Vấn đề tàng thức trong Duy thức học của Phật giáo

0
461

Tạp chí Tâm lý học số 3, 3 – 2013

ThS. ĐỗThanh Xuân  

Từ khóa: Duy thức học; Tàng thức; Phát triển; Nghiệp

Ngày nhận bài: 19/12/2012; Ngày duyệt đăng: 25/2/2013.


Duy thức học (The theory of mere-consciouness (Vijñaptimàtra-vàda)) là một mônPhật học phân tích bản chất, đặc điểm, quá trình hình thành và phát triển củacác hiện tượng tâm lý cũng như các sự vật, hiện tượng khác. Duy thức học khuyênnhững người tu hành nên có một cái nhìn vôngã giải thoát khỏi nhận thứcnhầm lẫn về bản thân thế giới (tựnhiên, xã hội và tư duy/tâm lý) mà thuật ngữ gọi là giác ngộ; đồng thời, Duy thức học cũng đưa ra lộ trình đạt đến sự giác ngộ đó. Trong phạm vi của một bài báo, chúngtôi xin trình bày khái niệm tàng thứctrong Duy thức học. 

1. Khái niệm

Khái niệm tàng thức là một khái niệm then chốt và quan trọng trong toàn bộDuy thức học, tuy nhiên, trước hết, để hiểu khái niệm tàng thức, chúng ta cần tìmhiểu một số khái niệm liên quan là alaya,àlayaàlaya-vijñàna.

a. Alaya

Theo Nguyên Giác [1], từ độngtừ √lì mà có từ laya nghĩa là mất, chìm,và cuối cùng là alayakhông mất, không chìm. Theo từ điển Phạn– Anh, alaya nghĩa là không tan rã,thường trực (non-dissolution, permanence);không ngưng nghỉ (restless) [2]. Theo từđiển Phạn – Trung, thì alaya có nghĩa làkhông ngừng nghỉ (無休止),không mất, liên tục (不滅, 廷續) [3].

b. Àlaya

Theo Nguyên Giác, từ à√lì mà có àlaya nghĩa là sự lắng xuống,chỗ ở, kho chứa. Theo từ điển Phạn – Anh, àlaya có nghĩa là ngôi nhà, nhà kho (a house, dwelling); đồ đựng, nơi trú ẩn (a receptacle, asylum).[4]

Theo từ điển Pàli – Anh thì àlaya có ba nghĩa : 1/ nghĩa gốc:chỗ đậu, tức là chỗ lưu lại, ngôi nhà (orig.roosting place, perch, i.e. abode settling place, house); 2/ “bám vào”, quyếnluyến, khát khao, giữ chặt lấy, thèm khát (“hangingon”, attachment, desire, clinging, lust); 3/ sự giả vờ (pretence, pretext, feint).[5]

Theo từ điển Phạn – Trung thì àlaya có nghĩa là chỗ ở (住居, 住宅, ); một trong các loại thức (thuật ngữPhật giáo) ( (vijñàna) 之一種佛術); (kinh văn 經文) nhà (, , );cung điện (, 宮殿);chỗ đậu, chỗ trú (, 窟宅, 巢窟) ;dựa vào (, , , 處所);kho (, 攝藏, 執藏);vướng mắc (, 所著).[6]

c. Àlaya-vijñàna

Theo từ điển Trung – Anh thì, thứca-lại-da [là thức mà] trong đó lưu trữ hạt giống của tất cả hiện tượng. Cơsở, nhận thức hay ý thức. Thức cơ bản (Alaya-vijñàna,in which is stored the seed of all phenomena.Foundation, perception or consciousness. Basic Consiousness).[7]

Theotừ điển Phạn –Trung thì àlaya-vijñàna có nghĩa làtàng thức, chân thức (藏識, 真識).[8]

TheoTừ điển Phật học Hán Việt, Tạng (Tàng) thức là a-lại-da thức, thức thứ8 trong số 8 thức. A-lại-da dịch là tạng, có nghĩa là chứa đựng tất cả cácchủng tử (hạt giống).[9]

Tàngthức (the storehouse consciousness, theeighth-consciousness) là khái niệm trung tâm, là nền tảng của Duy thức học.Tàng thức còn được gọi là vô một thức (thứcnắm giữ các hạt giống của tất cả sự vật hiện tượng, nó có thể thay đổi nhưngkhông bị mất hẳn), đệ bát thức (thứcthứ tám), bản thức (thức làm căn bảncủa các sự vật hiện tượng), thức chủ (thứcchủ đạo trong tám thức), chủng tử thức (thứcchứa đựng các hạt giống và sinh trưởng muôn vật), sơ sát-na thức (thức ở khoảnh khắc[10]đầu tiên, khi muôn vật trong vũ trụ sinh thành), sơ năng biến (cái năng biến (pariama) đầu tiên biểu hiện ra ngã và pháp), đệ nhất thức (thức đầu tiên)[11].Tàng thức có ba chức năng: năng tàng,sở tàngngã ái chấp tàng; nói cách khác, chức năng của tàng thứcgiữ gìn hay duy trì nănglượng và biểu hiện ra cơ thể, tâm lý(bảy thức trước) và thế giới (tự nhiên và xã hội).   

Khái niệm tàng thức của Duy thức học khá rộng, trong đó, vô thức của Phân tâm học là một phần của khái niệm này. Theo đó, vềmặt tâm lý, tàng thức là chỗ chứa đựngnhững kinh nghiệm của cá nhân với cảm xúc, ước mong, tư duy…, nơi chứa đựng nhữngthói quen cố hữu, những khả năng đã thuần thục, những mơ ước chưa thành.

Về mặt năng lượng, tàng thức chính là động lực, là năng lựccủa tái sinh. Vì thế, trong triết học Phật giáo, tàng thức vừa có vai trò của năng lượng, vừa là nguồn gốc của cáibiết, cái thấy, nó làm chủ thể cảm ứng với khách thể.

Đặc tính của tàng thức là nhận thức được sự vật và chính mình. Cả chủ thể lẫnkhách thể đều là sự chuyển biến của tàngthức khi tàng thức vô minh vọng độngmà tự tách mình ra làm hai: một chủ thể nhận thức và một khách thể bị nhận thức.Trên một mặt nhất định, ta có thể nói: chính tàng thức là yếu tố tạo tácra thế giới, mặt khác ta cũng có thể nói tàng thức “thấy”thế giới đúng như “nghiệp cảm” của nó. Điều đó có nghĩa là tàng thức hay nghiệp lực cá nhân và cộng đồng tạo racon người và các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ theo cơ chế chuyển biến. Và do đó, Duy thức học chorằng thực tại chỉ là những hình ảnh xuất hiện trong thời gian và không gian.Chúng (thực tại) tác động lẫn nhau để sinh thành theo những quy luật nhất định,nhưng chúng không có một chủ thể, một chất liệu chung. Chúng chỉ là củi và tro,hai trạng thái nối tiếp nhau, không có một cái gì đi từ củi qua tro. Thế giớihiện tượng không hề độc lập tồn tại trên cơ sở tự tính riêng, mà nó là khách thể xuất hiện cùng một lúc với chủ thể.Khách thể không có tự tính riêng biệt, nếu chủ thể diệt thì nó diệt theo.[12] Nói cách khác, đối tượng nhận thức của tàng thức là chính nó (tánh cảnh).Khi tàng thức tự nhận thức lại chính mình, thì đối tượng của nó (tức là chínhnó) lập tức biến thành thế giới ngoại cảnh, trở thành cái mà ta gọi là thực tạivật lý. Khi có một đối tượng khách quan thì phải có một chủ thể để nhận thứccái khách quan đó. Điều đó có nghĩa là, từ tàng thức, thế giới và thân tâm đượchình thành, do thức “chuyển biến” hay “biến hiện” ra. Tính cách của thế giới lẫnthân tâm của dòng tâm thức đó phù hợp với các hạt giống đang hiện hành trongtàng thức, đúng với nghiệp lực đang tác dụng.

2. Phân loại tàng thức

Căn cứ vào chức năng duy trì, phạmvi hoạt động và thời điểm chín muồi mà tàng thức được phân loại như sau:

-Căn cứ vào chức năng mà các nhà Duy thức học chia tàng thức ra làm ba loại:năng tàng, sở tàng và ngã ái chấp tàng.

+Năngtàng: chức năng duy trì sự hiện hữu của các sự vật hiện tượng hoặc trong trạngthái phát hiện hoặc trong trạng thái tiềm ẩn.

+Sởtàng: là nội dung của tất cả những gì được duy trì.

 Chấptàng: tàng thức thường bị mạt-na thức nhầm lẫn là thật có cái tôi và thậtcó các sự vật hiện tượng.

-Căn cứ vào phạm vi hoạt động mà tàng thức được chia thành tàng thức cá nhân vàtàng thức cộng đồng.

+Tàng thức cá nhân chính là nghiệpriêng. Đó là vô thức (Phân tâm học), cơ thể, hoàn cảnh xã hội, lý lịch, v.v…của một cá nhân.

+Tàng thức cộng đồng chính là nghiệpchung. Nghiệp chung của cộng đồng là hình thái kinh tế-xã hội, chế độ chính trị,văn hóa, lịch sử, pháp luật, v.v… của một quốc gia hay một cộng đồng nào đó(tương đương vô thức cộng đồng của Phân tâm học). Rộng hơn và khó nhận biếthơn, nghiệp chung còn là thế giới mà một loài sinh vật đang sống (đây là điểmkhác biệt với vô thức cộng đồng của Phân tâm học). Khi nói “thức tạo ra thế giới”thì thức đó là tàng thức cộng đồng.

-Với tư cách là hạt giống và căn cứvào mối quan hệ nhân – quả, thì tàng thức được chia thành: Dị thời nhi thục (ripening atdifferent times), Dị loại nhi thục (ripening of different varieties) và Biến dịnhi thục (ripening and changing).

Tàng thức là một tổhợp đủ loại hạt giống mà tiến trình chín muồi của chúng có nhiều khác biệt, nêntàng thức có một tên khác là dị thục thức ; dị là khác, thục là chín(ripening, vipāka). Dị thục là chín không đồng đều,chín một cách khác nhau. Khi chín, các hạt giống trong tàng thức mới hiện hànhở những thời điểm khác nhau.

+Dị thời nhi thục (ripening atdifferent times) là không chín cùng một lúc. Khi những hạt giống có sẵn và traotruyền gieo vào tàng thức và được củng cố sẽ chín trước hay chín sau tùy thờigian.

+Dị loại nhi thục (ripening ofdifferent varieties) là chín tùy theo loại. Trái chuối khi chín sẽ thành chuốichín chứ không thành mãng cầu chín, mãng cầu khi chín sẽ thành mãng cầu chínchứ không thành chuối chín.

+Biến dị nhi thục (ripening andchanging) là khi chín thì biến dạng mà không giống như khi mới sinh. Trái camkhi chưa chín thì xanh và chua, khi chín rồi thì vàng và ngọt.[13]

Một hạt giống mới gieo vào là một cáinhân gọi là nghiệp nhân (action-as-cause (karma-hetu)). Cái nhân đó khi chín sẽđưa đến một kết quả gọi là nghiệp quả (action-as-result (karma-phala)). Dị thục thức là tổng thể các hạtgiống, khi chín sẽ tạo ra một kết quả tổng hợp gọi là dị thục quả. Con người,cá tính, nhân cách trong giờ phút hiện tại là một dị thục quả, kết quả của nhiềuloại hạt giống đã chín.

Vậy dị thục thức (tàng thức) là sựkết hợp của tất cả các nghiệp nhân khi các nghiệp nhân đó chín. Khi đó, tâm lýlà một thứ nghiệp quả, ở một vị trí gần nhất với tổng thể các nghiệp nhân. Dịthục là động lực sâu xa dẫn dắt con người tới những nơi có sinh hoạt (môitrường, hoàn cảnh, cảnh giới, thế giới tái sinh, v.v..) mà cá nhân đó ưa thích.

Dị thục theo luật đồng thanh tươngứng đồng khí tương cầu (the Law of Affinity) đã tạo nên một sức mạnh khiến chocác cá nhân tập hợp lại thành mộtcộng đồng. Sức mạnh đó gọi là nghiệp lực. Khi cá nhântham dự vào giới hay địa nào đó là vì trong Dị thục thức cá nhân ấy đã sẵn cónhững hạt giống thích hợp với giới hay với địa đó.[14]

3/ Một số đặc điểm của tàng thức

Tàng thức vừa chuyển biến vừa liên tục.Tàng thức gồm có trong tự thân nó chủ thể (năng tàng) và đối tượng (sở tàng):hai phần này luôn luôn biến chuyển linh động. Nó được ví dụ như dòng sông: nướctrong dòng sông liên tục trôi chảy nhưng con sông vẫn như vậy. Trong thế giới hiện tượng, đặc điểm này được xem là tính liên tục củanhân quả: nhân quả trôi chảy, nối tiếp nhau liên tục mà thật ra các sự vật, hiệntượng vẫn luôn giữ được hình thức, hình thể, hình thái của nó. Sự vận động liêntục của nhân và quả gọi là dòng chảy[15].

Tàng thức không có hình thái, khôngcó dung tích. Trong thế giới hiện tượng, mỗi sinh vật có tàng thức của mình,trí tuệ và kiến thức không thể chuyển đổi từ tàng thức này sang tàng thức khác được. Tàng thức không chỉ là khả năng bảo trì hạtgiống tâm lý mà còn bảo trì sinh mạng của các loài vật và thế giới vật lý trongđó các loài vật tồn tại.

Sau khi chết, thức này dẫn nghiệptái sinh, chuyển biến hay trình hiện ra cho cá nhân một thế giới mới, một hoàncảnh mới tùy theo nghiệp riêng và nghiệp chung. Khigiác ngộ, thức này chuyển thành Đạiviên cảnh trí (Great perfect mirror wisdom).

3. Kết luận

Một trong những cơ sở Duy thức họcquan trọng nhất của mạt-na thức chính là tàng thức, tức chỉnh thể của thế giới.Tàng thức gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy/tâm lý, gồm cả cá nhân và cộng đồng.Mạt-na thức là sự chuyển biến từ tàng thức vốn được xem là cơ chế hoạt động củanó (mạt-na thức) trong quá trình hình thành và phát triển. Có thể nói, vấn đề tâm lý – nghĩa rộng nhất của mạt-na thức – là sản phẩmkhông chỉ của xã hội mà còn của tự nhiên, không chỉ của cá nhân mà còn của cộngđồng.


[1] NguyênTrưởng Khoa Tiếng Phạn (tiếng Sanskrit)thuộc Học viện Phật giáo tại TPHCM.

[2] 25, 94, c3.

[3] 29, 69.

[4] 25, 154,  c1.

[5] 26, 109.

[6] 2, 69.

[7] 24, 2.

[8] 29, 69.

[9] 11, 1144.

[10] Trong Phật học, đơn vị thời gianngắn nhất gọi là sát-na. Do trong Tâm lý học không có từ tương đương, nên luậnán tạm dùng từ khoảnh khắc.

[11] PQ1, 50.

[12] 2, 310.

[13] 8, 110-1.

[14] 8, 48-81.

[15] 15, 222.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.                 B.Ph. Lomov, Những vấn đề lý luận và Phươngpháp luận Tâm lý học (B. Ph. Lomov – Nguyễn Đức Hưởng, Dương Diệu Hoa vàPhan Trọng Ngọ dịch), NXB ĐHQGHN, 2000.

2.                 NguyễnTường Bách, Lưới trời ai dệt, NXB Trẻ,2005.

3.                 ThíchMinh Cảnh (chủ biên), Từ điển Phật học HuệQuang, NXB THTPHCM, 2004.

4.                 ThíchNhuận Châu (soạn dịch), Du Già Hành Tông, NXB Tôn giáo, 2005.

5.                 VũDũng, Từ điển Tâm lý học, NXB Từ điểnBách khoa, HN, 2008.

6.                 Samôn Thích Quảng Độ (dịch), Phật quang ĐạiTừ điển (quyển 1, 2, 3, 4, 5, 6), 2000.

7.                 ThạcĐức, Duy thức học thông luận, NXB Tôngiáo, 2003.

8.                 NhấtHạnh, Giảng luận Duy biểu học, NXB LáBối, 1996.

9.                 NhấtHạnh, Vấn đề nhận thức trong Duy thức học,NXB Lá Bối.

10.            HT.Thích Thiện Hoa (dịch), Duy Thức Học,NXB Tôn giáo, 2006.

11.            Phânviện Nghiên cứu Phật học, Từ điển Phật họcHán Việt, NXB KHXH, HN, 1998.

12.            ThíchThiện Siêu, Đại cương Luận Câu Xá,NXB Tôn giáo, 2006.

13.            ThíchThiện Siêu, Thức biến, NXB TPHCM,2002.

14.            TuệSỹ (dịch và chú giải), A-tì-đạt-ma câu xá,NXB Phương Đông, 2012.

15.            TuệSỹ (dịch và chú giải), Luận Thành duy thức,NXB Phương Đông, 2009.

16.             Tuệ Sỹ (dịch), Tinh hoa Triết học Phật giáo, Ban Tu thư Phật học, 2004.

17.            LêMạnh Thát, Triết học Thế Thân, NXB Tổnghợp TPHCM, 2005.

18.            ẤnThuận, Tìm hiểu nguồn gốc Duy thức học(Thích Quảng Đại dịch), NXB Tôn giáo, 2006.

19.            NguyễnQuang Uẩn (chủ biên), Tâm lý học đạicương, NXB ĐHQGHN, 2008.

20.            Akira Hirakawa, A Buddhist Chinese – Sanskrit Dictionary, The Reiyukai, Tokyo, 1997.

21.            Arun Kumar Singh, The comperhensive history of Psychology, Montilal BanarsidassPublishers Private Limited, Delhi,2006.

22.            Daisetz Teitaro Suzuki, Studies in the Lankavarara Sutra, MunishiramManoharlal Publishers Pvt. Ltd, 1998.

23.            Jadunath Sinha, Indian Psychology, vol. 1, 2, 3, Montilal BanarsidassPublishers Private Limited, Delhi, 2008.

24.            Chinese –English Dictionary, Foreign Language Teaching and Research Press, 2003.

25.            Monier Monier-Williams, Sanskrit – English Dictionary, Montial Banarsidass Publisher,Private Limited, Delhi, 2002.

26.            T.W. Rhys David, William Stede, Pali – English Dictionary, MotialBanarsidass Publishers Limited, Delhi,1997.

27.            Wei Tat, Ch`engWei-shih Lun Publication Commitee, 1973.

28.            中英佛教词 典,Foreign Languages Press, Beijing, China, 2005.

29.             林光明, 林怠馨, 梵漢大辭 , 嘉豐出版社, 2004.