Văn hóa Phật giáo trong nghìn năm văn hiến Thăng Long

0
141

Sựcó mặt của hàng nghìn các vị cao tăng cùng các nhà phật học uyên bácnhất trên thế giới đến Việt Nam trong đại lễ Phật đản VESAK 2008 vừaqua, không những đã phá tan những xuyên tạc về chính sách tôn giáo củaViệt Nam mà còn nâng uy tín Phật giáo Việt Nam lên một vị trí cao trongthế giới Phật học.

Tìnhhình trên khiến tôi liên tưởng đến một không khí Phật học thịnh phát đãtừng diễn ra cách đây một ngàn năm. Chỉ còn hai năm nữa, toàn thể nhândân ta sẽ cùng Thủ đô Hà Nội kỷ niệm ngàn năm lịch sử của Thăng Long.Kỷ niệm ngàn năm Thăng Long cũng là kỷ niệm ngày Lý Thái Tổ dời đô từHoa Lư ra mảnh đất của thành Đại La năm ấy và của Hà Nội hôm nay. Từkhi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng giành lại non sôngđất nước sau ngàn năm bị nước ngoài chiếm đóng, thì hào khí dân tộcngày càng dâng cao, qua các triều Đinh, Lê để đạt tới đỉnh cao ở triềuLý và sau đó là ở triều Trần.

LýThái Tổ đã thể hiện hoài bão lớn của dân tộc là xây dựng một Tổ quốchùng cường để vĩnh viễn không bao giờ còn rơi vào tay giặc. Cùng vớiviệc phát triển kinh tế, ổn định xã hội, củng cố chính quyền, xây dựnglực lượng võ trang, Lý Thái Tổ đã mở đầu cho sự hùng cường cho dân tộc.Lý Thái Tổ không chỉ dừng lại ở đó mà đã sớm thấy sự cần thiết là xâydựng một Tổ quốc phát triển cả vật chất và tinh thần, không chỉ kinh tếmà còn cả văn hóa. Là một người xuất thân từ nhà chùa, lại hằng ngàytiếp xúc với nhân dân lao khổ, Lý Công Uẩn đã sớm nhận ra sự gần gũigiữa Phật giáo và dân tộc. Ông đã chủ động khai thác quan hệ này trongsự nghiệp phục hưng đất nước.

Chùa Láng-một di tích lịch sử và văn hóa của Hà Nội. Ảnh: Google

Đã từ lâu, Phật giáo đến với Việt Namnhư một luồng sinh khí đem lại niềm tin và hy vọng cho một dân tộc đangquằn quại dưới ách ngoại xâm. Đã từ lâu, dân tộc Việt Nam vốn lấy tìnhthương làm lẽ sống, đã trở thành một mảnh đất được chuẩn bị sẵn để tiếpthu đạo Phật. Lý Thái Tổ ngay từ đầu đã nắm vững mối quan hệ ấy giữaPhật giáo và dân tộc, để biến quan hệ ấy thành một sức mạnh tinh thầntrong sự nghiệp phục hưng Tổ quốc qua các triều đại nhà Lý. Trước hết,Lý Thái Tổ dành toàn bộ tâm huyết để xây dựng một nước văn hiến, mànòng cốt của nó là mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong truyềnthống của dân tộc Việt Nam.Vốn đặt nghĩa vị tha lên trên lòng vị kỷ, con người Việt Nam dễ dàngxóa bỏ những ràng buộc của Tham Sân Si, để xây dựng được một tìnhthương mênh mông không chỉ trên đất nước mình mà còn bao trùm lên cảnhân loại khổ đau. Thực hiện tinh thần này, các vua nhà Lý đã kế tiếpnhau yêu dân như con, tạo nên một cuộc sống hòa thuận gắn bó với nhaucùng quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, chống mọi quân xâm lược. Tình thương ấylà cơ sở cho một chủ nghĩa anh hùng mang đặc điểm Việt Nam,một chủ nghĩa anh hùng sáng rực đạo lý làm người, không chỉ vì độc lậpvà phồn vinh của Tổ quốc và cũng vì cuộc sống hòa bình và hữu nghị củacả nhân loại.

Sựgắn bó giữa Phật giáo và dân tộc trước hết thể hiện ở khí phách lớn laocủa toàn dân qua cái nhìn sáng suốt của Lý Thái Tổ. Mới lên ngôi được 4tháng, ông đã chuyển kinh đô ra giữa trung tâm của đất nước vì ông tintưởng rằng toàn thể nhân dân đang hào hứng và sẵn sàng cùng ông đươngđầu với mọi thử thách, trước hết là tham vọng xâm lược của nước ngoài.Khi Lý Thường Kiệt tuyên bố Nam quốc sơn hà Namđế cư thì bốn câu thơ của ông đã trở thành tuyên ngôn của cả dân tộc.Khí thế của toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ và phục hưng Tổ quốc ở thờikỳ này tất nhiên cũng là khí thế của văn hóa Phật giáo. Khi thiền sưDương Không Lộ viết: “Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh/Trường khiếunhất thanh hàn thái hư” (Có lúc lên thẳng đỉnh núi chót vót/Kêu lên mộttiếng lạnh cả bầu trời) thì hào khí ấy cũng không phải của riêng ông màcủa cả dân tộc. Câu thơ này đã lặp lại nhiều lần trong văn thơ Việt Namvà nổi bật nhất ở hai câu của Cao Bá Quát, khi nói về Phù Đổng ThiênVương: Vì nước quên thân, ba tuổi vẫn hiềm đã muộn/ Bầu trời xôngthẳng, chín tầng chửa thấy là cao”. Và khi nhà sư Nguyễn Quảng Nghiêmviết câu: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí/ Hưu hướng Như Lai hành tứhành” (Làm trai phải tự có ý chí xông thẳng lên bầu trời không phải cứtừng bước đi theo Như Lai), thì ông đã không nghĩ rằng đó chỉ là tâmtrạng của ông mà chính là tâm trạng của toàn thể thanh niên Việt Namlúc ấy.

Trướcđây, để phát huy cao nhất nhân tố Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệpcủa dân tộc, Lý Thái Tổ đã ngay từ buổi đầu, tập trung vào việc xâychùa, đúc chuông, tạc tượng. Chỉ trong một thời gian ngắn nhiều chùa hưnát được sửa chữa và nâng cao, và hơn 300 ngôi chùa mới đã được tạodựng trong nước. Con cháu của ông kể từ Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông,Thái hậu Ỷ Lan và Lý Nhân Tông đã tiếp tục sự nghiệp chấn hưng Phậtgiáo của ông. Việc xây dựng chùa chiền, đúc tượng, đúc chuông thời ấythực tế đã tạo ra một sự tốn phí rất lớn về tiền của. Điều này đã bịcác Nho gia về sau hết lời phê phán. Tuy nhiên, nhìn vào hiệu quả củanhững công trình nghệ thuật ấy, phải nói rằng Phật giáo đã ngọt ngào đisâu vào tâm khảm của toàn dân, tạo nên một lý tưởng sống vững chắc vìđộc lập của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Một nền văn minh ĐạiViệt rực rỡ đã được hình thành từ những ngày ấy. Đặc trưng của nền vănminh này là sự kết hợp truyền thống “thương người như thể thương thân”với tinh thần từ bi hỷ xả của đạo Phật. Một ngàn năm Văn hiến của Thủđô Thăng Long sắp kết thúc. Một ngàn năm tiếp theo của Thủ đô sẽ bắtđầu mở ra với những hoài bão và khí thế vô cùng to lớn. Phải chăngchúng ta lại đang chứng kiến một thời phục hưng mới với tầm vóc mới sovới thời phục hưng đời Lý?

Nguồn:qdnd.vn