Thuyết J.Piaget về sự phát triển trí tuệ trẻ em (Phần 2)

0
275

1. Giai đoạn cảm giác – vận động (từ 0 đến 2 – 3 tuổi)

Trong giai đoạn này, trẻ nhận biết thể giới qua sự phối hợp cảm giác và vận động. Hay nói cách khác, phương tiện để hiểu biết của trẻ giai đoạn này là cảm giác và vận động. Về bản chất, giai đoạn trí tuệ cảm giác – vận động là trí tuệ vận động, chưa đạt tới mức biểu tượng và thao tác.

G.Piagie chia sự hình thành và phát triển trí tuệ trong giai đoạn này làm 6 thời kì.

– Thời kì l: (0 – 1 tháng), các phản xạ có tính chất bẩm sinh như mút, bấu, víu … được phát động do sự kích thích của môi trường và chúng càng được lặp lại nhiều lần thì càng có hiệu lực hơn. Chuáng ta có thể quan sát thấy, trẻ em lọt lòng có những hoạt động mang tính phản xạ bẩm sinh. Như khi đặt đầu vào ngực mẹ, trẻ có cảm giác tiếp xúc và liền có những vận động ở đầu và môi tìm vú mẹ để bú. Vài ngày sau, hành động tìm vú trở nên nhanh nhẹn hơn. Nhờ hoạt động mà những hành động có tính phản xạ này được cải tiến dần dần. Sau đó ta thấy em bé không những dùng môi để bú hay mút lúc đói, mà ngay cả lúc no, khi gặp bất kì một đồ vật gì nó cũng đút vào miệng để mút và bú. Trẻ chỉ nhận biết được đồ vật đó thông qua cảm giác nhờ hoạt động mút, bú.

– Thời kì 2: (1 – 4 tháng), hình thành tri giác và thói quen vận động, qua điều kiện hoá các phản xạ đã có theo các tương tác của môi trường (động tác mút khi nhìn thấy bầu sữa v.v…). Bắt đầu từ tháng thứ hai xuất hiện những hành động được gọi là phản ứng vòng tròn. Một hành động phản xạ tạo ra một kết quả nào đấy, kết quả ấy lại thúc đẩy hành động và cứ thế lặp đi lặp lại. Phản ứng vòng tròn không phải bẩm sinh mà xuất phát từ những sơ cấu đầu tiên để tạo ra những hành động mới như tay nắm lấy những đồ vật thấy được, tay cầm đồ vật đút vào miệng. Đút ngón tay cái vào miệng để mút là một hành động đồng hoá, đồng thời cũng vì thế nhận ra ngón tay và đầu vú của mẹ có khác nhau và điều chỉnh sơ cấu giác – động ấy để cho phù hợp với đồ vật mới.

– Thời kì 3: (4 – 8 tháng), các phản ứng vòng tròn thứ cấp, được thiết lập do phát triển sự phối hợp giữa hệ thống tri giác với các sơ cấu vận động. Những phản ứng vòng tròn lúc đầu liên quan trực tiếp đến cơ thể. Về sau, từ tháng thứ năm trở đi xuất hiện những phản ứng vòng tròn cấp hai liên quan đến các đồ vật. Một em bé nằm trong nôi ngẫu nhiên nắm được một sợi dây, kéo giật, rồi thấy một số đò chơi lung lay hay phát thành tiếng động, rồi giật đi giật lại sợi dây để được nghe lần nữa. Trên kia em bé đút một đồ vật vào miệng để trực tiếp có cảm giác, lần này em bé phải gián tiếp tác động lên một đồ vật khác. Trong phản ứng vòng tròn cấp hai này được hình thành trong hành động với mối tương quan giữa hai đồ vật khác nhau. Sự đồng hoá đã bắt đầu mang một tính chất nhìn nhận có ý nghĩa.

– Thời kì 4: (8 – 12 tháng), hình thành khả năng phối hợp phương tiện – mục đích (nhấc tay người lớn để lấy đồ chơi.v.v…). Từ 8-9 tháng trở đi em bé không những vận dụng những sơ cấu giác – động một cách đơn lẻ mà bắt đầu phối hợp các sơ cấu với nhau. Những hành động của em bé dần dần phức tạp lên. Ta thấy xuất hiện một điểm mới, là những em bé trên 8, 9 tháng bắt đầu có những phản ứng tìm tòi một đồ chơi đang sử dụng, bỗng bị người lớn che giấu đi. Trước đó em bé chuyển ngay sang chơi với một đồ vật khác, không có ý tìm tòi đồ chơi đã bị che giấu. Các đồ vật chưa có một sự tồn tại độc lập tách rời tổng thể hoạt động của em bé, đồ vật và vận động của thế giới bên ngoài hoà lẫn vào những cảm giác và vận động chủ quan. Có thấy đồ vật mới đưa tay ra nắm lấy, đò vật không thấy nữa tay cũng ngừng hoạt động. Lúc nắm cái dây kéo giật thì thấy được mối liên quan giữa vận động của mình và tiếng động của đồ chơi nhưng chưa thấy được mối liên quan giữa sợi dây và các đồ chơi. Vì vậy, lúc không nắm được sợi dây, tay vẫn kéo giật và đón chờ các đồ chơi phát ra tiếng động.

– Thời kì 5: (12 – 18 tháng) trẻ phát hiện ra các phương tiện mới, khả năng mục đích – phương tiện (kéo chiếu để cho búp bê lại gần.v.v…). Lúc phối hợp các sơ cấu giác – động với nhau, trẻ dần dần nhận ra mối liên quan một bên là giữa những sơ cấu và một bên giữa những đồ vật. Lúc đầu nếu ta che giấu một đồ chơi em bé đang sử dụng đặt vào một vị trí A, em bé có những hành động tìm tỏi rồi tìm ra ở vị trí A. Nếu ta chuyển sang một vị trí khác B, em bé vẫn tiếp tục tìm ở A. Như vậy trẻ đã bắt đầu nhận ra có những đồ vật cố định tồn tại độc lập với những cảm giác chủ quan, nhưng vẫn chưa nhận ra những di chuyển của các đồ vật, còn gắn chặt với những hành động đã thành công của bản thân.

– Thời kì 6: (18 – 24 tháng) phát sinh các giải pháp sáng tạo trong ứng xử, xuất hiện khả năng nhập tâm các hành vi (tìm cách mở nắp hộp hoặc bao diêm lấy kẹo hay vật hấp dẫn nào đó.v.v…) Tiến một bước nữa, em bé gạt đồ vật cản trở sự tìm tòi, hoặc nắm lấy tay người lớn nhờ tìm cho đồ chơi đã bị che dấu, hoặc xua đẩy bàn tay của mẹ khi mẹ đưa cho một viên thuốc đắng. Mặc dù tất cả những đồ vật vẫn còn gắn chặt với hành động, và mọi sự việc xẩy ra vẫn dính liền với hoạt động của em bé, trẻ cũng đã bắt đầu xuất hiện sự nhìn nhận mơ hồ về sự tồn tại khách quan của các đồ vật, những mối tương quan giữa các đồ vật được bố trí trong không gian và sự bố trí của các sự việc trong thời gian.

Bước sang năm thứ hai xuất hiện những hành động mang tính thử nghiệm. Em bé lật đi lật lại một cái hộp để xem mặt này mặt kia có khác nhau không, hoặc ném một vật gì nhiều lần, mỗi lần ném một cách khác nhau để dò xem kết quả, và từ kết quả ấy thay đổi dần cách làm của mình. Đến lúc em bé thấy một đồ chơi ở xa nhưng đặt lên trên một tấm chiếu, lần mò rồi kéo tấm chiếu để đưa đồ chơi gần lại mình; cũng như biết dùng một sợi dây buộc vào đồ chơi để kéo nó gần lại mình; hoặc biết dùng một cái que dài hoặc một cái gậy để khều một cái kẹo hoặc một đồ chơi nằm ở xa. Đến đây rõ ràng là sự điều ứng đã có những bước tiến lớn. Và cơ chế đồng hoá bắt đầu mang tính suy diễn. Chúng ta có thể nói đến sự hình thành của trí tuệ giác – động.

Sau đó lại xuất hiện một lối ứng xử mới. Đứng trước một tình huống mới, em bé không dùng tay chân lần mò nhưng đột xuất tìm ra giải pháp. Đây quả là một “phát kiến” xuất hiện từ bên trong một sự cấu tạo mới của những sơ cấu giác – động không thông qua những hành động trực tiếp mà qua một sự “suy diễn bên trong”. Đến đây chấm dứt thời kỳ trí tuệ cảm giác – vận động, và bắt đầu thời kỳ trí tuệ có tư duy. Em bé bắt đầu nhìn nhận ra, ít nhất trong hành động, một thế giới bên ngoài tách biệt với bản thân.

Một phát triển có ý nghĩa trong giai đoạn này là hằng định đối tượng (object permanence).Trong những tháng đầu đời, trẻ không có biểu hiện cho thấy có khả năng nhận ra sự mất đi của một đối tượng mà trẻ không nhìn thấy hay không giữ trong tay nữa. Vì thế, thế giới chỉ tồn tại khi trẻ hành động trên đối tượng đó hay cảm giác về nó. Dần dần, theo quá trình phát triển, trẻ nhận ra rằng đối tượng tồn tại mà không cần đến hành động của trẻ hay cảm nhận của trẻ trên nó – đối tượng tồn tại ở “ngoài kia” như một phần của môi trường, trong khi đó các hành động tồn tại “ ở đây” như là phần của tôi. Điều này cho thấy có một bước nhảy lớn theo hướng tách biệt ra “tôi” và “ không phải tôi”.

Tổng hợp lại, những thành tựu chủ yếu của hoạt động trí tuệ trong giai đoạn này là: hình thành các cấu trúc; xây dựng cái hiện thực; phát sinh tri giác và hình thành mầm mống trí tuệ suy ngẫm, hoặc các chương trình tâm trí chỉ đạo các trình tự giác động như: mút, nhìn, nắm lấy và đẩy đi. Trong giai đoạn này, khi trẻ tiếp xúc với một đồ vật mới, ví dụ như chiếc lúc lắc, trẻ có thể xác định tính chất của nó bằng cách đặt chiếc lúc lắc vào miệng (cảm giác) hay lắc nó (vận động). Vì không có khả năng biểu tượng hoá trong giai đoạn này, nên trẻ nhỏ phải khám phá và học bằng cách hành động trực tiếp trên môi trường và bằng cách sử dụng cảm giác của mình. Đó là những năng lực và những bẩm chất vốn tồn tại được sử dụng để thực hiện các kiểu chuỗi hành động giúp cho sự thích nghi của đứa trẻ với môi trường sống – mà ít hoặc không phải “suy nghĩ”. Dần dần, các cấu trúc tâm trí ngày càng hoá thân vào các biểu tượng mang tính tượng trưng của phần ngoài thực tại. Khi điều này xảy ra thì trẻ em đã thực hiện được các thao tác tâm trí ngày càng phức tạp hơn.

(Còn tiếp)

 
Tài liệu tham khảo

1) Internet
2) Tâm lý học và Giáo dục học. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1985
3) Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Tâm lý học trí tuệ, Hà nội 2001.

HuongPM (nguồn: Viện TLH)

LIÊN QUAN:

-Trẻ em dễ bịtrầm cảm nếu không được tự do vui chơi ngoài trời

-Thuyết J. Piagetvề sự phát triển trí tuệ trẻ em (phần 1)

-Đọc sách: Khicha mẹ chia tay (phần I)

-Học cách… chêtrẻ

-Một số hìnhthức trừng phạt tinh thần không phù hợp với trẻ

-Một số quy tắckhi khích lệ, động viên trẻ

-Một số quanniệm không phù hợp trong việc giáo dục trẻ

-Khi trẻ mới đếntrường

-Hội chứng concưng

-Thực trạng vềcách ứng xử của cha mẹ đối với con cái

-Bạo lực giađình ảnh hưởng đến nhân cách của trẻ

-Cha mẹ nên ômcon ít nhất 3 lần mỗi ngày

-Một số yếu tốliên quan tới gia đình bỏ bê con trẻ

-Cho con đượcmột lần thất bại

-Vì sao trẻnghiện chơi game?

-Những điều quýbáu học được từ trẻ con

-Khi con nói dối

-Các dấu hiệunhận biết đứa trẻ có thể bị trầm cảm

-Làm sao trướcnhững yêu cầu không phù hợp của trẻ?

-Có nên yêu cầutrẻ làm việc nhà ?

-Dạy con cáchứng xử với đồng tiền

-Nhận dạng nhữngtrẻ có nguy cơ phạm tội

-Giọng mẹ đánh thứckhả năng ngôn ngữ của con