Tiếng tụng kinh trong nhà một vị tướng

0
117

Hơn 25 năm tôi mới lại gặp ông. Không ngờ sức khỏe của ông sa sút đến thế. Ông không còn giữ được vóc dáng mạnh mẽ, thân hình quắc thước như ngày nào tôi mới gặp. Ông vừa trải qua một trận ốm nặng vì bị tai biến mạch máu não, tuy đã dần hồi phục nhưng nói vẫn chưa thật tròn tiếng, trí nhớ không còn được như trước, đi lại vẫn còn khó khăn.

Tôi nhớ lại lần đầu tiên gặp ông cách đây 37 năm, lần gặp đọng lại trong tôi như là một kỷ niệm không quên…

Tấm ảnh và nụ cười của vị Chính ủy

Đầu năm 1972, tôi và anh ThanhTụng, phóng viên nhiếp ảnh của Thông tấn xã Giải phóng Trung Trung Bộ,từ căn cứ của Ban Tuyên huấn Khu ủy V nhận nhiệm vụ xuống Quảng Đà làmphóng viên thường trú tại chiến trường này. Sau mấy ngày đêm theo giaoliên cuốc bộ từ Trà My về tới gần Sơn Phước, một huyện miền núi củatỉnh Quảng Nam, chúng tôi được tin lính Sài Gòn đang mở chiến dịch tấncông lên đây, đường dây giao liên xuống căn cứ của Đặc Khu ủy Quảng Đàbị cắt đứt, không thể đi tiếp.

Cô giao liên dẫn đường chobiết, để đảm bảo an toàn, chúng tôi phải đi theo đường mới, vòng ngượctrở lại trên núi cao để tránh các đoạn đường có lính Sài Gòn phục kíchrồi mới có thể xuống Quảng Đà. Nếu đi theo đường cũ, chỉ còn gần haingày đêm chúng tôi đã có thể xuống tới căn cứ Quảng Đà, còn đi theođường mới, vòng lên núi thì phải mất thêm ba ngày nữa mới tới nơi. Cảhai anh em chúng tôi đều rất ngại đi đường xa nên đề nghị cứ đi theođường cũ nhưng không được. Giữa lúc còn đang “dùng dằng” đó thì bất ngờchúng tôi gặp ba anh bộ đội giải phóng đi tới. Tôi đoán người đi giữa,cao to, đứng tuổi, có khuôn mặt chữ điền, đôi lông mày lưỡi mác rậmtrên đôi mắt tinh anh, sắc sảo, chắc là thủ trưởng, còn hai người línhđi theo chắc là bảo vệ. Chúng tôi chưa kịp chào hỏi thì, có lẽ thấy cảhai anh em chúng tôi khoác ba-lô, có máy ảnh đeo trên người, anh bộ độiđứng tuổi hỏi ngay:

– Hai nhà báo hả? Có xuống Quảng Đà không đấy?

Chúng tôi quá mừng, như có “quý nhân phù trợ”, nói luôn:

– Vâng, chúng tôi xuống Quảng Đà. Thủ trưởng có xuống đó cho chúng tôi đi cùng.

Anh bộ đội “thủ trưởng” đó cười rất tươi, rồi hỏi thẳng:

– Đường xuống đó đang bị địch phục kích, nhà báo có dám đi không?

Chúng tôi đều hồ hởi nói “dámđi”, rồi tạm biệt cô giao liên “dân chính” để cùng ba anh bộ đội theođường dây quân sự xuống Quảng Đà. Đến lúc đó chúng tôi mới biết “anh bộđội thủ trưởng” tên là Mai Thuận, Trung tá, Chính ủy Trung đoàn 36, Chủnhiệm Chính trị Mặt trận IV Quảng Đà. Chiều hôm đó, trong lúc dừng chânnghỉ tạm trong một căn lán của một đơn vị bộ đội chờ trinh sát đi nắmtình hình để tối xuống là vượt qua đoạn đường thường hay có địch phụckích, tôi lấy chiếc máy ảnh Pratika cũ kỹ mang theo chụp mấy tấm ảnh kỷniệm. Một trong những tấm ảnh đó tôi đã chụp Trung tá Mai Thuận ngồigiữa hai chiến sĩ bảo vệ, với nụ cười tươi, mà mãi 37 năm sau tôi mớicó dịp trao tận tay ông.

Ông “Thuận khàn” và “Cả nhà tớ đều là lính”

Nhận tấm ảnh nhỏ chụp ông vớihai người lính bảo vệ từ 37 năm trước, ông Mai Thuận rất vui. Vẫn nụcười và ánh mắt như trong tấm ảnh chụp từ 37 năm trước, chỉ có điềutrông hiền hơn, kém sắc sảo hơn, có lẽ vì ông đã bước vào tuổi 80 màlại vừa trải qua trận ốm nặng, trí nhớ không còn được như trước. Nhìntấm ảnh cũ, ông vẫn nhận ra mình và một người lính bảo vệ tên là Hành,còn người lính kia thì không sao nhớ nổi tên.

Năm 1984, sau 12 năm kể từ lầngặp đầu tiên ấy, tôi gặp lại ông Mai Thuận tại Trường Đảng cao cấpNguyễn Ái Quốc, khi ông về đây dự một lớp học Nghị quyết ngắn ngày dànhcho cán bộ cao cấp trong Quân đội, còn tôi đang theo học một lớp tậptrung, dài hạn tại đây. Lúc này ông đã là Thiếu tướng, Phó Tư lệnhChính trị Quân đoàn II, đóng tại Bắc Giang. Ông Mai Thuận là người cởimở, vui tính. Nhưng những chuyện ông kể với tôi về đời lính của mìnhđến nay tôi còn nhớ không phải là trong cuộc gặp sau này mà là tronglần gặp đầu tiên với ông, trong gần hai ngày đêm cùng đi đường với ôngtừ 37 năm trước.

Ông quê ở Dư Hàng Kênh, HảiPhòng. Năm 17 tuổi, đang theo cha làm công nhân “dây thép” (bưu điện)thì chàng thanh niên Mai Thuận trốn nhà, khai tăng thêm một tuổi để đibộ đội. Năm 1947, trong một trận chiến đấu ở Cầu Đuống, anh bị thương.Một viên đạn của địch xuyên qua cổ, chạm vào thanh quản khiến anh mấttiếng, gần một năm sau mới nói được, giọng cứ khàn khàn, nên đồng độiđặt cho anh biệt danh là “Thuận khàn”. Cái biệt danh “Thuận khàn” ấytheo ông đến tận bây giờ. Sau này, trong những năm tháng chiến đấu trênchiến trường Quảng Đà, ông bị thương lần thứ hai, vào sống lưng, đếnnay mỗi khi trở trời các vết thương cũ vẫn còn hành hạ ông.

Năm 1954, ở tuổi 25 chàng traiMai Thuận là Đại đội trưởng của Trung đoàn 36 – Trung đoàn bộ binh cơgiới mang tên Bắc Bắc (Bắc Ninh – Bắc Giang, tên địa phương nơi thànhlập), thuộc Đại đoàn (sau này là Sư đoàn) 308 Quân tiên phong lừngdanh, do tướng Vương Thừa Vũ làm Đại đoàn trưởng. Đại đội của anh thamgia chiến dịch Điện Biên Phủ trong đội hình của Trung đoàn 36 dưới sựchỉ huy của Trung đoàn trưởng Hồng Sơn, cùng Trung đoàn tiêu diệt 5 cứđiểm: Bản Kéo, 106, 206, 311B, 316, sáng tạo ra chiến thuật đánh lấn,góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến dịch.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ,ông Mai Thuận được điều về làm Phó ban Tổ chức của Đại đoàn 308 chuẩnbị tiếp quản Thủ đô. Năm 1956, ông cưới vợ. Vợ ông, bà Nguyễn Thị Bảy,là cô gái vùng đất Quan họ Từ Sơn, Bắc Ninh, theo gia đình tản cư lênThái Nguyên, năm 1953 theo anh trai vào bộ đội, làm y tá trong một Quâny viện ở Thái Nguyên, nơi ông Mai Thuận từng điều trị vết thương. Gặpnhau, yêu nhau suốt mấy năm, hai người hẹn nhau sau khi hòa bình mớilàm lễ cưới. Điều thú vị là đám cưới của bà Nguyễn Thị Bảy lại diễn racùng một lúc với đám cưới của anh trai mình, một chiến sĩ trong đại độido chồng mình làm Đại đội trưởng, ở hội trường của Nhà Bưu điện Bờ hồHà Nội trước đây.

Lần đi đường cùng ông MaiThuận 37 năm trước, tôi nhớ mãi câu nói của ông: ” Tớ, vợ tớ và con gáitớ đều là bộ đội. Cả nhà tớ đều là lính!”. Sau này tôi mới biết, khôngnhững ông, vợ ông, con gái đầu lòng của ông mà cả hai người con trai vàngười con rể của ông đến tuổi trưởng thành đều vào bộ đội, cả nhà ôngđều là lính.

Tiếng cầu kinh trong căn nhà vị tướng

Đến thăm ông Mai Thuận vào mộtbuổi sáng chủ nhật gần ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12năm nay, sau biết bao lần tìm kiếm điện thoại và nhà riêng của ông, tôiđược gặp cả vợ ông, bà Nguyễn Thị Bảy, cô nữ y tá quân y năm xưa.

Ở tuổi 75, bây giờ bà Bảy vừalà bác sỹ, vừa là y tá, vừa là hộ lý của chồng mình, nâng từng giấcngủ, lo từng viên thuốc, chăm từng bát cơm, thìa cháo cho ông. Bà kểvới tôi về tình nghĩa vợ chồng suốt 53 năm qua, trong đó có hơn 30 nămvợ chồng thường xuyên xa nhau, bà một mình nuôi con, chờ chồng biềnbiệt suốt những năm chiến tranh.

Năm 1968 ông Mai Thuận vào Namchiến đấu, còn bà trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của Mỹ trênmiền Bắc nhiều năm theo Đội Điều trị Quân y tiền phương vào Khu IV cứuchữa thương binh, nhiều lần gửi con cho cha mẹ, anh em họ hàng trôngnom. Cả ba người con cứ đến tuổi trưởng thành đều theo con đường củacha mẹ vào bộ đội.

Người con gái đầu là đại úy ởBộ Tư lệnh Thông tin trước khi về hưu, chồng là Thượng tá ở Bộ Tư lệnhThiết giáp. Cả hai người con trai của ông bà cũng đều vào lính: một làchiến sĩ thông tin trước khi chuyển ngành, một hiện là thượng tá, côngtác tại Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô. Còn bà, trước khi nghỉ hưu là đạiúy, công tác tại Quân y viện 354.

Trước khi đến thăm ông bà, tôicứ hình dung với chức tước như thế, công lao như thế, tướng Mai Thuậnchắc phải ở trong một biệt thự rộng rãi, sang trọng. Nhưng không phải.Ông bà ở trong một căn hộ tầng một của ngôi nhà tập thể cao tầng xây từhàng chục năm trước trong khu Nam Đồng mà ông Mai Thuận được cấp khi ông từ chiến trường ra và được thăng cấp tướng.

Trước đó, vợ con ông còn phảiở trong một căn phòng nhỏ ngăn ra từ một nhà tắm tập thể của quân đội.Căn phòng khách của ông bà hiện nay chỉ kê đủ hai chiếc ghế sa-lông, cólẽ chỉ rộng 6 – 7m2, đồ đạc chẳng có gì gọi là quý giá,ngoài một chiếc tivi kiểu cũ và những vật kỷ niệm một đời trận mạc củamột vị tướng. Từ chiếc phích pha nước là tặng phẩm của Ủy ban nhân dânphường Dư Hàng Kênh, quê ông, tặng, đến những bức tranh, bức phù điêusơn mài của “Ban Liên lạc cựu chiến binh E 36 – Bắc Bắc Anh hùng, F 308Quân Tiên phong Quảng Đà, Quân khu V” hay của “Trung ương Hội Cựu chiếnbinh tặng nhân “Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điên Biên Phủ”… còn có nhiềukỷ vật gắn liền với đời lính suốt mấy chục năm của ông.

Năm 1993, Sau khi nghỉ hưu,Tướng Mai Thuận có 15 năm làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh quận Đống Đa,Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Phó Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độcđiôxin Hà Nội. Hai năm trước, hàng tuần, người lính già ở tuổi 80 vẫntự đi xe máy tới trụ sở của Hội, chăm lo cho các đối tượng bị nhiễmchất độc da cam.

Chỉ đến gần đây, sau một tainạn xe máy và nhất là giữa năm nay sau lần bị tai biến mạch máu não,sức khỏe và trí nhớ giảm sút, Tướng Mai Thuận mới nghỉ hẳn công việc.Niềm vui của ông bà hiện nay là được ở gần các con cháu. Ông bà đã có 6cháu nội, cháu ngoại, chỉ có điều, như bà nói vui với tôi: “Tất cả đềulà công chúa, đều là “hoàng tử ngồi”! Căn hộ cũ kỹ của ông bà rộng hơn60 m2 hiện được chia làm ba, ông bà ở phòng giữa, vợ chồng hai ngườicon trai và các cháu ở hai phòng bên cạnh. Căn hộ đó không thể gọi làrộng rãi, đồ đạc không có gì là sang trọng như tôi hình dung.

Trong lúc ông Mai Thuận và tôicùng xem lại tập ảnh kỷ niệm của gia đình thì tôi nghe thấy tiếng gõ mõtụng kinh từ phòng trong vọng ra. Tiếng gõ mõ tụng kinh trong một buổisáng Hà Nội yên tĩnh, trời se se lạnh, khiến lòng tôi bâng khâng, xaoxuyến. Đợi bà Bảy ra, tôi chào ông bà ra về. Tiễn tôi ra cửa, bà Bảynói với tôi:

– Mấy năm nay, nhất là từ ngàyông nhà tôi lâm bệnh, ngày nào tôi cũng tụng kinh niệm Phật, mong TrờiPhật ban phúc lành cho ông nhà tôi sớm khỏi bệnh, cho gia đình, concháu được vui…

Tôi ra về mà như còn nghetiếng gõ mõ và tiếng tụng kinh từ căn phòng của vị tướng lừng danh trậnmạc năm xưa vọng theo. Tôi cầu mong lần sau trở lại Tướng Mai Thuận lạikhỏe mạnh và minh mẫn, lại cười sảng khoái nói với tôi: “Cả nhà tớ đềulà lính!”, như lần tôi gặp ông  cách đây 37 năm.

Nguồn: cand.com.vn