Thiền định: Từ góc độ Tâm lý học đến an ninh con người

0
152

1. Các thuật ngữ

1.1. Thiền định

Thiền địnhlà hoạt động tâm trí hướng tới tự kiểm soát. Phương pháp kiểm soát là hơi thở,thoại đầu… Mục tiêu kiểm soát là sự tập trung. Mục đích kiểm soát là sự phát triểntrí tuệ. Người thực tập thiền định gọi là thiền sinh. Người nghiên cứu,thực hành, có nhiều kinh nghiệm, giảng giải và chỉ dạy thì được gọi là thiềnsư.     

Căn cứ vàoquá trình thì có thiền chỉ (hay thiền định)thiềnquán, căn cứ vào quan điểm nhân quả thì có thiền đốn ngộ (giác ngộtức khắc)thiền tiệm ngộ (giác ngộ từ từ), căn cứ vào lịch sửhình thành thì có Như Lai thiền (thiền nguyên thủy hay thiền tứniệm xứ)Tổ Sư thiền (thiền đại thừa), căn cứ vào động cơthì có phàm phu thiền (thế gian thiền)thánh nhân thiền (xuất thếgian thiền), căn cứ vào tư thế cơ thể mà có thiền đi (thiềnhành), thiền ngồi (thiền tọa)…; ngoài ra, tùy vào các truyền thống khácnhau mà còn có thiền minh sát, thiền buông thư, chánh niệm… 

1.2. An ninh con người

Theo tác giả Chu Mạnh Hùng, đặc trưng cơ bản nhấtđược nhắc tới là mối  quan hệ giữa uy hiếpvà nguy hiểm. Trong tiếng Trung, “an ninh” được hiểu là trạng  thái với các nội dung: chưa có nguy hiểm,không bị đe dọa, không xảy ra sự cố. Trong tiếng Anh “security” (anninh) không chỉ bao hàm trạng thái của an ninh như tránh được nguy hiểm, khỏi bịlo sợ mà còn bao gồm việc bảo vệ an ninh, biện pháp an ninh và cơ cấu của anninh. Với nghĩa tiếng Việt, an ninh là trật tự xã hội, tình hình chính trị yên ổn,không lộn xộn, không nguy hiểm. So sánh những định nghĩa trên chúng ta thấy nộidung cơ bản là giống nhau: an ninh làkhông tồn tại sự đe dọa và nguy hiểm. [2]

Khái niệman ninh con người liên quan đến cáckhái niệm an ninh tập thể (collective security), phòng thủ tập thể(collective defense), an ninh chung (common security), cân bằng quyền lực (balance of power), nhóm hoà hợp các cườngquốc (concert of powers), an ninhtoàn diện (comprehensive security),an ninh hợp tác (cooperative security).Tuy nhiên, tham luận chỉ triển khai khái niệm an ninh con người. Theo đó, báocáo 1994 về phát triển con người của UNDP định nghĩa an ninh con người là”sự an toàn của con người trước những mối đe doạ kinh niên như nghèo đói,bệnh tật và đàn áp, và những sự cố bất ngờ, bất lợi trong đời sống hàngngày” và bao gồm 7 nội dung chủ yếu: kinh tế, lương thực, sức khoẻ, môitrường, cá nhân, cộng đồng và chính trị. [6]

2. Thiền định từ góc độ Tâmlý học

Theo tácgiả Nguyễn Ngọc Kha, thiền định là quá trình đạt tới sự tỉnh thức tuyệt đốitrong trạng thái tĩnh, có được do luyện tập. Thiền định còn là trạng thái tậptrung ức chế đồng đều cả nơron thần kinh cảm giác lẫn nơron thần kinh vận động,tập trung bắt đầu từ vỏ não và hệ thần kinh vận động. [3]. Đó là mặt sinh lý thầnkinh của thiền định, sau đây tham luận trình bày mặt tâm lý của thiền định.

2.1. Quá trình tâm lý

Quá trình tâm lý là những hiện tượng tâm lý diễnra trong thời gian tương đối ngắn, có mở đầu, diễn biến và kết thúc tương đốirõ ràng [4].

Khi thiền sinh tự khép mình vào kỷ luật, thực tậpthiền định theo thời khóa biểu với một thời lượng nhất định trong ngày (ví dụ: 3 lần/ngày, 1 giờ/lần). Nếu toànbộ thời lượng nói trên (1-2 giờ/lần)được xem là trạng thái thái tâm lý (tứctrạng thái thiền định) thì khoảng 15 – 20 phút đầu tiên thiền sinh vận dụngsự tập trung vào hơi thở để tập trung tâm trí lại được xem quá trình tâm lý. Với tư cách là quá trình tâm lý, thiền định là một hoạt động tâm trí hướng tới sựtập trung bằng hơi thở diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có mở đầu, diễnbiến và kết thúc tương đối rõ ràng. Gắn liền với quá trình tâm lý này là sự chúý và/hoặc tri giác vào hơi thở.

2.2. Trạng thái tâm lý

Trạng thái tâm lý là những hiện tượng tâm lý diễnra trong thời gian tương đối dài, việc mở đầu và kết thúc không rõ ràng, nhưchú ý, tâm trạng… [4] Khái niệm trạng thái tâm lý còn được sử dụng để phân biệtcó tính quy ước trong tâm lý của cá nhân thời điểm tĩnh tương đối, khác vớikhái niệm “quá trình tâm lý” khẳng định thời điểm động của tâm lý và khái niệm“tính chất tâm lý” chỉ ra độ bền vững trong biểu hiện tâm lý của cá nhân, sự củngcố và lặp lại chúng ở cấu trúc nhân cách. [1]

Sau khi hơi thở tự động điều hòa nhờ vào quá trình tâmlý hay quá trình thiền định nói trên, tâm lý của thiền sinh sẽ ở trong một trạngthái tập trung, tĩnh lặng có khả năng tự chuyển hóa hay tự trị liệu các xúc cảm,tình cảm tiêu cực thành trạng thái an lạc, nhẹ nhõm. Vậy, với tư cách là trạng thái tâm lý, thiền định là một trạngthái tập trung, tĩnh lặng và an lạc sau khi thiền sinh tự chuyển hóa hay tự trịliệu các xúc cảm, tình cảm tiêu cực. Đặc điểm nổi bật của trạng thái thiền địnhlà xúc cảm, tình cảm.

2.3. Thuộc tính tâm lý

Thuộc tính tâm lý là những hiện tượng tâm lýtương đối ổn định, khó hình thành và khó mất đi, tạo thành những nét riêng củanhân cách như xu hướng, tính cách, khí chất và năng lực. [4]

Tuy rất khó để định nghĩa thiền định với tư cáchlà một thuộc tính tâm lý nhưng người ta có thể xem xét thiền định ở các biểu hiệnsau đây.

Khi các quá trình và trạng thái thiền định đem lạisự an lạc được thực hiện lặp đi lặp lại thường xuyên thành thói quen và nhu cầu,thiền sinh sẽ hình thành trong mình một động lực quy định tính tích cực hoạt độngthiền định, tức đang hình thành xu hướngthiền định.

Khi có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cộng với việc thựchành thiền định một cách kỷ luật, thiền sinh hình thành trong mình một năng lực thiền định, tức một khả năng tậptrung tâm trí nhanh chóng và bền bỉ. Năng lực thiền định như vậy được xem là mộtthuộc tính tâm lý.

Tác dụng của thiền định tạo nên một kiểu khí chấtcân bằng, linh hoạt (điềm tĩnh) và một tính cách lạc quan.

Ngoài ra, thiền định còn tác động sâu sắc đến nhậnthức (tư duy và tưởng tượng) và sự sáng tạo.

3. Thiền định và an ninhcon người

An ninhkhông chỉ phản ánh hiện thực khách quan mà còn đề cập đến một trạng thái tâm lý- cảm giác an toàn và đối lập với nó là cảm giác bất an. Bất an là năng lực cảmbiến của con người về những rủi ro có thể đến với mình hoặc liên quan đến mìnhvà vì vậy nó phần nào giống như bản năng sinh tồn hay một loại phản ứng của conngười trước những tín hiệu về sự xuất hiện của rủi ro. Bất an là một trạng tháitâm lý bình thường và phổ biến của con người không những vậy nó còn phản ánh sựlành mạnh của con người xét ở phương diện sinh học, thể hiện sự nhạy cảm củacon người trước những rủi ro. Tuy nhiên, khi bất an trở thành trạng thái tâm lýphổ biến thì đó là vấn đề đáng lo ngại bởi nó nói lên tính đe dọa đối với cộngđồng xã hội. Nếu bất an trở thành hiện tượng xã hội phổ biến, con người sẽ phảiđối mặt với những rủi ro, đó là sự khủng hoảng tâm lý có tính chất toàn diện vàsâu sắc. Con người cảm nhận về sự bất an rất khác nhau vì cảm giác không chỉđơn thuần là một kích thích mà nó còn là hệ quả của quá trình nhận thức. [2]

Như vậy,thiền định để có an ninh – từ một góc độ Tâm lý học – là sự tự chuyển hóa, tựtrị liệu sự bất an. Định nghĩa “an ninh là không tồn tại sự đe dọa và nguy hiểm”xem an ninh là một sự tồn tại bên ngoài cái tâm lý, tức bên ngoài chủ thể thụhưởng sự an ninh. Trong khi đó, thiền định từ góc độ Tâm lý học lại nhấn mạnhan ninh (tức an lạc, điềm tĩnh, ổn địnhxúc cảm, tình cảm…) là sự tồn tại trong cái tâm lý, tức bên trong chủ thểthụ hưởng sự an ninh.

Có 7 vấn đềđe dọa đến an ninh con người là: kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, cánhân, cộng đồng và chính trị. Với một giới hạn nhất định, bài tham luận phântích mối quan hệ giữa thiền định 3 vấn đề lương thực, sức khỏe, môi trường vàcá nhân.

3.1. Thiền định và an ninh lương thực

An ninh lươngthực là một trạng thái đủ chất dinh dưỡng cho một cuộc sống hiệu quả, hoạt bátvà khỏe mạnh. Thiền định tuy không trực tiếp tạo ra lương thực phẩm nhưng lạicó thể giúp con người sử dụng, tiết kiệm và chia sẻ chúng cho cộng đồng. Khithiền định đạt đến một trình độ nhất định, cơ thể của thiền sinh tiếp nhậnlương thực một cách vừa đủ, không quá thiếu cũng không quá thừa. Thiếu dinh dưỡngvà thừa dinh dưỡng đều không đem lại cho cá nhân một cuộc sống hiệu quả, hoạtbát và khỏe mạnh.

Khái niệm “đủdinh dưỡng” không chỉ là vấn đề ăn cái gì mà còn là vấn đề cơ thể hấp thụ vàtiêu hóa như thế nào. Trong một số truyền thống thiền định, có trường phái thựchiện việc “ăn cơm chánh niệm”. Đó là việc dùng bữa cơm trong im lặng, chậm rãivà có sự tập trung của ý thức. Trong bữa cơm chánh niệm, để giúp cho các thiềnsinh ý thức tập trung, thỉnh thoảng (độ chừng 8 – 10 phút), người ta gõ một tiếngchuông để tất cả thiền sinh dừng lại và hít ba hơi thở, rồi sau đó tiếp tụcdùng bữa. Ăn cơm chánh niệm như vậy, ngoài việc giúp cho các thiền sinh giữ vữngsự tập trung còn giúp cho cơ thể thiền sinh hấp thụ và tiêu hóa tốt thức ăn.

Người bênngoài nhìn vào thường cho rằng các thiền sinh bị gò bó hoặc tiết chế trong ăn uốngnhưng thực ra đó lại là sự tác dung tích cực của thiền định nhằm giúp cải thiệnsự vận động tự nhiên của cơ thể thiền sinh. Như vậy, thiền định đã trực tiếpgiúp các thiền sinh điều tiết, điều độ trong việc sử dụng lương thực, và mặtkhác, thiền định gián tiếp tiết kiệm, chia sẻ cho cộng đồng về mặt an ninhlương thực trong việc .

3.2. Thiền định và an ninh sức khỏe

An ninh sứckhỏe là trạng thái khỏe mạnh của cơ thể và minh mẫn của tâm lý. Vậy mối liên hệgiữa thiền định và an ninh sức khỏe được hiểu như thế nào? Như đã biết, hiệnnay, nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới đã nghiêm túc xem việc tập yoga haythiền định là một trong những phương pháp hữu hiệu cải thiện và phát triển sứckhỏe của con người. Thiền định – một phần của yoga – tuy có trước Phật giáohàng ngàn năm nhưng lại được Phật giáo tiếp thu nhằm phục vụ cho mục đích giácngộ và cuối cùng trở thành một bản sắc của Phật giáo nói riêng và châu Á nóichung khi truyền bá sang các nước tiên tiến Âu, Mỹ.

Theo tácgiả Nguyễn Ngọc Kha, khác với thư giãn thông thường, thiền định có tác dụng điềuchỉnh mọi hoạt động của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại, cân bằng cơ thể vớimôi trường sống; kiểm soát quá trình quan hệ giữa nội giới và ngoại giới. Vì thế,ngoài tác dụng thư giãn, thiền định còn có tác dụng phòng và chữa các bệnh do mấtcân bằng các chức năng cơ thể mà chủ yếu là mất cân bằng giữa tuần hoàn máu vàtuần hoàn điện thần kinh.

Khi chủ độnggiảm được tiêu thụ năng lượng, cơ thể cân bằng hoạt động tương tác các cơ quan.Sự cân bằng ổn định của cơ thể sẽ tác động trở lại não bộ theo định luật phản hồi,tạo trạng thái cân bằng ổn định cho hoạt động của vỏ não, tăng sức bền, sức chịuđựng và khả năng điều hòa, điều khiển cơ thể.

3.3. Thiền định và an ninh cá nhân

An ninh cánhân là không cảm thấy bị đe dọa bởi các hành vi bạo lực đối với thân thể mỗicá nhân.

Các mốiđe dọa từ bên ngoài (chiến tranh, căng thẳng, xung đột…), trước hết, tác độnglên tâm lý cá nhân ở sự “cảm thấy” (cảm thấy bị đe dọa). Thiền định trong trườnghợp này là nhận thức “sự cảm thấy” đó đang diễn ra trong tâm lý và qua việc kiểmsoát hơi thở giúp cá nhân trấn tĩnh để lựa chọn cách ứng phó, đối phó với tìnhhình một cách có lợi nhất.

Ngoài ra, mốiđe dọa, sự mất an ninh hay sự bất an của con người có thể đến từ sự bất mãn, sựđòi hỏi vô lý một cách vô thức ở bên trong cá nhân. Cá nhân không ý thức được“sự vô lý” trong nhu cầu của mình nên luôn cảm thấy quyền lợi bị đe dọa. Thiềnđịnh giúp cá nhân nhận thức lại điều kiện thỏa mãn nhu cầu một cách điềm tĩnh,đúng đắn để điều chỉnh nhu cầu của mình một cách phù hợp; từ đó, cá nhân cảm thấysự an ninh, sự an toàn có thể đến được từ bên trong, mà không thật sự có mối đedọa từ bên ngoài.     

4. Kết luận

Từ góc độ Tâmlý học, thiền định có thể là quá trình, trạng thái hay thuộc tính tâm lý; vấn đềcốt lõi của thiền định và an ninh con người là vấn đề trị liệu, chuyển hóa mốibất an thường trực từ nội tâm, tức từ cái tâm lý của chính mỗi cá nhân.

Giống như Tâmlý học, có một số vấn đề thiền định chỉ đóng vai trò gián tiếp và thiền định lạicàng không phải là chìa khóa vạn năng cho tất cả các vấn đề, nhưng cuối cùng dườngnhư nó (cái tâm lý an lạc qua thiền địnhhay cái hạnh phúc) lại là vấn đề củamọi vấn đề trong đời sống con người. Cái bất an thường trực trong nội tâm conngười dường như có liên quan mật thiết đến lòngtham vô lý, không “thiểu dục tri túc” (ít muốn biết đủ) của trong chính bảnthân con người. Để an lạc, để hạnh phúc thì con người cần phải ít muốn biết đủ;và để ít muốn biết đủ con người cần nhờ vào sự rèn luyện tâm trí thông qua thiềnđịnh. Vậy, bản chất củahoạt động thiền định đối với an ninh con người là ở nhận thức biết đủ.

N.P


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. VũDũng (2008), Từ điển Tâm lý học, NXBTừ điển Bách khoa, Hà Nội.

2. Chu MạnhHùng (2012), Luận án tiên sĩ “Vấn đề anninh con người trong pháp luật quốc tế hiện đại”, Hà Nội.

3. GS Nguyễn Ngọc Kha (2005), bài báo “Thiền định” với sức khỏe, website Việtbáo.

4. NguyễnQuang Uẩn (2008), Tâm lý học đại cương,NXB Đại học quốc gia Hà Nội.

5. HumanDevelopment Report (1994), Chapter 2: Newdimensions of human security.

6.Website Học viện Ngoại giao Việt Nam.

(Kỷ yếuHội thảo quốc gia “Tâm lý học và an toàn con người”)