Sự phá sản trên thực tế của kỳ thi đại học

0
148
Thi ĐH đi một đường, nền tảng xã hội đi một nẻo. Ảnh minh họa

Cách đây gần 10 năm, trong bài viết “Những kỳ thi loại bỏ nhân tài” đăng trên báo Sinh Viên,tôi đã phân tích tính chất lạc hậu của kỳ thi đại học ở nước ta hiệnnay và đề xuất việc cải cách triệt để cách thức tuyển sinh ĐH. Bài viếtnhận được khá nhiều phản hồi tích cực. Sau đó, Bộ GD và ĐT cũng có kếhoạch bãi bỏ kỳ thi ĐH, tuy nhiên kế hoạch này cho đến nay vẫn chưađược thực hiện. Bài viết này tiếp tục bài viết nói trên, với nhiều suynghĩ mới dựa trên tình hình thực tế của nền giáo dục ĐH nước nhà.

Thi ĐH đi một đường, nền tảng xã hội đi một nẻo

Trướchết, việc duy trì, bãi bỏ, hay cải cách các kỳ thi ĐH không thể là mộtquyết định nóng vội, duy ý chí, mà phải dựa trên một triết lý giáo dụcđúng đắn, đáp ứng được ở mức cao nhất những đòi hỏi của xã hội. Thi ĐH không phải bao giờ cũng dở, hay ít ra thì cũng không phải bao giờ cũng dở hơn so với không thi ĐH.

Giáodục như chúng ta vẫn nói, là đầu tư cho tương lai. Mà đã đầu tư, khôngthể không nói đến hiệu quả: Trong điều kiện nguồn vốn hạn chế (mà trênthực tế thì nguồn vốn bao giờ cũng hạn chế), người ta phải tập trungvào những dự án có tiềm năng nhất, nói nôm na là “trông giỏ bỏ thóc”.Trong giáo dục, cách đầu tư như vậy thể hiện qua sự ưu tiên đối vớinhững cá nhân có tiềm năng trí tuệ cao nhất, những người mà ta vẫn gọilà “nhân tài”, đồng thời duy trì giáo dục đại trà ở mức hợp lý.

Vềbản chất, sự ưu tiên đối với các “nhân tài” là nhờ sự “nhường nhịn” củanhững người còn lại. Sự nhường nhịn ấy sẽ được bù đắp nếu như nhữngngười được hưởng ưu tiên thực sự “thành tài”, sẽ góp phần thúc đẩy xãhội phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của tất cả mọingười. Việc lựa chọn nhân tài để đầu tư chính là nhiệm vụ của các kỳthi ĐH.

Những điều trên đặc biệt đúng trong xã hội XHCN, khigiáo dục là nhiệm vụ chung và gần như toàn bộ nguồn vốn cho giáo dụccũng là của chung. Nghiên cứu đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay, tathấy rằng đa số xuất thân từ nông thôn. Điều này phản ánh đúng cơ cấuxã hội Việt Nam mấy chục năm trước, khi đại đa số người dân sống ở nôngthôn.

Điều này đồng thời cũng chứng tỏ rằng các kỳ thi ĐHtrong một giai đoạn nhất định đã hoàn thành nhiệm vụ lựa chọn nhân tài,những người có tư chất xuất sắc, chứ không chỉ “biết nhiều”. Dĩ nhiêncác kỳ thi ĐH lúc đó không phức tạp như ngày nay, bởi số người dự thiít hơn rất nhiều. Bên cạnh đó, sự khác biệt về điều kiện sống không lớnnhư hiện nay.

Việc dạy thêm và luyện thi chưa có, và các đềthi ĐH cũng chỉ yêu cầu những kiến thức trong sách giáo khoa, nên cácem học sinh dù sống ở vùng xa xôi hẻo lánh vẫn có nhiều cơ hội trúngtuyển. Bản thân tôi học ở Phú Thọ hơn 8 năm, chỉ một năm rưỡi cuối cấpTHPT mới về Hà Nội. Kỳ thi ĐH năm 1979, lớp cũ của tôi (ở Phú Thọ) có 4người đỗ, còn lớp mới (ở Hà Nội) có 5 người đỗ, không kể tôi – nghĩa làsự  khác biệt không lớn lắm.

Tôi nhớ, trong số bạn bè tậptrung ở Hà Nội trước khi đi học ở nước ngoài, tức là những người trúngtuyển với điểm số rất cao, nhiều người chưa bao giờ đến Hà Nội, nhiềungười chưa bao giờ biết bia hay bánh mỳ pa-tê là gì. Những người ấy vềsau đã nhanh chóng đuổi kịp và thậm chí bỏ xa nhiều sinh viên các nướcphát triển hơn như Nga, Bungari, Ba Lan, Đức…

Thế nhưng aicũng thấy rằng hiện nay chế độ tuyển sinh ĐH đã trở thành một vấn đềnhức nhối. Trong rất nhiều lý do, theo tôi, lý do chính là các kỳ thiĐH nói riêng và nền ĐH của ta nói chung vẫn tiếp tục vận hành theolối cũ, phù hợp với triết lý cũ, trong khi nền tảng kinh tế xã hội đãthay đổi rất nhiều, nếu không nói là cơ bản.

Khi chấpnhận kinh tế thị trường, chúng ta buộc phải công nhận vai trò điều tiếtcủa thị trường đối với lực lượng lao động. Trước kia, trong nền kinh tếtập trung, nhà nước quyết định kế hoạch phát triển kinh tế xã hội vàcăn cứ vào đó mà xác định kế hoạch phát triển nhân lực. Ngày nay nhucầu của thị trường và sự cạnh tranh trong chính lực lượng lao động mớilà nhân tố quyết định các định hướng giáo dục.

Thi ĐH làm gia tăng bất công xã hội

Giáo dục, vì thế, trở thành vấn đề thiết thân với từng cá nhân và từng gia đình.Cơ cấu vốn cũng thay đổi. Nếu trước kia nguồn vốn cho giáo dục (bao gồmcả trường sở, giáo trình, đội ngũ giáo viên…) đều là của chung và rấthạn chế, thì ngày nay các nguồn vốn của tư nhân tham gia ngày càngnhiều. Các cá nhân, sau khi đóng thuế (tức là tham gia đóng góp cho xãhội, bao gồm cả cho giáo dục) cần được khuyến khích đầu tư cho giáo dụccon cái họ, cho dù con cái họ có thể không thuộc nhóm người có tư chấtxuất sắc để được hưởng ưu tiên của xã hội.

Nỗ lực học tập củabất kỳ ai, cho dù năng lực kém đi chăng nữa, cũng chỉ là điều tốt lànhcho xã hội. Không những thế, học tập bằng tiền của mình, đó là mộtquyền chính đáng của mọi người dân, là một trong những mục tiêu cao cảnhất của cuộc cách mạng 1945. Thế nhưng các kỳ thi ĐH đã loại bỏ quyềnđó của rất nhiều người.

Một tác động tiêu cực khác của các kỳ thi ĐH là làm gia tăng bất công xã hội.Cuộc thi ĐH là để chọn những người có tư chất tốt. Nhưng lối thi cửnặng về đánh giá kiến thức hiện này tất yếu dẫn đến việc luyện thi trànlan. Cùng với khoảng phân cách giàu nghèo đang ngày mở rộng, việc thiĐH đang ngày càng đi ngược lại mục đích của nó.

Dĩ nhiên,trong số các học sinh được học và luyện thi chu đáo ở thành phố, thịxã, cũng có những em thông minh, tư chất tốt. Nhưng đối với các họcsinh nghèo ở tỉnh xa, cơ hội cũng như chất lượng học thêm, luyện thikhông thể so với học sinh giàu ở thành phố. Một học sinh dù có phẩmchất trí tuệ tốt nhưng không được luyện thi, sẽ rất khó đạt điểm cao.

Đólà chưa nói, với tình trạng thi ĐH đại trà như hiện nay, bản thân nhữngngười chấm cũng không đủ thời gian để đánh giá chính xác về tư chất củahọc sinh, mà chỉ thiên về đối chiếu (nhiều khi khá qua loa đại khái)bài thi với đáp án. Kết quả là các kỳ thi ĐH không chọn được nhân tàinhư mục tiêu của nó.

Kết quả tất yếu của sức ép xã hội

Xã hội đã phản ứng lại các cuộc thi này như thế nào?

Nhữnggia đình có điều kiện kinh tế đưa con ra nước ngoài, nơi cổng trường ĐHlúc nào cũng sẵn sàng chào đón. Trên thực tế, không phải ai cũng muốncho con du học. Ngoài tốn kém về tài chính và sự xa cách tình cảm, họcòn có mối lo làm sao theo dõi việc học hành, sinh hoạt của con em mìnhnơi đất khách quê người.

Một tác động tiêu cực khác của các kỳ thi ĐH là làm gia tăng bất công xã hội.Cuộc thi ĐH là để chọn những người có tư chất tốt. Nhưng lối thi cửnặng về đánh giá kiến thức hiện này tất yếu dẫn đến việc luyện thi trànlan. Cùng với khoảng phân cách giàu nghèo đang ngày mở rộng, việc thiĐH đang ngày càng đi ngược lại mục đích của nó.

Nhưng họ đâu có sự lựa chọn nào khác. Họ không thể nhắm mắtmặc kệ con em mình đứng ngoài nhìn vào trường ĐH, nhất là ở một xã hộitrọng bằng cấp như Việt Nam. Vì thế, số du học sinh Việt Nam đang tănglên nhanh chóng, đến mức có người gọi là “tị nạn giáo dục”. Theo con sốthống kê của Bộ GD và ĐT, số du học sinh Việt Nam tại các cơ sở đào tạonước ngoài hiện này là khoảng 60.000.

Ngoài nguy cơ chảy máu chấtxám mà rất nhiều học giả và các nhà quản lý đã đề cập, số du học sinhnày cũng đem ra nước ngoài một lượng ngoại tệ lên đến hàng tỷ dollar Mỹmỗi năm. Một phần đáng kể của lượng ngoại tệ khổng lồ này đáng lẽ đượcgiữ lại Việt Nam phục vụ cho các kế hoạch phát triển đất nước, trong đócó ngành giáo dục ĐH đang thiếu vốn đầu tư.

Tất nhiên, khôngphải gia đình nào cũng có thể gửi con ra nước ngoài. Vì thế, người taphải tìm cách khác. Một trong những cách khác đó là ồ ạt lập thêm nhiềutrường ĐH mới, đồng thời nâng cấp hàng loạt trường cao đẳng lên ĐH vàhàng loạt trường trung cấp lên cao đẳng.

Theo số liệu thốngkê của Bộ GD và ĐT, nếu năm 1987 cả nước có 107 trường ĐH và CĐ, thìnăm 2009 con số này là  376 trường, tăng 3,7 lần. Riêng 2 năm 2006-2007đã có gần 40 trường ĐH mới được thành lập hoặc nâng từ cấp thấp hơn.Nhờ sự gia tăng nhanh chóng về số trường, tổng số sinh viên cũng tăng13 lần, từ trên 133.000 năm 1987 lên trên 1,7 triệu năm 2009.

Việcồ ạt mở các trường ĐH và CĐ trong những năm vừa qua bị nhiều người phêphán nhưng theo tôi nó là kết quả tất yếu của sức ép xã hội. Cho dùchất lượng các trường ĐH còn thấp, nhưng cũng còn hơn không. Tác giả MỹChico Harlan, trong bài viết “Vietnamese teens' thirst for college outpaces country's educational system“trên tờ Washington Post, so sánh rằng với dân số gần 89 triệu dân, ViệtNam có chưa tới 400 trường ĐH và CĐ, trong khi Mỹ, với dân số  310triệu, có tới hơn 4.400 trường. Tác giả này cũng cho biết, tỷ lệ sinhviên so với dân số của Việt Nam chỉ bằng 1/2 của Thái Lan và 1/3 củaHàn Quốc.

Việc tăng nhanh số trường ĐH và CĐ trong bối cảnhchất lượng giáo dục phổ thông chưa được cải thiện cũng tất yếu dẫn đếnmột hậu quả khác mà thoạt nhìn là tiêu cực, nhưng thực chất lại là tíchcực.  Đó là buộc Bộ GD và ĐT phải quy định điểm sàn tuyển sinh thấp vàcó xu hướng giảm dần. Trong bảng là điểm sàn tuyển sinh ĐH do Bộ GD vàĐT công bố trong 7 năm gần đây:

 

Năm

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

Khối A

14

15

13

15

13

13

13

Khối B

15

15

14

15

15

14

14

Khối C

15

14

14

14

14

14

14

Khối D

14

14

13

13

13

13

13

Nguồn: Thu thập và đối chiếu từ các báo trong nước

Tấtnhiên điểm thi ĐH còn phụ thuộc và mức độ khó hay dễ của đề thi. Vìthế, nếu không muốn hạ điểm sàn, Bộ GD và ĐT còn có thể chọn cách khác,đó là ra đề dễ hơn. Dù chọn cách nào, thì mục đích cũng vẫn là nhằmthỏa mãn đòi hỏi của xã hội trong việc mở rộng hơn cánh cửa vào trườngĐH.

Thi ĐH đang dần bị xã hội “vô hiệu hóa”

Cùngvới việc ồ ạt lập thêm nhiều trường ĐH mới là sự nở rộ của các chươngtrình đào tạo ĐH không chính quy (được tổ chức dưới hình thức liên kếtgiữa một trường ĐH và các tổ chức khác nhau) và các chương trình liênthông từ trung cấp lên CĐ và ĐH. Các chương trình đào tạo không chínhquy và liên thông từ bậc trung cấp cũng chịu nhiều phê phán, nhưng mặttích cực của nó là mở ra cơ hội giành tấm bằng ĐH cho phần lớn những aimong muốn.

Tóm lại, bằng nhiều cách, kỳ thi ĐH đang dần dầnbị xã hội vô hiệu hóa và mất dần ý nghĩa. Vậy chúng ta nên làm thế nào?Theo tôi, chúng ta nên nhìn thẳng vào thực tế. Hãy noi theo đa số cácquốc gia phát triển, bỏ thi ĐH đại trà, cho phép các trường tự tuyểnsinh và áp dụng chế độ thu học phí cạnh tranh.

Cùng với việc ồ ạt lập thêm nhiều trường ĐH mới là sự nở rộ của các chương trình đào tạo ĐH không chính quy. Ảnh minh họa

Về vấn đề này, tôi đã đề cập khá chi tiết trong bài “Học phí ĐH: cần một cách tiếp cận khác“.Ở đây chỉ xin tóm tắt vài ý chính. Theo tôi, mức học phí phải cao hơnđáng kể so với hiện nay, vào khoảng 2-3 triệu đồng/ tháng. Tuy nhiên,không phải tất cả các sinh viên đều phải nộp mức học phí. Chúng ta nêncăn cứ vào kết quả học tập để phân loại sinh viên và áp dụng các mứchọc phí khác nhau.

Chẳng hạn, 10% sinh viên xuất sắc nhấtkhông những không phải trả tiền học phí, mà còn nhận được học bổng, đủđể chi trả tiền nhà và sinh hoạt. 30% tiếp theo được miễn học phí. Nhưvậy, chỉ có 60% phải nộp học phí. Với chính sách học phí như vậy, chúngta có thể hỗ trợ các sinh viên nghèo học giỏi, tạo cạnh tranh lànhmạnh, khuyến khích các em nỗ lực học tập, giảm gánh nặng cho ngân sáchquốc gia, đồng thời góp phần nâng cao mức sống của giảng viên và từ đóchống tiêu cực trong giáo dục.

Bên cạnh đó, chúng ta nênthành lập một vài trường ĐH trình độ cao với chế độ thi tuyển rất chặtchẽ. Sinh viên các trường này được hưởng học bổng toàn phần đủ để họtoàn tâm toàn ý vào học tập nghiên cứu. Các học bổng này là sự ưu tiêncủa xã hội để đào tạo tầng lớp trí thức tinh hoa của đất nước. Vì thếnó không chỉ dựa trên kết quả thi đầu vào, mà được quyết định lại hàngnăm căn cứ vào kết quả học tập.

Để giảm bớt bất bình đẳng xãhội, chế độ học phí của các trường ĐH khác có thể có nhiều mức, căn cứvào thu nhập của cha mẹ, địa phương xuất thân của sinh viên và tínhchất ưu tiên đối với những ngành hoặc khu vực địa lý…

Mỗitrường cũng có thể có các học bổng đặc biệt dành cho các đối tượng khácnhau, như những người có thành tích đặc biệt về thể thao, nghệ thuật,những người có hoạt động xuất sắc vì cộng đồng…Ngoài ra, các trườngĐH cần chủ động kêu gọi các công ty, tổ chức và các nhà hảo tâm lập racác học bổng nhằm khuyến khích tài năng hoặc trợ giúp những sinh viêncó hoàn cảnh đặc biệt.

Bỏ thi ĐH, theo tôi, là một quan điểm rất tiến bộ. Nó đảm bảo sự bình đẳng về cơ hội học tập, bởi học tập là quyền chính đáng của mọi người, mặc dù xuất phát điểm có thể khác nhau. Vì vậy, nếu chúng ta không chủ động quyết định, chúng ta sẽ bị cuộc sống bỏ qua.

Ngô Tự Lập (TVN)