Từ câu chuyện về cậu bé ở Bản Cọi thử suy tưởng về đầu thai

0
157

Gần đây trên phương tiện truyền thông nói nhiều đến trường hợp đầu thaicủa cậu bé gốc ở thị trấn Vụ Bản, đầu thai vào bản Cọi, huyện Lạc Sơn,tỉnh Hòa Bình. Thông tin này thu hút sự chú ý của xã hội và một số nhànghiên cứu. Về hiện tượng này có nhiều cách nhìn nhận và đánh giá thậmchí trái chiều nhau. Một số nhà khoa học như TS Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp khoa học công nghệ tin học ứng dụng (UIA), nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người khẳng định tính hiện thực của đầu thai. Ngược với hai nhà khoa học này là TS Đỗ Kiên Cường, PGSTS Trần Hữu Bìnhlại phủ nhận . TS Đỗ Kiên cường coi trường hợp cháu Bình là “rối loạntâm thần dạng phân ly nhân cách” trong khi trong khỏe mạnh, không cóbiểu hiện gì là rối loạn. Những gì cháu nói đều được người biết sự việcxác nhận. Sau một hồi cố gắng lý giải theo thần kinh bệnh học, PGSTSTrần Hữu Bình lại kết luận đây là trường hợp tâm lý đặc biệt cần nghiêncứu. Rõ ràng, sự bác bỏ của họ là thiếu tính thuyết phục. Làngười từ lâu đã quan tâm đến các hiện tượng hiếm thấy (nhiều người gọilà dị thường) tôi xin góp mấy dòng từ sự suy tưởng của mình để cùngchia sẻ với bạn đọc.

Hiệntượng được gọi là đầu thai không phải đến nay mới có và cũng không phảichỉ thấy ở Việt Nam. Những câu chuyện về sự “lộn lại” của những đứa trẻchết yểu đã từng được kể từ rất lâu ở nhiều địa phương. Thậm chí cónhững gia đình đã đánh dấu vào đứa trẻ trước khi đem chôn để khỏi lộnlại. Nhưng kết quả là đứa bé được đánh dấu ở chỗ nào, như thế nào thìlần sinh sau của bà mẹ đứa trẻ có vết dấu ở chỗ đó và như thế ấy. Nhưngrồi sau một thời gian rộ lên, ít lâu câu chuyện lại chìm vào dĩ vãng,không còn ai quan tâm. Người viết bài này đã từng được thấy mộttrường hợp, đứa trẻ sinh ra không có 10 ngón chân được cho là đứa trẻ ởlàng bên “lộn lại”. Số là, Ở làng bên có người sinh nhiều lần khôngđược nuôi, nhiều lần đánh dấu trước khi đem chôn nhưng vẫn thấy quaylại nên vào lần cuối, người ta chặt 10 ngón chân trước khi đem chôn.Kết quả là họ không gặp sự “lộn lại” nữa. Khi câu chuyện đau lòng đượctiết lộ ra ngoài, đứa bé đó đã chửi rủa người làm hại mình và nguyềncho gia đình ấy tuyệt tự. Đứa bé tật nguyền sau này vẫn lớn lên bìnhthường, tuy gặp nhiều khó khăn trong việc di chuyển nhưng cũng quên đinỗi sân hận với người được cho là thủ phạm hại mình. Người dân địaphương cũng không ai quan tâm đến nữa.

Saunày khi có phương tiện truyền thông, những chuyện lạ, trong đó cóchuyện đầu thai được biết đến rộng rãi và khoa học bắt đầu quan tâm,thành những vấn đề tưởng như nóng hổi mới mẻ. Vào đầu thập niênnày (khoảng 2001-2002) báo chí cũng rộ lên đưa tin vụ đầu thai ở LangChánh, một huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa. Sau một thời gian ngắn,câu chuyện tưởng lạ cũng không có ai nhớ nữa. Đến bây giờ muốn tìm lạinhững bài báo khi đó cũng khó thấy và có đến tận nơi hỏi thì chắc mấyngười còn nhớ để kể cho nghe. Do vậy, thiết nghĩ không cần phải đặt ravấn đề là có hay không có đầu thai, mà chỉ cần ghi nhận nó như một hiệntượng hiếm thấy.

Vấn đề đầu thai đã được thế giới, đặc biệt làMỹ nghiên cứu cách đây 50 năm. Đi đầu trong nghiên cứu này là bác sĩStvenson, tiếp đó là Jim B Trucker. Mới đây, năm 2010 nhà xuất bảnPhương Đông cho ra mắt bạn đọc cuốn Tiền kiếp có hay không?của Jim B Trucker. Nghiên cứu 2500 ca được cho là đầu thai của các nướcMỹ, Úc, Ấn Độ, Srilanca, Miến Điện, Thái Lan…tác giả cuốn sách đã giớithiệu những đứa trẻ có ký ức về kiếp trước, những đứa trẻ nói về vếtđánh dấu trên cơ thể được cho là từ tiền kiếp, những đứa trẻ có hồi ứcvề khoảng thời gian giữa hai kiếp (tức chưa đầu thai, LTC), khả năngnhận biết những người chưa hề gặp mặt…

Từ những thông tin được kiểm chứng, có độ tin cậy, tác giả cuốn sách rút ra kết luận và đặt ra một số câu hỏi khá lý thú.

1.Chưa hẳn là khẳng định, nhưng Jim B Trucker đã đồng quan điểm vớiStevenson cho rằng, giả thiết đầu thai là hợp lý cho những trường hợpđược nghiên cứu hơn là ngoại cảm hay vong nhập (hay phân ly nhân cáchtheo quan niệm của TS Đỗ Kiên Cường).Cách lý giải tốt nhất cho những trường hợp này, theo tác giả là nhữngký ức, tình cảm,và thậm chí cả các vết thương thể xác đều có thể truyềntừ kiếp này sang kiếp khác.

2. Hầu hết các đứa trẻ đầu thaichỉ nhớ về kiếp trước trong khoảng thời gian dưới 6 tuổi. Càng nhỏchúng càng nhớ về quá khứ nhiều hơn và chính xác hơn. Ngoài 6 tuổi hồiức về quá khứ của chúng mờ nhạt dần, trên 10 tuổi, chúng không còn hồiức nữa và hoàn toàn sống với cuộc đời hiện tại.

3. 70% trongsố các em đầu thai nhớ về cái chết vì nguyên nhân bất thường (tai nạn),nếu có người chết tự nhiên thì cũng đột ngột. Trong các trường hợp đượcnghiên cứu chỉ thấy hai dạng chết cơ bản: bất đắc kỳ tử và tự nhiên độtngột. Điều này cho thấy, cách chết là nguyên nhân khiến sau khi đầuthai nhớ về kiếp trước. Tác giả đã đặt câu hỏi, có thể chúng ta cũngđầu thai nhưng do cách chết tự nhiên không đột ngột mà không còn nhớ vềkiếp trước.

4. Qua hồi ức của các em, tác giả chỉ ra có một sốtrường hợp được giúp đỡ khi đi đầu thai, một số khác tự chọn nơi đầuthai, tức bố mẹ của mình.

5. Từ những ký ức về tiền kiếp, tác giả cho rằng, con người thường giữ lại mối liên kết nào đó với một kiếp sau khi chết.

6. Những câu hỏi được tác giả đặt như “khi nào và ở đâu thì được đầu thai”? Kết quả nghiên cứu cho thấy, có em phải đầu thai vào nơi không mong muốn. Đó là “mộtsố em nhỏ Miến Điện tự nhận mình từng là những người lính Nhật tử trậntại Miến Điện trong Chiến tranh thế giới thứ hai…có mong muốn được trởvề Nhật Bản” . Một số em khác tự chọn nơi và thời điểm đầu thai.Trong những trường hợp xảy ra ở châu Á, đôi lúc trẻ miêu tả sự việctrong đó các em đã nhìn thấy người bố, hoặc người mẹ tương lai và quyếtđịnh theo họ về nhà. Trong những trường hợp ở Mỹ, một số trẻ lại nóimình đã lên Thiên đường và chọn bố mẹ kế tiếp của mình. Tác giả đã nhậnthấy những câu chuyện không dễ gì kiểm chứng được, nhưng một số trườnghợp ở châu Á đã được kiểm chứng là có phần đúng ở chỗ vào khoảng thờigian thụ thai đứa trẻ, người bố hoặc người mẹ đã ở hoặc đến vùng mà cácem mô tả.

7. Jim B.Trucker lý giải những trường hợp xảy ra đầuthai lại trong cùng gia đình bằng mối gắn bó tình cảm vẫn còn rất mạnhgiữa người đã chết và những người đang sống. Đặc biệt trường hợp tiềnkiếp đứa trẻ bị chết còn nhỏ, ý thức của người này còn gắn chặt với giađình cũ của mình nên nó bị kéo về đó để đầu thai. Dĩ nhiên cơ chế lôikéo này vẫn còn là điều bí ẩn, nhưng tác giả đã hình dung “mộtlực cảm xúc trong thế giới ý thức sẽ kéo cá các nhân về những nơi haygia đình nhất định với một lực hút giống như lực từ trường”

8.Cái gì đầu thai sau khi kết thúc một kiếp? Từ những trường hợp đã đượcnghiên cứu cho thấy các ký ức, cảm xúc, những vết thương thể xác đều cóthể truyền lại kiếp sau. (Bác sĩ Steveson đã gọi những thứ mang theobằng cái từ chung “psychophore” (tiếng Hylạp có nghĩa là “mang theo mộttâm hồn”). Ông chỉ ra, “Những trường hợp của chúng tôi rõ ràng cho thấy có một thực thể nào đó mang theo ký ức cùng với nó sang kiếp sau”. Thực thể sau khi chết được gọi là tâm hồn có ảnh hưởng sâu săc đếnkiếp sau. Điều này được minh chứng bởi những vết bớt (chính là vếtthương trước khi chết). Các nhà nghiên cứu đều thống nhất, cái thực thểnào đó, có thể là ý thức tồn tại qua nhiều kiếp. Truck giả định sau khichết vẫn còn ý thức, những ý thức không đầu thai sẽ nhập vào ý thức vũtrụ hoặc tới một không gian khác chẳng hạn như thiên đường. Hoặc đầuthai vẫn thường xuyên diễn ra nhưng không truyền lại ký ức về kiếptrước.

Quanđiểm của hai nhà nghiên cứu trên có điểm tương đồng với một số nhà vậtlý hiện đại (chẳng hạn như Andrei Lide, đại học Standford) đã coi ýthức là một thực thể hoàn toàn tách biệt với bộ não và có những chứcnăng rất quan trọng trong vũ trụ.

Trường hợp của cậu bé Tiến –Bình và các trường hợp khác ở bản Cọi có những điểm cũng tương tự nhữngca nghiên cứu của các bác sĩ người Mỹ. Em bé ở Vụ Bản cũng chết đuối -cái chết bất đắc kỳ tử, em yêu quí bố mẹ, gia đình, nơi mình từng sống.Em đã rất muốn quay về đầu thai trở lại nhưng em cho biết: “Con cũng đãquay về nhà nhưng đến cái cống đầu ngõ có một người to lớn cứ chặn conlại rồi đuổi đi nên không vào được nhà. Một hôm đang ở dưới chân cầu VụBản (nơi Tiến chết đuối) gặp bố Hoan mẹ Dự đi chợ về con theo về XómCọi” . Vả lại, thực tế mẹ (trước) của em không còn khả năng sinh đẻ nênem “chọn” bố mẹ gần đó (bản Cọi) để có cơ hội tìm về với gia đình cũcủa mình chăng? Em Tiến – Bình không phải là trường hợp độc nhất ở bảnCọi. Ông Bùi Văn Tỉnh, trưởng bản Cọi cho biết, ở bản Cọi đã ghi nhậnba trường hợp con lộn. Người Mường quan niệm, những đứa trẻ dưới 12tuổi bị chết bất đắc kỳ tử có khả năng “lộn” về và vào một người nàođó. Người bị lộn sẽ có khả năng nhớ và kể lại những gì diễn ra trướckhi chết ba tháng . Không phải là quan niệm mà thực tế trong một bảnhiện tại có 3 trường hợp được cho là đầu thai. Hiện nay cả 3 trường hợpcác em đều nhận cha mẹ trước của mình là cha mẹ nuôi. Chuyện đầu thaivới người Mường là thừa nhận tự nhiên, không có gì phải bàn.

Từnhững hiện tượng không phải là hiếm trên thế giới và ngay cả ở ViệtNam, tôi có một số suy tưởng về quá trình của cái gọi là đầu thai.

Đầu thai làmột quá trình từ lúc thụ thai đến khi sinh ra. Trong quá trình này cóhai thời điểm quan trọng, quyết định sự xuất hiện của một con ngườitrên cõi đời này.

Thời điểm thứ nhất là lúc bắt đầu thụ thai (thủy).Thời khắc bắt đầu được tính từ khi trứng và tinh trùng gặp nhau tạothành chân khí (phôi). Phôi thai phát triển, chân khí lớn lên, các bộphận, đặc biệt tim thai và bộ óc dần hoàn thiện. Tim và óc phát triểnđến đâu, tâm rõ ra đến đó. Tâm là sự trung hòa giữa bộ óc và con tim.Thời gian ở trong bụng mẹ, bào thai có hồn (thần thái) giống như cácsinh vật khác. Hồn là sự sống nói chung, hay nói một cách khác, mọi sựsống đều có hồn. Hồn vốn có đi với tâm lớn dần theo bào thai thành tâmhồn. Giai đoạn bào thai là thời kỳ phát triển tâm hồn của con người. Dovậy, nếu bà mẹ mang thai mà có tinh thần sảng khoái, tâm lý vui vẻ, thìtâm hồn đứa trẻ sau này nhẹ nhàng, tươi vui, dễ tính, dễ hòa hợp; ngượclại, người mẹ khắc khổ, buồn sầu, đứa trẻ sẽ không vui, khó hòa hợp,cuộc sống về sau không dễ dàng. Thời gian thụ thai (khởi thủy) kéo dàicho đến khi đứa bé sinh ra.

Thời điểm thứ hai là khi đứa bé nhận được linh nhập vào.Linh là cái còn lại của tâm (tâm khúc xạ tàn dư, hay tâm của quá khứ)sau khi con người kết thúc một đời (thân kiếp). Thời khắc linh nhập làkhi đứa bé vừa ra khỏi bụng mẹ. Đây cũng là thời khắc kết thúc (chung)quá trình đầu thai. Như vậy, linh (tâm của quá khứ) nhập hòa vào tâm(hồn) hiện tại để tạo ra một tâm – linh mới, một con người – một thânkiếp mới. Theo đây, đầu thai thực chất là quá trình cộng tâm (quá khứvà hiện tại) nên có thể gọi là cộng tâm chung thủy. Cộng tâm chung thủydiễn ra trong quá trình mang thai đến khi được linh nhập vào, tức khiđứa trẻ cất tiếng khóc chào đời (thoát thai).

Như vậy, cộng tâm chung thủy chính là sự đầu thai theo cách nói phổ biến hiện nay.Quá trình hình thành và phát triển của bào thai cũng giống như quátrình phát triển của sự sống tự nhiên trong Càn – Khôn. Ở đó diễn ra sựhòa hợp của hai yếu tố Âm – Dương (Khí và nước). Trong bất kỳ môitrường nào hai yếu tố này hòa hợp được với nhau cũng tạo ra sự sống.Ngược lại, nếu hai yếu tố này hòa mà không hợp, hoặc hợp mà không hòathì sự sống đều không thể hình thành được. Trên cơ sở lập luận này cóthể lý giải các trường hợp cả hai vợ chồng đều khỏe mạnh, có khả năngsinh sản tốt nhưng lại không thể sinh con khi ở cùng nhau.

Thụthai tự nhiên hay nhân tạo thì đều cộng tâm như nhau. Nếu thụ thai theocách tự nhiên, đứa bé có khả năng thích nghi với môi trường cao hơn vàkhỏe mạnh hơn trẻ thụ thai trong ống nghiệm. Do cộng tâm mà mỗi ngườisinh ra đều có tiềm năng tâm linh. Song không phải ai cũng phát huyđược năng lực đó. Có lẽ vì vậy mà một số người trong chúng ta bộc lộnhững khả năng mà tuyệt đại đa số còn lại không có.

Trong thựctế có những trường hợp bào thai trong bụng mẹ phát triển bình thườngnhưng sinh ra lại là người thiểu năng, hoặc sống kiểu thực vật thì phảichăng do nhập được linh yếu? Ngược lại có người sinh ra thân hình ốmyếu nhưng dồi dào về năng lực tâm linh là do linh khỏe nhập vào? Nếuđúng vậy thì linh là yếu tố quan trọng quyết định sức mạnh tinh thầncủa con người? Nếu giả thiết này mà đúng thì đây là cơ sở để lý giảinhững trường hợp đầu thai đã nói ở trên; và cũng có thể giải thíchtrường hợp những người con có tư chất khác nhau tuy được sinh ra bởicùng cha mẹ.

Như vậy, cộng tâm (đầu thai) là một quá trình từkhi bắt đầu hình thành bào thai cho đến khi bào thai được sinh ra vàlinh nhập vào thân xác. Cái gọi là linh hồn chỉ xuất hiện sau khi cócộng tâm. Linh hồn là trạng thái hòa nhập (hội duyên) chân khí và tâm.Mỗi lần hòa nhập là một thân kiếp. Khi tận duyên, tức chân khí và tâmkhông còn hòa nhập nữa thì cũng không còn cái gọi là linh hồn, tức đãkết thúc một thân kiếp, tức là chết.

Đầu thai thực chất chỉ là sự tiếp theo sau cái được gọi là chết. Chết là mốc chuyển giai đoạn của cái gọi là sống (hay sự sống tạm ngừng).Mốc chuyển giao bao lâu phụ thuộc vào sự lựa chọn của linh hồn. Nếulinh hồn minh giác, không chấp nhận thể xác ốm bệnh yếu đau mà rời bỏthì cái chết đến sớm và nhanh, ngược lại, linh hồn ham tiếc thân xác vàcuộc sống thì cái chết diễn ra muộn và chậm. Chết thế nào, chết khi nàophụ thuộc vào linh hồn sống ra sao trước đó. Nói cách khác, chết thếnào vào khi nào phụ thuộc vào kết quả của toàn bộ đời sống người đó,tức là theo luật nhân quả.

Do vậy, việc làm tốt nhất cho ngườisắp chết là giúp họ tỉnh thức, chấp nhận sự thật hiển nhiên tự nhiên,để họ tự nguyện nhẹ nhàng rời bỏ thân xác, không phải chịu đau đớn, làgiúp họ vơi đi gánh nghiệp đã tạo ra. Việc làm này có ý nghĩa hơn rấtnhiều là tổ chức tang ma. Khi lâm chung linh hồn không tỉnh thức thìmọi nghi thức sau đó như phục hồn, cầu hồn, cầu siêu… cơ bản giải quyếtvấn đề tâm lý cho người sống hơn là đem lại lợi lạc cho người chết. Saukhi thoát xác linh hồn chuyển sang dạng thức sẽ gặp Thiện thần, chuyểnthành nghiệp sẽ gặp Ác thần (ác quỉ). Cái gọi là gặp Thiện thần hay Ácquỉ chỉ là trạng thái của Thức và Nghiệp.

Theo đây, linh hồn vừalà thực thể (khi tâm và chân khí hòa nhập) vừa không phải thực thể khichân khí và tâm tách rời. Khi linh hồn không phải là thực thể thì nóchuyển thành Cái Thức hay Cái Nghiệp.

CÁI THỨClà linh siêu thoát, tức linh không đeo bám thân kiếp cũ. Coi đó là thứgiả tạm nên không tham tiếc cuộc sống đã qua để trở về với TÂM KHÔNG.Thức sẽ khó khăn rời bỏ thực tại nếu cái chết diễn ra trong sự đau khổvà níu kéo của người thân cũng như các nghi thức tang ma, cúng giỗ dànhcho họ kéo dài sau đó. Trong trường hợp này linh vô cùng đau khổ vìkhông được toại nguyện. Đây gọi là kính chẳng bõ phiền, hay thương nhaulắm cũng bằng hại nhau.

CÁI NGHIỆP làlinh không siêu thoát muốn ôm giữ, níu kéo thân kiếp, không chấp nhậnthực tại nên, mặc dù đau yếu mà vẫn không chết, làm khổ mình, khổngười. Sự khổ này kéo dài trong nhiều thân kiếp tiếp theo. Bởi nghiệpđeo bám mà mà tinh thần u mê, tăm tối tạo ra cảm giác bị nhốt trong địangục hay luôn trôi trong sáu nẻo luân hồi. Những nơi có nhiều linh mangnghiệp đeo bám đầu thai sẽ chịu hậu quả chất lượng dân số thấp kém, đờisống lạc hậu không văn minh. Chính vì vậy mà không có cái gọi là Thiênđường hay Địa ngục. Không có Thiên đường và Địa ngục nên không có cáigọi là “đàn phá ngục” hay đàn “cầu siêu”. Xuất phát từ tâm lý mong muốnsự an lành cho linh người chết mà các đàn này được lập ra nên không đạtmục đích giúp người chết siêu thoát, có chăng chỉ là thấy cái bóng củasự giải thoát mà thôi.

Khi đang sống linh hồn cần trạng tháigiải thoát, lúc lâm chung linh hồn cần trạng thái siêu thoát. Nếu khôngđạt được hai trạng này thì linh hồn tạo nghiệp và đeo nghiệp.

Mộtđời người hay một thân kiếp bắt đầu từ khi thụ thai (thủy), đến khichết (chung, hay tận duyên) là sự khế hợp giữa hai thực thể LINH (tâm)và THÂN (hồn) trong đó linh là thực thể vĩnh cửu, thân chỉ mang tínhnhất thời. Cái làm nên giá trị một đời người và còn lại và sau khi chấmdứt nó là Tâm chứ không phải thân. Không phải ngẫu nhiên đạo Phật nói“gột rửa thân tâm”. Hai động từ “gột”, “rửa” đều là làm sạch, nhưng rửalà làm sạch triệt để hơn, sạch bên trong, còn “gột” chỉ làm tạm sạchbên ngoài. Cái nhất thời thì không thể làm sạch tuyệt đối, cai vĩnh cửuthì không chỉ làm sạch nhất thời. Cũng không phải ngẫu nhiên dân giannói: “Tu tâm sửa tính”. Hai động từ này đều nói về sự điều chỉnh, nhưngTu là công việc lớn nhằm tới cái bền lâu dài còn sửa là việc nhỏ trướcmắt. Có lẽ vì vậy, cổ nhân đã đúc kết giá trị của một đời người bằngcâu: “Hổ chết để lại bộ da, người chết để lại danh tiếng”. Thiết nghĩ,con người khi sống nên cố gắng thu nhặt, tích lũy tri thức để tinh tiếnvề tinh thần – giá trị lâu dài hơn là tích lũy của cải, chăm lo cho cáithân. Được như thế thì sống thọ bao nhiêu năm không quan trọng bằngtiến bộ được bao nhiêu về mặt tinh thần. Tiến bộ về mặt tinh thần (tinhtiến – minh) hẳn sẽ siêu thoát dù có chấm dứt cuộc đời ở tuổi nào.Ngược lại, nếu không đạt được tinh tấn về tinh thần (tức vô minh) thìkéo dài cuộc sống đến bao nhiêu năm cũng là vô nghĩa.

Còn nếu vôminh, hám tiếc thân thì linh không siêu ắt phải đầu thai thành người cóđầu óc tối tăm, trái tim vô cảm, chìm đắm trong khổ đau, cái mà đạoPhật gọi là nẻo nghiệp luân hồi.

Biết về những hiện tượng đầuthai không phải để khẳng định có hay không. Người bảo có không đủ luậncứ để khẳng định, người nói không cũng khó phủ nhận chứng cớ hiểnnhiên. Có lẽ, nếu quan tâm đến hiện tượng này thì nên suy nghĩ về việccần sống ra sao để tạo công đức, để tinh tiến về tinh thần, thứ mà aicũng mang theo, không thể chối bỏ sau khi từ giã cõi đời. Thứ nữa, cầnlàm gì cho người đang lâm chung thay vì đau khổ hay tỏ lòng tri ân bằngviệc lo tang ma, cúng giỗ linh đình, xây mộ, lập bia hoành tráng, tốnkém. Những việc làm này chỉ tạo sự ràng buộc chặt thêm giữa người đangsống và đã chết trong khi việc cần làm là sao cho người chết được siêu,người sống được an.

Trên đây chỉ là những suy tưởng của cánhân nên còn mang tính chủ quan, luận giải chưa thấu hết lý. Rất mongbạn đọc trao đổi cùng.

Ngày tận năm 2010

TS. Lê Thị Chiêng
       (chungta)