Tam Tạng pháp sư Cưu-ma-la-thập và cuộc thiên di vĩ đại của trí tuệ bồ-đề

0
204

Trước khi nhập Niết Bàn, Đức Phật dặn các đệ tử đặt mình quay đầu về phía Bắc, ngụ ý đạo Phật rồi sẽ phải truyền về phương Bắc.

Hơn chín trăm năm sau (khoảng trước, sau năm 400 SCN trở đi), đạo Phật quả nhiên truyền sang Trung Quốc, một phần để tránh những cuộc xung đột đẫm máu với một số tôn giáo khác, một phần cũng nhằm bảo vệ và tiếp tục truyền bá kinh tạng…

Cuộc thiên di vĩ đại này có những “nhân duyên” hết sức ly kì, kèm theo những sự kiện làm kinh động cả trời đất, quỷ thần…

[chuadieuphap lược]

Hoàng đế nước Phù Tần là Phù Kiên (337-385 SCN) rất tôn sùng đạo Phật, nghe lời tâu của quan Khâm thiên giám rằng: “Bệ hạ muốn có người tài giỏi, tinh thông cả tam tạng kinh điển, mà lại thông thạo cả tiếng Hán để dịch kinh Phật từ tiếng Phạn, thì phải mời cho được một vị Tam Tạng Pháp Sư là ngài Cưu Ma La Thập về đây để giúp Bệ hạ phiên dịch kinh điển.”

Thế là “nhân duyên” để kinh Phật truyền sang Trung Quốc đã bắt đầu phát lộ từ lời tâu của vị quan trên. Song Tam Tạng kinh điển đâu phải chuyện đùa, và cái “nhân duyên” ấy đâu chỉ đơn giản nằm trong một chữ “mời” mà xong. Pháp sư Cưu Ma La Thập lúc ấy đang là một vị thuộc hàng Quốc bảo của quốc vương nước Quy Tư (tức Apganistan ngày nay). Nước Quy Tư nằm giữa Trung Quốc và Ấn Độ nên cư dân ở đó hầu hết biết cả tiếng Phạn và tiếng Hán. Pháp sư Cưu Ma La Thập chính là con trai của vị công chúa độc nhất của Quốc vương nước Quy Tư. Biết rằng không dễ gì mà Quốc vương Quy Tư lại để cho đứa cháu ngoại nối dõi của mình sang hoằng pháp tại Phù Tần, Hoàng đế Phù Kiên bèn cử Đại tướng là Lữ Quang đem mấy trăm vạn binh mã sang đánh nước Quy Tư nhằm cướp cho được Ngài Cưu Ma La Thập đem về làm Quốc sư.

Mặc dù Ngài Cưu Ma La Thập khuyên Quốc vương Quy Tư nên để cho mình sang Phù Tần, giúp Phù Tần phiên dịch kinh điển vài năm để tránh cho dân chúng khỏi nạn binh đao. Song Quốc Vương Quy Tư không nghe, vẫn đem quân chống lại. Kết quả sau 6 tháng giao chiến, Quốc vương Quy Tư thua trận bị giết, Lữ Quang bắt được Ngài Cưu Ma La Thập đem về Phù Tần.

Trên đường trở về, một hôm, Lữ Quang đóng quân tại một thung lũng để nghỉ qua đêm, Pháp Sư Cưu Ma La Thập nhập thiền định và biết đêm đó sẽ có động đất và mưa lớn ngay tại vị trí đóng quân. Ngài khuyên Lữ Quang nên rời khỏi chỗ đó nếu không sẽ gặp tai họa. Lữ Quang không tin và cứ đóng quân ở lại. Quả nhiên đêm ấy trời mưa lớn kèm theo động đất, nước dâng lên kèm theo đá từ trên núi lăn xuống làm chết tới phân nửa quân sĩ. Bấy giờ Lữ Quang mới tin rằng Ngàu Cưu Ma La Thập có tài biết trước cả thiên cơ.

Một nửa quân số còn lại của Lữ Quang tiếp tục trở về kinh đô nước Phù Tần. Giữa đường bỗng nghe tin trong nước có biến loạn, hoàng đế Phù Kiên bị Đại tướng của mình là Diêu Trường (331-394) giết chết và cướp ngôi, đổi thành nước Diêu Tần. Cả vợ con Lữ Quang cũng bị Diêu Trường tàn sát. Lữ Quang vì thế không thể trở về, bèn đóng quân lại ở vùng biên cương rồi chiếm lấy một vùng, lập ra một nước nhỏ làm căn cứ.

Ngài Cưu Ma La Thập ở trong quân của Lữ Quang, nghĩa là Tam Tạng kinh điển đang trên đường truyền sang phương Bắc. Những việc kinh động ấy của Trời, Đất, của nước Phù Trần kia đều nằm trong những “nhân duyên” ghê gớm của một cuộc thiên di vĩ đại. Kể cả việc Ngài cùng với quân sĩ của Lữ Quang rồi sẽ phải nằm lại thêm mười năm ròng rã ở chốn biên cương này mới hội đủ “duyên” cho những pho kinh điển bất hủ của cả Trời, Đất, quỷ thần kia chính thức chuyển sang thành Hán ngữ.

Lữ Quang vô cùng oán hận, chỉ vì một Cưu Ma La Thập mà cả vua mình lẫn vợ con mình đều bị giết. Xưa nay làm tướng cầm quân xông pha trận mạc, chỉ một là cướp đất, tranh thành, hai là cướp châu báu, gái đẹp. Có đâu lại đi cướp một ông… thầy chùa để đến nỗi nước mất, nhà tan. Lữ Quang những muốn đem Ngài Cưu Ma La Thập ra chém quách cho hả giận, nhưng nhớ lại trận động đất, mưa gió kinh hoàng khi trước mà Ngài đã báo trước, cộng với uy tín, tiếng tăm của Ngài đã đồn ra khắp thiên hạ làm Lữ Quang e ngại chưa dám ra tay.

Bấy giờ, những quân sư của Lữ Quang cũng căm việc ấy lắm, bèn bày kế dùng gái đẹp để dụ cho Ngài phạm giới để có cớ đem giết đi. Lữ Quang lập tức cho người đi khắp nơi, tuyển lấy một nghìn gái đẹp, đưa vào hầu hạ Ngài suốt cả ngày đêm đồng thời cử người theo dõi. Suốt mười năm liền như thế, Ngài Cưu Ma La Thập vẫn vững lòng một mực giữ giới, không hề lay động mảy may. Từ chỗ oán hận, dần dần Lữ Quang đã đổi thành sự kính phục đối với Ngài. Và, âm mưu thử thách đó, những kẻ phàm tục đời mạt pháp làm sao có thể hiểu được, rằng nó cũng nằm trong cái “nhân duyên” kì diệu của công cuộc truyền tống kinh điển của Ngài sau này.

Mười năm sống cùng những mĩ nữ ở khắp các vùng thuộc đất Trung Quốc đã khiến cho Ngài Cưu Ma La Thập trở nên tinh thông tiếng Hán hơn bao giờ hết. Bấy giờ mới hội đủ “duyên” cho Tam Tạng Kinh điển bắt đầu có thêm một ngôn ngữ mới: tiếng Hán. Năm 395, Diêu Trường chết, con là Diêu Hưng (396-416) lên nối ngôi. Diêu Hưng là một ông vua sùng Nho học, đề cao Phật Giáo, đã sai sứ đến gặp Lữ Quang thương thuyết, xóa bỏ hận thù và đón Ngài Cưu Ma La Thập về kinh phong làm Tam Tạng Quốc Sư, bắt đầu công cuộc phiên dịch kinh Phật. Bấy giờ là vào năm 401 SCN.

Thế là trải qua bao sự kiện kinh thiên động địa kể từ khi “nhân duyên” phát lộ, cuộc thiên di vĩ đại của Tam Tạng kinh điển đã tới cái nơi cần tới, đúng như sự tiên tri của bậc Toàn Giác ngót một nghìn năm về trước. Vua Diêu Tần huy động một lực lượng khổng lồ gồm 800 vị Tỳ kheo, 1200 vị Tú tài, 500 vị Bảng nhãn và 10 vị Tiến sĩ để hỗ trợ Ngài Cưu Ma La Thập dịch kinh. Trong lúc dịch, tất cả những vị này đều phải ngậm nhang. Suốt thời gian dịch phải trường chay giữ giới để giữ trọn ba nghiệp tuyệt đối thanh tịnh…

Không cần phải liệt kê ra đây những bộ kinh mà Ngài Cưu Ma La Thập đã phiên dịch trong công cuộc này. Chỉ biết rằng văn chương tuyệt hảo và chất lượng của những bản dịch ấy xứng đáng là mẫu mực cho môn dịch thuật khắp muôn đời về sau. Đến nỗi trước khi viên tịch, Pháp Sư Cưu Ma La Thập có lời nguyện rằng, nếu ông đã phiên dịch những bộ kinh ấy đúng với ý Phật, thì khi hỏa thiêu, lưỡi ông sẽ còn nguyên. Ngược lại, toàn thân ông cùng cái lưỡi sẽ cháy hết ra tro. Kết quả sau khi thiêu, ông đã để lại cho đời sau chiếc lưỡi đã biến thành xá lỵ, còn nguyên vẹn và bền vững như kim cương không gì phá hủy nổi.

[chuadieuphap lược]

Cha Cưu Ma La Thập là Cưu Ma La Viên, vốn là một vị tể tướng của một nước thuộc Ấn Độ. Ngài vì ham muốn đạo Giác ngộ, Giải thoát nên đã từ chức tể tương để xuất gia tu hành. Trên đường hoằng pháp, Ngài đi qua kinh đô nước Quy Tư vào đúng thời gian Công chúa độc nhất của nước Quy Tư đang gieo cầu kén chọn Phò mã. Công chúa nước Quy Tư  lúc đó là người vốn cũng rất hâm mộ đạo Phật nên ăn chay từ thuở bé, tới năm 16 tuổi, Công chúa đòi xuất gia tu hành. Quốc vương nước Quy Tư vì chỉ sinh được mình Công chúa nên ra sức khuyên răn Công chúa lấy chồng để có người nối dõi ngôi vua. Khuyên bảo mãi, cuối cùng, Công chúa cũng đồng ý với điều kiện vua cha phải để cho Nàng được tự do kén chồng. Thế là đài gieo cầu được dựng lên giữa kinh đô nước Quy Tư.

Công chúa nước Quy Tư không phải người thường, mà có biệt nhãn, có thể xem được tướng mạo của mọi người trong khắp thế gian. Vì thế đài dựng lên đã được 3 năm mà vẫn không kén được ai ưng ý. Bất ngờ hôm ấy thấy một vị Tỳ kheo đang đi ngang qua, Công chúa nhìn tướng, biết vị này tu hành tuy khó thành chính quả, song có quý tướng sinh ra con Thánh, bèn rung chuông báo hiệu, sai người mời vị Tỳ kheo kia về.

Vị Tỳ kheo ấy chính là Ngài Cưu Ma La Viên. [chuadieuphap lược]


  
Phạm Lưu Vũ (nguồn: nguyentrongtao.info)