao thứcđa dạng với hiền triết Ðông phương”. Hesse đã bắt đầu viết cuốn tiểuthuyết mà ông thường gọi là câu chuyện Tất Ðạt Ða vào mùa đông năm1919, sau khi viết xong phần đầu thì bị khủng hoảng sáng tác mất gầnmột năm rưỡi trời. Năm 1920 Hesse đã ghi trong tập “Từ một cuốn nhậtký”: “Trong tác phẩm “Thi ca xứ Ấn” của tôi việc sáng tác đã rất tuyệtvời bao lâu tôi còn thi hóa được những gì mà tôi sống thật: tâm trạngcủa chàng Bà la môn trẻ tuổi thao thức đi tìm chân lý, rồi tự dằn vặtvà tự ép xác khổ hạnh, rồi dần dần học được sự tôn thờ  kính nể nhữnggì cao cả và sau đó nhận chân rằng chính sự kính nể này lại là một trởngại để tiến đến điều tuyệt đối. Khi tôi đã chấm dứt giai đoạn đi vớichàng Tất Ðạt Ða nhẫn nhục và khổ hạnh và định bắt đầu sống với chàngTất Ðạt Ða chiến đấu quằn quại đau khổ, rồi với chàng Tất Ðạt Ða kẻchiến thắng, kẻ thừa nhận và chế ngự cuộc đời, thì bị tắt nghẽn khôngsáng tác được nữa.”

Với lời tuyên bố thành thật này, Hessekhông những đã cho ta biết cơ cấu hình thức của câu chuyện, mà còn chota biết rằng ông chỉ muốn diễn đạt những biến chuyển và trạng thái nộitâm của chính mình trong câu chuyện thần thoại Ấn độ đang sáng tác,những cảm xúc mà ông đã nhận thức và đã thực sự trải qua. Năm 1919 cũnglà năm mà Hesse chia tay với gia đình và đang ở trong một hoàn cảnh khókhăn về mặt xã hội cũng như tâm lý. Chính hoàn cảnh ấy đã ảnh hưởngphần nào sự khủng hoảng sáng tác của ông. Bởi thế Siddhartha đã mangnhững nét tiểu sử của chính tác giả và phần thứ hai của tác phẩm có thểxem như giai đoạn giải phóng và tự qui của chính bản thân tác giả.Trong lúc sinh thời, Hesse thường chống lại lối giải thích cho rằng”Tất Ðạt Ða” (hay “Câu chuyện dòng sông”) là một quyển sách giáo huấn,có nghĩa là một loại sách làm kim chỉ nam hướng dẫn đi đến chân lý hiềntriết hay đạt đến cách sống đứng đắn. Ông không bao giờ có ý hướng đóngvai trò một nhà mô phạm hay một người lãnh đạo phong trào – như ông đãthổ lộ năm 1953 trong một bức thư nhìn lại quá khứ của mình, “mà đúnghơn là một kẻ tự thú, một người hướng thượng và là một kẻ đi tìm, mộtkẻ không có gì khác để trao tặng con người ngoài sự thú nhận chân thànhkhả thể nhất về những điều kẻ ấy đã trải qua và đã trở thành trọng yếucho cuộc sống của chính mìnn”.

Có một ghi chú của Hesse trong lời nóiđầu cuốn Siddhartha phát hành tiếng Ba-tư rất bổ ích cho việc hiểu rõSiddhartha. Ở đó Hesse đã tả tác phẩm Tất Ðạt Ða (Câu chuyện dòng sông)như là “sự thú nhận của một người vốn có nguồn gốc giáo dục theo Ki tôgiáo, đã rời bỏ nhà thờ rất sớm và đã cố gắng tìm hiểu các tôn giáokhác, nhất là của Ấn độ và của Trung Hoa. Tôi tìm cách để biện minh vàlập luận cho những gì làm nền tảng chung cho tất cả các tôn giáo vànhững hình thức hiếu thuận của con người, những gì vượt lên trên tất cảnhững khác biệt quốc gia, những gì đều được mỗi chủng tộc và mỗi cánhân riêng lẻ tin tưởng và kính trọng.”

Trong tương quan với những điều nóitrên cũng nên nêu rõ ở đây rằng Hesse không những chỉ thông suốt lịchsử văn hóa Tây phương mà còn quán triệt kiến

Bìa tiểu thuyết Câu chuyện dòng sông, Thái Kim Lan dịch

thức sâu sắc của gia tài văn hóa Á đông như Ấn độ và Trung hoatrên các bình diện văn chương, tôn giáo và triết lý qua các tác phẩmcủa Leopld Schroeder (Bhagavadgita) và Karl Eugen Neumann (Lời dạy củaÐức Phật), cũng như của Martin Buber (chuyện tình và chuyện ma củaTrung quốc) và của Richard Wilhelm (Lão tử, Trang tử, Lý tử). Ngay cảyếu tố nguồn gốc gia đình cũng đã hỗ trợ ông trong việc hiểu biết vănhóa Á châu. Ông ngoại của ông, ngài Hermann Gundert, đã được xem làngười hiểu biết sâu xa thế giới văn hóa Ấn độ. Thân phụ ông đã nhiềunăm phục vụ công tác truyền giáo tại Ấn và cuối cùng, người anh họ màông rất thân, ông Wilhelm Gundert đã được đánh giá là một trong nhữngngười chuyển đạt văn hóa miền viễn đông quan trọng nhất với tác phẩmdịch sang Ðức ngữ “BÍCH GIAN LƯU” (BI-Yän Lu: Bản văn về Thạch bíchđộng). Năm 1911 Hesse đã làm một chuyến viễn du sang Ấn độ – như ôngnói – do “nhiều thôi thúc túng quẫn nội tâm”, đến năm 1913 chuyến viễndu này thoạt tiên đã được ghi thành tài liệu trong cuốn ký sự “Từ xứẤn. Ghi chép về một chuyến viễn du Ấn độ.”, nhất là trong truyện ngắn”Người Âu châu” và cuối cùng đã được Hesse mài dũa văn chương theo nộidung nên thơ và triết lý của nó trong cuốn Siddhartha.

Cuộc viễn du của Hesse đã chấm dứt vớisự thất vọng: “Lòng đầy khao khát, chúng tôi đã đi về miền Nam và miềnÐông, bị thôi thúc bởi niềm linh cảm mịt mờ và tri ân, và nơi đây chúngtôi tìm thấy được Thiên đường, sự phong phú và lộng lẫy giàu có của tấtcả những ưu sủng thiên nhiên, chúng tôi tìm thấy những con người đơngiản mộc mạc và trẻ thơ. Nhưng chính chúng tôi lại thật là khác biệt, ởđây chúng tôi là những kẻ xa lạ và không có một chút quyền công dânnào, từ lâu lắm chúng tôi đã đánh mất Thiên đường, và cái thiên đườngmới mà chúng tôi muốn có và muốn xây dựng lại không tìm thấy được ở nơimiền xích đạo của trái đất, lại cũng không ở những vùng biển nồng ấmcủa miền đông mà nằm ngay chính trong chúng tôi và trong tương lairiêng tư của miền bắc.”

Hình ảnh lý tưởng Ấn độ mà Hesse đãnuôi dưỡng từ thời thơ ấu đã đưa ông đến những kinh nghiệm viễn du đầythất vọng này và rốt cùng dẫn đến sự nhận thức rút tỉa những hứng khởitừ triết lý Ðông phương và nhất là từ thế giới quan Phật giáo, nhậnthức về tính nhất thể của nhân loại và về sức mạnh của tư duy nhất thểtrong mỗi một người. Trong tập ghi chú nhật ký ngày 17. 2. 1921 Hesseđã diễn tả nội dung triết lý của kinh nghiệm chuyến đi Ấn độ như là “sựtrở về cái Toàn thể không phân chia của mỗi cá thể, là bước đi giảithoát (giải phóng) sau cái nguyên lý nhất thể không chia cắt, và nhưthế, nói theo ngôn ngữ tôn giáo, là sự trở về của mỗi linh hồn cá thể(tiểu ngã) với linh hồn toàn thể (đại ngã), sự trở về với đấng tuyệtđối”.

Trong viễn tượng nói trên, Siddharthacủa Hesse là một bản tường thuật về kinh nghiệm sống, diễn tả sự nhấtquán của những mâu thuẫn khai trừ lẫn nhau trong chính CÁI TÔI, CÁI NGÃriêng tư trong bối cảnh của một Ấn đọ vô không gian và đầy huyền bí.

Trong ý nghĩa  này có thể nói trongSiddhartha những yếu tố tây phương cũng như đông phương đã được liênhợp với nhau. Trên phương diện hình thức – và từ quan điểm Tây phương –có thể đọc Siddhartha như một tập truyện dù đã được “ngoại hóa” bằngnhững chất liệu Á đông nhưng vẫn còn nằm trong truyền thống của loạitiểu thuyết giáo dục triển khai của Ðức, từ lý do Hesse đã dựa vào lịchsử cuộc đời của Ðức Phật Cồ Ðàm lịch sử có tên là Siddhartha(Siddhartha có nghĩa là kẻ đã đạt được mục đích của mình). Ngay cả cơcấu bên ngoài của cốt chuyện, gồm có hai phần chính với 4 chương cũngnhư 8 chương liên hệ, theo Leroy R. Shaw, người bình giải tác phẩm củaHesse và là người đầu tiên đưa ra nhận xét này, cũng có thể hiểu Hesseđã dựa vào lời dạy của Ðức Phật về Tứ Diệu Ðế và Bát Chánh Ðạo để cấutạo bộ sườn của cốt chuyện. Từ quan điểm nội dung, khi diễn tả lịch sửtrưởng thành của người con trai thuộc dòng bà la môn Siddhartha, Hesseđã dựa vào lời dạy của Ðức Phật về sự trở thành nhất thể, nhất quángiữa Ngã thể và ý niệm Ðại ngã tuyệt đối. Nhưng tất cả những điểm giảithích về hình thức cũng như về nội dung ấy không nên được đánh giá mộtcách quá đáng, bởi lẽ ngay trong trung tâm của tác phẩm vấn đề tôn giáonói đến không phải là một vấn đề đặc thù mà là một vấn đề phổ quát vàcái “mô típ” tôn giáo đông phương trong Siddhartha có lẽ cũng có thểxem như những dấu mật mã cho biết tương quan sâu xa của Hesse đối vớitruyền thống tôn giáo của ông, ví dụ Ðức Phật có thể được hiểu trongtâm khảm của Hesse là hình ảnh lý tưởng mà Hesse muốn thấy trong biểutượng Jesus quen thuộc hay tiếng “OM” có thể hiểu như là vương quốc củađấng tối cao tuyệt đối.