Thử tìm hiểu: Nhân quả qua ca dao tục ngữ

0
793

Con người sanh ra đời đó là kết quả hình thành tiếp nối của cáinhân mà do chúng ta đã gây tạo từ trong quá khứ. Căn cứ theo lý nhânquả nghiệp báo, thì ta nhìn cái thân và cuộc sống  của ta hiện tại màta có thể đoán định được phần nào cái nhân của quá khứ mà ta đã gây ra.Trong Kinh Pháp Cú Phật dạy rất rõ:

Dục tri tiền thế nhân,

Kim sanh thọ giả thị.

Yếu tri lai thế quả,

Kim sanh tác giả thị.

Nghĩa là:

Muốn biết đời trước của mình như thế nào, thì hãy nhìn kỹ cái quảbáo mà mình đang lãnh thọ của đời hiện tại nầy. Muốn biết cái quả báocủa mình đời sau ra sao, thì hãy nhìn vào cái tác nhân mà mình đang gâytạo trong hiện đời.

Ðó là ta nhìn nhân quả theo chiều thời gian. Còn về không gian, thìđời sống của ta có liên hệ mật thiết với tất cả muôn loài. Thế nên mọiý nghĩ, hành động, lời nói, việc làm của ta đều có tác động ảnh hưởngxấu, tốt đến mọi loài. Ðó là cái nhìn đúng theo lý duyên sinh nhân quảcủa Phật giáo.

Ta nên biết thêm rằng, nhân quả là một chân lý phổ biến. Nó hìnhthành và tiềm tàng trong mọi sự vật, không một vật thể nào thoát khỏinhân quả. Vì hiểu được định lý nhân quả, nên từ  ngàn xưa, tổ tiên tađã khéo ứng dụng thể hiện vào đời sống theo chiều hướng thăng hoa tốtđẹp từ cá nhân, gia đình và xã hội. Do sự trải nghiệm theo dòng đời khổvui đó mà ông cha ta đã để lại một kho tàng quý báu về những câu ca daotục ngữ bất hủ trong việc xử thế, trị quốc, tu thân, tề gia, hành thiệntheo hướng nhân quả tốt.

Những câu ca dao tục ngữ nhằm thức nhắc người ta nhớ đến nhân quả đểhành xử cho mình và người trong tương quan đời sống, nên tránh nhữngnhân xấu mà cần gây tạo những nhân tốt để có cái quả báo tốt đẹp. Chúngtôi thấy có rất nhiều câu ca dao tục ngữ theo dạng thức nầy.

Ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu ra một số câu ca dao tục ngữ mà chúngta thường nghe người ta hay đề cập đến liên quan đến lý nhân quả. Vàqua mỗi câu ca dao, tục ngữ, chúng tôi xin được góp thêm chút ý mọn vớimục đích là để làm sáng tỏ ý nghĩa của những câu ca dao hay tục ngữ đãđược nêu ra. Chỉ góp thêm chút ý kiến nhỏ nhoi thôi, chớ chúng tôikhông dám có cái cao vọng là bình phẩm rõ ràng cặn kẽ qua từng vấn đềcủa mỗi câu. Việc làm nầy, xin để cho các bậc học giả có kiến thức uyênthâm bình giải cho chúng ta.

Bây giờ, chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa sơ qua một số câu tục ngữ mà chúng ta thường nghe thấy.

1.  Ở  hiền gặp lành.

Câu nói nầy, nhằm ý thức nhắc mọi người nên ăn ở hiền lương, khôngnên gây tạo những điều bất thiện. Hễ mình có lòng tốt giúp đỡ cho mọingười, khi người ta gặp cảnh hoạn nạn, ngặt nghèo, thì mình nên rộnglòng từ ái cứu giúp. Ðến khi mình gặp cảnh không may xảy ra, thì ngườita sẽ giúp đỡ mình lại. Dù người đó không giúp mình, thì cũng có ngườikhác giúp mình. Ðành rằng, khi thi ân, mình cũng không có ý mong cầungười ta đáp trả lại. Vì sách Nho có câu: “Thi ân bất cầu báo”.  Thi ânmà còn cầu đáp trả, đó là thi ân có ý mưu đồ. Ðúng theo luật tắc nhânquả, hễ có gây nhân, thì sớm hay muộn gì cũng có kết quả.

Sống ở đời, nếu mình quá ích kỷ, cái gì cũng chỉ nghĩ riêng cho phầnmình, ai chết mặc ai, dù thấy người ta đang đau khổ ngút ngàn rên laoằn oại trước mắt mình, mình cũng không chút từ tâm thương xót. Nhưthế, thì thật mình quá  nhẫn tâm, không có chút tình người. Ta nên biếtrằng, đời là vô thường nay vầy mai khác, đổi thay luôn luôn, chắc gìmình không có lúc gặp phải cảnh hoạn nạn khổ đau. Biết đâu sau nầy mìnhcòn khổ đau hơn người ta nữa không chừng. Do nghĩ thế, nên hôm nay,mình nên đối xử tử tế hiền hòa với mọi người, thì mai kia, khi mình cógặp hoạn nạn, thì không ai lại bỏ mình.

Thế nên, mình cố gắng làm lành giúp người tùy theo khả năng và hoàncảnh của mình. Ðược thế, thì còn gì quý giá cho bằng. Mình giúp chongười ta vui vẻ, tức mình cũng vui vẻ. Cho nên câu nói: “ở hiền gặplành” tuy có 4 chữ ngắn gọn, nhưng nó cũng đã thức nhắc cho chúng tarất nhiều trong đời sống tương thân, tương ái và tương trợ lẫn nhau. Hễgây nhân hiền, thì tất sẽ gặt hái quả lành.

2. Ở ác gặp dữ.

Câu nói nầy, ngược lại với câu trên. Nếu ở hiền gặp lành, thì ở ácgặp dữ, đó là điều tất yếu, không thể tránh khỏi. Câu nói nầy, các bậctiền nhân đã cho ta một kinh nghiệm sống ở đời. Nếu mình muốn có mộtđời sống an lành, không xảy ra lắm điều hệ lụy phiền toái, thì mìnhkhông nên gây tạo những điều ác đức, làm đau khổ cho mình và người. Nhưmình hung dữ, thô bạo cướp của, giết người, làm những việc phi pháptrái với luật quốc cấm, đó là mình đã gieo hạt giống bất thiện rồi. Ðãthế, thì thử hỏi làm sao tránh khỏi quả báo khổ đau.

Cứ nhìn vào xã hội loài người hiện nay, ta thấy có biết bao những tệnạn xảy ra. Như kẻ cướp của giết người, bị cảnh sát bắt tống giam vàotrong nhà lao. Dĩ nhiên, kẻ đó sẽ bị pháp luật trừng trị hành phạt đíchđáng theo cái tội mà họ đã gây. Hôm nay, vì một cơn giận tức mình hungdữ ra tay đánh đập tàn nhẫn một người cô thân yếu thế, thì mai kia mìnhsẽ bị kẻ khác đánh đập lại. Chuyện đó đã và đang xảy ra hằng ngày.

Do đó, nên câu nói: “Ở ác gặp dữ”, cổ nhân nhằm khuyên chúng takhông nên hành động hung dữ mà phải chuốc lấy khổ lụy vào thân. Bởi dogây nhân bất thiện, nên gặp phải gặt hái cái quả bất thiện. Trongtrường hợp nầy, ta thấy có nhiều câu tục ngữ cũng có đề cập đến, tiêubiểu như những câu nói sau đây: “Nhân nào quả nấy”Hay: “Gieo gió gặtbão” hoặc “ác lai ác báo” “quả báo nhãn tiền” v.v…Ðây là những câu tụcngữ có tác dụng, nhằm khuyên răn người đời, nên luôn nhớ đến luật nhânquả báo ứng một mảy may không hề sai chạy. Biết thế,  chúng ta phải cốgắng ăn ngay, ở hiền, làm lành, lánh dữ. Có thế, thì đời sống từ bảnthân, gia đình, xã hội mới được an vui hạnh phúc.

3. Sinh sự, sự sinh.

Câu tục ngữ nầy nhằm chỉ cho người hay có tật phê bình chỉ tríchvạch lỗi nói xấu người khác. Ðây là hạng người chuyên môn bới lông tìmvết hay vạch lá tìm sâu. Nhưng họ lại quên rằng: “chưn mình còn lắm lêmê, mà đi xách đuốc lại rê chưn người”. Từ chỗ hay bươi móc nói xấungười, nên họ thường hay gặp phải những chuyện xích mích gây gổ, đôichối, lắm chuyện thị phi phiền hà rắc rối đủ thứ. Do đó,  nên mới cócâu nói thật đáng kiếp ai bảo: “Sinh sự, sự sinh”. Hai chữ “sinh sự” đãnói lên con người thiếu tự trọng, nhân cách, hay gây ra sự bất an phiềntoái cho mình và người. Sinh sự là muốn hại người, đó là “Nhân” mà sựsinh phải chuốc khổ lụy vào mình, đó là “Quả”. Ta nên nhớ nhân quả nhưvang theo tiếng, như bóng theo hình. Nếu chúng ta khéo biết “sinh sự”tốt, làm lợi ích cho tha nhân, thì chúng ta sẽ nhận được cái “sự sinh”tốt đẹp cho mình vậy.

4. Có tật giật mình.

Một người hay làm những điều phi pháp bất nhân, thấy ai họ cũng đâmra nghi ngờ sợ hãi. Trong lòng của họ không lúc nào an ổn. Từ đó, nóhiện ra cái tướng bên ngoài không được tự nhiên. Bởi thế nên người xưanói: “tâm ư trung xuất hành ư ngoại”. Nghĩa là trong lòng của con ngườihiền hoặc dữ, gian dối hay thành thật như thế nào, thì nó đều hiện racái tướng cũng y như thế đó. Trường hợp như những kẻ buôn lậu những thứhàng hóa quốc cấm chẳng hạn, trong tâm cảnh đó, thì thử hỏi trong lòngvà tướng trạng của họ ra sao? Dù cho họ có cố gìn giữ bình tĩnh đếnđâu, cũng không thể nào che mắt được những con “mắt thần” của luậtpháp. Ðã mang cái “Tật” hành vi phi pháp, thì nó cũng hiển lộ ra cáitướng thất đức bất bình thường. Nhất là nhìn trên gương mặt của họ thìngười ta đủ biết nghi ngờ. Mà trên gương mặt chỗ dễ phát hiện ra nhấtlà ở nơi đôi mắt. Kẻ gian dối bao giờ đôi mắt của họ cũng láo liên, hayngó trước nhìn sau, tỏ vẻ không yên sợ hãi. Do nhìn đôi mắt, người tacũng đoán  biết được phần nào của kẻ ngay gian. Vì đôi mắt là cửa sổcủa tâm hồn. Chính vì thế, mà họ khó qua mắt nổi của những người cónhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự bảo vệ luật pháp.

Cho nên, chúng ta thường nghe hoặc thấy báo chí hay loan tin nhữngkẻ buôn lậu nha phiến bị bắt nơi này, nơi kia, nhất là thường xảy ra ởcác phi trường quốc tế. Sở dĩ công an cảnh soát bắt được những kẻ buônlậu, cũng tại vì họ có cái tật gian dối muốn qua mặt luật pháp, nên nómới hiện ra cái bệnh giật mình. Thấy công an cảnh sát, thì họ hồn phiphách tán. Nhất là đối với những kẻ chưa phải là chuyên nghiệp. Nhưngvì một hoàn cảnh nào đó, bắt buộc họ phải làm như thế. Ðối với nhữngngười này, thì sự giật mình của họ rất lớn. Nên họ khó qua khỏi luậtpháp trừng trị. Bởi thế, kết quả là họ sẽ bị tù tội hoặc bị tử hình,tùy theo tội nặng nhẹ.

Câu tục ngữ trên, ngầm ý cổ nhân khuyên chúng ta không nên làm nhữngđiều ác đức phi pháp. Vì bản chất của con người là ham sống sợ chết. Dùlà kẻ hung ác đến đâu, khi đối diện với luật pháp, thì lòng họ cũngphải rúng động rung sợ. Vì sao? Vì họ vẫn còn muốn sống. Biết thế, thìchúng ta đừng nên gây ra tội ác để cho mình  khỏi phải có cái “Tật” đểrồi thấy ai cũng không phải “Giật” mình. Nếu mình không gây ra cái“Tật” đó, nghĩa là, phải ăn ở cho có đạo đức tình người, thì quả mìnhlà kẻ rất tự do không sợ ai cả. Ðược thế, thì dù mình có đi đâu hay ởđâu, đối với bất cứ ai mình cũng là kẻ sống hiên ngang mà không bao giờbiết hổ thẹn với đất trời.

5. Ai làm người nấy chịu.

Câu tục ngữ nầy đã nói lên định luật nhân quả rất công bằng. “Ai làmngười nấy chịu”. Chữ ai và người nấy, cũng chỉ là một người. Như nói aiăn nấy no, ai học nấy biết chữ. Không thể người nầy ăn mà người kháclại no. Nhân và quả đáp lại đúng theo cái nhân mà mình đã gây tạo. Mộtkẻ giết người, tất phải đền tội trước pháp luật. Không thể anh A giếtngười mà anh B chịu thế. Như thế, là một điều ngịch lý và tất nhiênkhông bao giờ có thể xảy ra. Nếu người nầy làm mà người khác lại chịuthế, thì đó là chuyện tréo cẳng ngõng ngược kỳ đời và trái với luậtnhân quả. Thậm chí, trong tình thân thuộc như: cha con, chồng vợ v.v…cũng không ai thay thế cho ai. Cha hành động sai trái, thì cha phảichịu tội. Không thể nào con  gánh vác chịu tội thay thế cho cha. Nhưcha vào tù, người con dù có thương cha đến mấy cũng không thể vào tùlãnh án thay thế cho cha được. Chính con người phải chịu trách nhiệmnhững gì mà mình đã gây tạo. Như thế, thì không ai có thể ỷ lại và đổthừa cho ai. Vì ai làm người nấy chịu kia mà! Nhờ sợ nhân quả như thế,nên người ta mới không gây ra những điều xấu ác. Không gây tạo tội lỗi,tất nhiên, mình sẽ được an vui, thoát khỏi cảnh đau khổ tù tội. Câu tụcngữ trên, ngầm ý nhắc nhở người ta phải nhớ đến nhân quả và phải ý thứccẩn trọng ở nơi hành động việc làm của mình.

Ðồng thời, nó cũng nói lên một ý nghĩa tự lực không ỷ lại nhờ cậybên ngoài. Mình làm mình chịu, không oán trách hờn giận đổ trút cho bấtcứ ai.

Ðã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

( Nguyễn Du – Truyện Kiều )

Ai tu nấy thành, ai hành nấy đắc. Ðó là luật tắc xưa nay đều nhưthế. Tinh thần trách nhiệm, đó là tinh thần độc lập. Thành bại, đắcthất, nên hư v.v… tất cả đều do mình quyết định lấy. Mình phải gánhchịu trách nhiệm những gì mà chính mình đã gây tạo. Thành công khôngkiêu căng, thất bại cũng không nản chí. Ðược cũng tốt mà mất cũng khôngsao. Vì tất cả do mình quyết định. Chiếc thuyền đời của mình, phải domình tự lèo lái. Lái dở hay giỏi đều do ở nơi mình. Ðó là tinh thần tựlực tự cường. Không đổ trút cho định mệnh hay số phận, cũng không nêntrách trời, trách Phật. Phật trời không có thưởng phạt cho mình, màchính mình tự thưởng phạt lấy mình. Mình gây nhân nào phải chịu gặt háiquả nấy. Ðịnh mệnh không thể an bày cho mình. Người nào tin tưởng theothuyết định mệnh là người đó mất hết quyền tự chủ. Và cũng không hiểurõ luật nhân quả. Cái gì cũng phó thác cho định mệnh. Thử hỏi định mệnhlà gì? Bàn tay nào đã quyết định cho sinh mệnh của mình? Tại sao khôngquyết định cho mình những điều hay ho tốt đẹp, mà lại quyết định chinhững điều xấu xa dở tệ? Thật là bất công phi lý! Tại sao tạo hóa khôngquyết định cho con người sống chung hòa bình, có phải hay hơn, còn tạora chi cảnh chiến tranh nồi da xáo thịt, cấu xé tranh giành chiếm đoạttàn sát lẫn nhau chi cho thêm khổ?

Thử hỏi ai đã gây ra cảnh chiến tranh đau khổ? Phân chia giai cấpnghèo giàu, sang hèn cách biệt? Bao thảm cảnh nhà tan cửa nát, nhữngvấn nạn hút chích xì ke ma túy, buôn lậu á phiện, bị tử hình hay bị tùtội giam cầm, rồi đến cờ bạc, rượu chè say sưa, hiếp dâm, cướp của giếtngười v.v… tất cả đều làm xáo trộn đảo lộn trật tự xã hội, thử hỏi aiđã an bày gây ra thảm cảnh như thế? Có phải định mệnh tạo hóa an bàychăng? Hay chính do lòng dục vọng si mê của con người tạo ra? Bệnh đổthừa cho ngoại cảnh, đó là chứng bệnh trầm kha của những con ngườithiếu trách nhiệm và hèn nhát. Làm việc gì thành công, thì họ chườngmặt ra để lãnh công trạng. Khi bị thất bại, thì họ co đầu rút cổ và đổthừa cho hoàn cảnh hay tại, bị, ở nơi người khác. Chớ họ không chịutrách nhiệm do chính mình đã gây ra.  Ðây là chứng bệnh di truyền lâuđời của nhơn loại. Chứng bệnh trầm trọng nầy lan tràn khắp nơi trong xãhội loài người xưa nay.

Với tinh thần tự giác của đạo Phật, không chấp nhận những hạng ngườihèn yếu như thế. Ðạo Phật chủ trương phải có tinh thần tự giác trướchành động của mình. Mình đã gây ra làm đau khổ cho người khác, thì mìnhhãy mạnh dạn mà nhận lỗi. Nhận lỗi để tự sửa sai và phải nhận lỗi mộtcách hết sức thành thật. Chớ không phải nhận lỗi theo kiểu chánh trịthủ đoạn giả dối bề ngoài để che mắt thiên hạ. Trong đạo Phật hay dùngtừ ngữ sám hối. Sám là ăn năn lỗi trước, dù vô tình hay cố ý mà mình đãgây ra làm cho đối phương phải chịu đau khổ vì hành động hay lời nóicủa mình. Còn Hối là nguyện từ nay trở đi mình quyết không bao giờ táiphạm nữa. Như vậy, sám hối là nói lên một tinh thần tự giác có tráchnhiệm mạnh mẽ cao độ. Mình làm mình nhận lỗi. Không có thái độ che giấutội lỗi, hay tốt thì khoe mà xấu thì che đậy. Ðó không phải là tinhthần giác ngộ của đạo Phật.

Với câu tục ngữ trên, chúng ta thấy cổ đức đã dạy cho người ta phảiăn ở cho có đạo đức, nhân nghĩa, thành tín. Mình phải tự cảnh tỉnh lấymình, đừng làm những chuyện sai trái mà phải lãnh lấy hậu quả khôngtốt. Và hơn thế nữa, phải có tinh thần trách nhiệm cao trong việc đốinhân xử thế. Hiểu như vậy, chúng ta hãy tạo cho mình những chánh nhântốt để mình sẽ hưởng lấy những quả báo tốt. Ðó là điều mà chúng ta cầnphải quan tâm lưu ý.

6. Ăn lắm hay no, lo lắm hay phiền.

Câu tục ngữ nầy, bắt ta phải chú ý đến hai chữ: “ăn và lo”. Ăn lànhân mà no là quả. Lo là nhân mà phiền là quả. Nhân và quả đi liền vớinhau, khác nào như bóng theo hình. Trước hết chúng ta thử tìm hiểu bốnchữ ở vế đầu: “ăn lắm hay no”. Câu nầy, nếu đem ứng dụng vào y học vàđời sống để phân tích chiêm nghiệm, thì cũng rất có lợi ích cho sứckhỏe của chúng ta. Ăn là điều mà ai cũng thích. Nhưng không nên ăn quáđầy bụng.

Thông thường động từ ăn nó đi liền với động từ uống. Ăn uống là mộtdanh động từ không rời ra. Nhưng ăn để mà sống, thì nó khác hơn sống đểmà ăn. Ăn để mà sống tự nó nói lên có sự hạn chế, điều độ và đơn giản.Có gì ăn nấy, không đòi hỏi cầu kỳ, theo kiểu phải có món ngon vật lạhay cao lương mỹ vị. Ăn để sống cho qua ngày. Ðó là cách ăn của một conngười khéo biết điều hòa sự sống có lý tưởng. Vì họ ý thức rằng, cuộcđời là tạm bợ, vô thường không có gì bền chắc. Thế thì, ai rồi cũngphải có ngày từ giả cõi đời giả tạm mà ra đi. Không ai lột da sống hoàiđể ăn uống. Quan niệm của họ, nhu cầu ăn uống chỉ là một nhu cầu phảicó để tạm giải quyết cuộc sống. Sống càng đơn giản chừng nào, thì lạicàng có nhiều hạnh phúc chừng nấy. Càng tham thực thì càng khổ thân.Người muốn ăn uống thưởng thức mọi thứ món ngon vật lạ trên đời, thì họcũng phải làm lụng vất vả cực khổ đày đọa xác thân mới có đủ tiền bạcđể tiêu thụ hưởng dụng như thế. Ngược lại, cũng có những người làm lụngvất vả cực khổ trối chết, họ cũng có nhiều tiền lắm bạc, nhưng mà họkhông dám ăn xài. Dù rằng, họ cũng rất thèm khát ăn uống cho khoái cáilỗ miệng, nhưng vì bị con “rít” to lớn, nó nằm chấn ngang cái túi tiền,nên họ đành phải cam chịu nuốt nước miềng cầm hơi để sống. Người ta chohọ là hạng người quá ư là keo kiết, rít rắm kẹo kéo không ra. Sống màquá nô lệ cho đồng tiền như thế, thì phải nói cuộc sống đã mất hết ýnghĩa!

Ðối với hạng người nói trên, ăn để mà sống, thì đời họ ít đau khổhơn. Vì  họ là người khéo biết tri túc an phận thủ thường sống theokiểu: “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Họ không muốn xoe xua, bon chenchạy đua để được vinh thân phì da. Họ là hạng người sống có lý tưởngđạo đức thực tiển. Mặc cho ai khen chê, họ cũng không cần phải quan tâmđể ý đến chi cho mệt sức. Ngược lại, đối với những người mà họ thíchđam mê thụ hưởng ăn uống, thì quan niệm sống của họ có khác. Họ cũngthừa biết cõi đời là giả tạm, nhưng theo họ, thì tại sao chúng ta khôngthụ hưởng cho hết mọi thứ mùi vị trên đời? Ăn ngon, mặc đẹp, nhà caocửa rộng sang trọng, thử hỏi trên đời nầy có mấy ai mà lại không hamthích? Vậy thì tội gì mà chúng ta không thụ hưởng cho nó sướng cái cuộcđời. Mai kia có nhắm mắt theo ông theo bà, thì chúng ta cũng không cógí phải ân hận. Ðó là quan niệm của những con người cũng sống thực tế,nhưng mà thực tế theo chiều hưởng thụ trụy lạc thọ khổ.

Bởi vì chúng ta nên biết rằng, ở đời không có sự hưởng thụ nào màkhông có ngầm cái đau khổ ở trong đó. Như mới vào bàn tiệc ăn uống, thìthấy cũng ngon lành đó, nhưng chưa tàn tiệc nhậu, thì đã xảy ra lắmchuyện phiền phức không hay rồi. Bên ngoài nhìn vào, thì thấy bao bọctoàn là những thứ rất ngọt ngào, nhưng bên trong thì lại ngầm chứanhững chất độc cay đắng. Thực tế cho thấy, những người thích ăn ngonngủ kỹ chừng nào, thì lại giảm thọ nhiều chừng nấy. Vì ăn ngủ nhiều rấtcó tai hại cho sức khỏe. Không phải ăn thật no là khỏe mạnh. Hay ăn nhiều chất bổ dưỡng mà được sống lâu. Càng ăn nhiều có chất bổ dưỡngchừng nào, thì người ta càng phát phì và rồi hay sanh ra nhiều chứngbệnh khó trị chừng nấy. Mà càng phát phì thì phải lên cân, càng lên cânthì lại càng sanh ra đủ thứ bệnh tật. Nhất là những người có bề thế mậpmạp thì dễ mắc phải những chứng bệnh như: máu cao, tiểu đường, mở caotrong máu, tim mạch v.v… Cho nên, ngày nay, các bác sĩ thường khuyênchúng ta nên ăn ít lại chi vừa đủ no thôi. Trong quyển sách “Bác Sĩ TốtNhất Là Chính Mình”, bác sĩ  Hồng Chiêu Quang, có khuyên chúng ta mỗibữa ăn chỉ nên no bảy tám phần, đó là cách đơn giản giúp cho người tasống lâu. Không nên cố ráng ăn một lần cho đầy bụng. Ăn như thế là tựsát. Khổ nổi, đang ăn ngon miệng mà bảo người ta buông đủa dừng lại,không nên ăn no bụng, thì cũng không phải là chuyện dễ dàng, đối vớinhững người khoái thích ăn uống.

Xin thưa, vấn đề ăn uống phải biết điều độ và dinh dưỡng như thế nàocho hợp lý, để người ta có thêm sức khỏe và sống lâu, thì đây thuộc vềlãnh vực chuyên môn của ngành y học, hay theo phương pháp dưỡng sinhcủa các chuyên gia rành nghề có nhiều kinh nghiệm. Ở đây, không phảitrong phạm vi  kiến thức của người viết, nên chúng tôi không dám lạmbàn nhiều. E rằng, sẽ mang cái lỗi là dám múa rìu qua mắt thợ.

Trở lại câu tục ngữ trên, theo sự nhận xét thô thiển của chúng tôi,thì chữ Ăn mà người xưa nói ở đây, ta cũng có thể hiểu rộng ra. Nhưnói, ăn chơi, ăn giựt, ăn cướp, ăn trộm, ăn quỵch, ăn nằm, ăn cắp, ăntạp, ăn hại vân vân và vân vân, những thứ ăn nầy đều là cái nhân củađau khổ cả. Còn nói No, ta cũng có thể hiểu nghĩa bóng của nó là đaukhổ. Hiểu như vậy, ta mới thấy rằng, câu tục ngữ nầy cổ nhân khuyên tanên tránh cái nhân xấu xa thì không có cái quả báo đau khổ. Và cần phảikhéo léo biết điều hòa sự sống, đừng thái quá mà cũng đừng bất cập. Làmviệc gì cũng phải có chừng mực. Người khéo biết điều hòa sự sống, đó làngười sẽ có nhiều hạnh phúc.

Ðó chính là cái dụng ý mà cổ nhân muốn dạy cho chúng ta. Chúng taphải hằng nhớ đến nhân và quả. Vì nhân quả  luôn luôn bám sát theonhau. Hễ ăn nhiều thì phải no, mà cái no nầy rất là khó chịu. Quả đúngnhư người ta thường nói: “ăn ít no dai, ăn nhiều tức bụng”. Tức bụng làcả một vấn đề khó thở, mệt mỏi buồn ngủ khó chịu. Vì thế, khi ăn, chúngta nhớ phải ăn uống vừa chừng thôi. Cũng vậy, phàm khi chúng ta làmđiều lành, điều phải, thì ta cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc, thật thoải máidễ chịu cho thân tâm. Ngược lại, khi chúng ta làm những điều bất chánh,phi pháp, tội lỗi, thì bản thân của chúng ta cảm thấy rất là đau khổkhó chịu vô cùng. Người mà có cái tà tâm chuyên làm những điều vônghĩa, bậy bạ phi pháp, thì lòng họ không lúc nào an ổn. Nhìn bề ngoàitưởng là họ dễ chịu lắm, nhưng kỳ thật trong lòng của họ là cả một địangục. Lương tâm của họ luôn bị cắn rứt đay nghiến, vày xéo mãnh liệt.Họ lo sợ đủ thứ chuyện, ngồi đứng không yên, ăn ngủ cũng không yêngiấc, tâm hồn của họ giống như bãi tha ma. Ðời họ không lúc nào an ổn.Nhìn ai, họ cũng cảm thấy mặc cảm hổ thẹn. Họ là con người đang rơi vàohố sâu tội lỗi. Họ tự cảm thấy họ là con người rất thấp hèn của xã hội.Ðời họ không còn lối thoát. Họ như người hết thuốc chữa. Ðó là một tâmbệnh thật đáng sợ!

Câu kế tiếp: “lo lắm hay phiền”. Chữ lo ở đây, nó có nhiều nghĩa.Nhưng dù nghĩa nào cũng nói lên cái tâm trạng bất an, phiền muộn.Thường người hay lo nhiều thì người đó chắc chắn khổ nhiều. Cái khổtrước mắt là mất ăn mất ngủ. Phàm hễ lo nghĩ, thì hay sanh ra sợ hãi vàbuồn rầu. Chữ “lắm” có nghĩa là nhiều. Chữ “phiền”, theo kết cấu củachữ Hán, thì nó gồm có 2 bộ: hiệt là đầu và hỏa là lửa. Cho nên, khingười ta lo nhiều, thì trong lòng cảm thấy bức rứt bất an, lửa nó vọnglên đầu, thành ra con người nóng nảy bực bội khó chịu vô cùng. Chính đólà nguyên nhân đưa đến tình trạng mất ngủ. Do đó, những người hay lonhiều, thì dễ gây ra thần kinh căng thẳng và nếu không khéo sẽ dễ bịmắc bệnh tâm thần. Bởi do tình trạng mất ngủ nhiều mà ra. Ðó là một họahại của những người có bệnh hay lo tính suy nghĩ lung tung nhiều quá.

Từ lo đâm ra sợ, từ sợ đâm ra hốt hoảng tinh thần. Ðó là một tai hại rất lớn.

Phàm là con người còn sống trong vòng tương đối, tất nhiên không aimà không lo, vì đó là một căn bệnh tập khí sâu nặng của con người phàmtục. Vì sự sống mà con người phải lo lắng đủ mọi thứ trên đời. Ngoàinhững vấn đề lo chánh đáng cho sự sống như: lo ăn, lo mặc, lo ở, cònlại phải lo bao nhiêu thứ chuyện linh tinh khác. Thâm ý của câu tục ngữtrên, cổ nhân muốn khuyên chúng ta không nên lo lắng nhiều quá.

Xét ở đời, có những điều đáng lo, thì người ta lại không lo. Ngượclại, có những điều không đáng lo thì người ta lại hay lo. Thế nào làđiều đáng lo? Ðiều đáng lo nói ở đây, không phải chỉ lo ăn, lo mặc…không thôi là đủ, mà chúng ta còn phải lo cho ngày mình nhăm mắt ra đi.Sống thì mù tịt, không biết mình là ai. Ðến khi chết mình cũng khôngbiết mình sẽ đi về đâu. Nếu như hiện đời, mình khéo biết lo làm lành,tu tạo phước đức, ăn chay niệm Phật, thì Phật nói đó là người khéo biếtlo cho đời mình. Vì ở đời, rốt lại, không có ai thương mình bằng chínhmình tự thương lấy mình. Mình gây nhân khổ, không ai có thể thay thếtội khổ cho mình.

Có người, vì thương con thương cháu mà tự mình sát sanh hại vật, đểcho con cháu thụ hưởng ngon miệng, nhưng cái quả báo đó ai sẽ là ngườigánh chịu cho mình? Thử hỏi chúng nó có thay thế cho mình được không?Vậy thì, tốt hơn hết là mình hãy nghe theo lời Phật dạy, mà tự mình locho đời mình có một hướng đi an lạc giải thoát. Ðó là tự biết thươnglấy mình. Thử hỏi khi mình xuôi tay nhắm mắt ra đi, có ai đi theo mìnhkhông? Hay là khổ hay vui do mình chuốc lấy. Mình xuống địa ngục chịukhổ, có đứa con thằng cháu nào, nó đến thay thế cái khổ cho mình không?Hay là ai làm người nấy chịu. Ai ăn người nấy no, ai lo người ấy phiền.

Hiểu thế, thì mỗi ngươì hãy tự lo trước cho mình. Bằng cách là nêntạo nhiều điều lành. Cố gắng ăn chay niệm Phật giữ giới tu hành. Ðó làtự mình khéo biết đầu tư hạnh phúc phước báo cho mình trong hiện đờicũng như mai hậu.

Còn nói cái không đáng lo, là những chuyện như già, bệnh, chết. Vànhất là những chuyện thị phi, tức những chuyện bù khú tạp nhạp ở thếgian. Bởi già, bệnh, chết, nó là một chân lý hiện thực bất di bất dịch.Dù mình có để tâm lo sợ, thì trước sau gì nó cũng đến. Có bệnh thì cứđi bác sĩ điều trị. Ở xứ nầy vấn đề bệnh hoạn không có gì phải bận tâmưu tư lo lắng nhiều. Bởi có nhiều dụng cụ máy móc tinh xảo tối tân đểchữa trị. Nếu như điều trị mà không hết bệnh, thì đó là nghiệp quả củamình đã tới. Dẫu mình có lo lắng đến đâu cũng không thể tránh khỏi. Cáikhông thể tránh khỏi, thì lo chi cho thêm hao hơi mệt sức. Có nhiềukhi, bệnh ít mà chúng ta lo lắng nhiều quá cũng trở thành bệnh nhiều.Không bệnh, mà lo lắng ưu tư nhiều quá thì cũng sẽ thành bệnh. Chi bằngcứ lo niệm Phật, vui vẻ mà sống, rồi chuyện gì đến nó sẽ đến. Nhờ cótinh thần ổn định vững chắc như thế, mà bệnh tình cũng trở nên thuyêngiảm và khỏe ra. Cho nên điều dưỡng cái tinh thần rất là quan trọng. Vìtinh thần là cái gốc chủ động điều khiển thân thể. Giống như anh tài xếđiều khiển lái chiếc xe. Chiếc xe chỉ là những bộ phận máy móc để chạy.Nhưng chiếc xe chạy hay không là do anh tài xế. Như vậy, chúng ta cầnphải chú ý lo cho anh tài xế nhiều hơn. Lo bằng cách điều dưỡng cho anhta khỏe mạnh. Cũng vậy, ta phải lo di dưỡng cái tinh thần, tức cái tâmthức của chúng ta. Nhờ niệm Phật, tụng kinh, trì chú, tham thiền v.v…mà tâm ta được an định vững vàng. Bấy giờ, ta quyết không lo nghĩ gìđến bệnh hoạn.

Ðến như tuổi già cũng vậy, ở đây có nhà dưỡng lão. Nếu như người giàđộc thân, không có ai chăm sóc, thì vào nhà dưỡng lão sinh sống. Trongnhà dưỡng lão có các cô y tá, y công, họ đến chăm sóc người già bệnhmột cách rất tử tế đàng hoàng. Thật tình công tâm mà nói, chưa chắc concháu của mình mà chúng nó quan tâm chăm sóc chu đáo bằng họ. Vì họ lànhững người phục vụ bằng tất cả lương tâm nghề nghiệp. Cho nên, các cụgià không có gì phải lo sợ.

Rồi đến cái chết, người ta lo sợ nhứt là cái chết. Người trọng tuổithì hay lo xa chuẩn bị cho mình cái chết. Tùy theo hoàn cảnh sống củamỗi người mà có những nỗi lo lắng khác nhau. Nhưng có điều, ta thấy cáccụ của mình ngày xưa thường hay chuẩn bị sẵn cho mình cái ngày ra đi.Chuẩn bị có hai phần: vật chất và tinh thần. Phần vật chất, thì các cụlo nào là cái quan tài hay còn gọi là cái cổ hậu, cổ thọ. Những nhà khágiả thì lo xây sinh phần, miền Nam gọi là kim tỉnh. Rồi đến áo quan vàcác đồ tẩn liệm.

Về phần tinh thần, thì tùy mỗi người theo mỗi tôn giáo mà có sựchuẩn bị tinh thần cho mình khác nhau. Ðiều nầy, cũng còn tùy theo nhânsinh quan, và duyên nghiệp của mỗi người nặng nhẹ mà có đời sống tâmlinh khác nhau. Ðối với những người tu theo đạo Phật, thì tùy theotrình độ tu học nhận thức sâu cạn của mỗi người mà có sự chuẩn bị khácnhau. Nói chung, nếu người Phật tử nào khi còn mạnh khỏe biết chút íttu hành như: ăn chay, niệm Phật, bố thí cúng dường, tụng kinh bái sám,tin kính Tam bảo, hết lòng niệm Phật, thì đối với những người nầy, họđã có sự chuẩn bị sắp xếp cho mình ngày ra đi cũng rất chu đáo. Họ đãchọn cho họ có một hướng đi vững chắc bảo đảm. Do đó, nên họ không còngì phải lo âu sợ hãi về cái chết cho lắm. Còn đối với các bậc tu hànhđạo cao thâm hậu, thì cái chết đối với họ thật là không có nghĩa lý gì.Vì sinh tử chỉ là hư huyễn, như hoa đốm giữa hư không, không có gì phảilo âu sợ hãi. Các ngài xem cái chết như trò đùa, ảo hóa. Ðó là nhữngbậc chân tu đã đạt ngộ chân lý.

Còn đối với những chuyện thị phi, nếu người biết tu hành, thì họcũng không bao giờ quan tâm để ý tới. Ai nói phải trái gì họ cũng bỏqua ngoài tai cho xong, không cần phải bận tâm nghĩ đến.Vì nghĩ đến chỉchuốc thêm phiền muộn mà thôi. Học cách hành xử của bà Bá Bất Quản,trăm việc chẳng lo. Ai nói chuyện thị phi với bà, thì bà liền nói: “tùytha khứ”, nghĩa là theo nó đi, không có chuyện gì bà để vào trong tâm.Bà để tâm chuyên chú vào câu hiệu Phật. Sáu chữ Di Ðà, bà cố gắng gìngiữ niệm luôn. Cứ thế mà hành trì. Chỉ một năm sau, bà có kết quả.Trước khi theo Phật, bà đi từ giả mọi người, vì bà biết trước giờ phútra đi. Kết quả, bà đã được vãng sanh về Cực lạc.

Chính đó mới là điều đáng để cho chúng ta quan tâm lo nghĩ. Lo chíthành niệm Phật để ngày giờ ra đi của chúng ta được an ổn và vãng sanhvề cõi Phật. Còn ngoài ra, bất cứ chuyện gì khác, chúng ta nên nhứtquyết gạt bỏ hết ngoài tai. Ðược thế, lo gì mà không được vãng sanh.Vãng sanh là chấm dứt khổ đau, chấm dứt nạn khổ: sanh già bệnh chết.Vĩnh viễn thoát ly sanh tử. Ôi! được thế, thì còn gi vui sướng hơn!

Kính mong mọi người bỏ qua những điều không đáng lo, để cho tâm taan ổn khỏi phải chuốc thêm phiền lụy. Chúng ta nên nhớ: người nào lonhiều dễ bị căng thẳng thần kinh. Từ đó, dễ sanh ra nhiều chứng bệnhkhó trị, vì đa sầu là tự sát. Ðược thế, thì đời sống của chúng ta mớithực sự có ý nghĩa vậy. ( Còn tiếp )

Nguồn: quangminh.org