Siêu hình trong vật lý và tinh thần trong vật chất

0
257

I. Trong tự nhiên

1. Hai thế giới trong một hiện thực

Với Vật lý cổ điển, vật chất hiện ra ở các hạt. Trong khi các lực thì được mô tả bởi các Trường.

Trái lại, Cơ học lượng tử thì chỉ nhìn thấy ở cái hiện thực cáctương tác. Tương tác được chuyển tải bằng các hạt trung gian gọi là cácBôson. Nói chính xác hơn, các Bôson là hạt truyền tin, chuyển tải cáclực và bảo đảm những liên hệ giữa các hạt vật chất, mà Vật lý gọi làFecmion. Các Fecmion này tạo thành các “Trường Vật chất”.

Các hạt thuộc họ Bôson là những hạt ảo. Nhưng thật khó hiểu, khôngcó cái ảo ấy, các Fecmion không thể vận hành, nghĩa là Thế giới hiệnthực không thể vận động được nếu không có cái ảo, cái siêu thực thamgia. Chẳng hạn, Hệ Mặt trời không thể tồn tại nếu không có tương tácHấp dẫn được truyền tải đi, giữa các hành tinh, bởi cái ảo ấy.

Vật lý Lượng tử đã bắt đầu mở ra lĩnh vực trừu tượng hóa thuần túy:Thế giới của những “thực thể Toán học”, được gọi là các hạt “cơ bản”.Chúng có tên chung là quark. Thế nhưng, các nhà Vật lý, dù đãthực hiện nhiều cuộc săn tìm trong tia Vũ trụ, trong nhiều thí nghiệmcực kỳ tốn kém, nhưng, hạt gọi là quark đó, vẫn không hề được tìm thấy.Tóm lại, theo mô hình chuẩn, quark chỉ là một điểm Toán học, dựa vàomột kiểu hư cấu toán học, hoàn toàn siêu hình. Mà kỳ lạ thay, cái siêuhình lại có thể làm cho cái hữu hình xuất hiện và vận hành trơn tru.Chẳng hạn, Proton là một hạt Vật chất, (cùng với Neutron làm nên hạt nhân nguyên tử), thế mà Protonlại do 3 hạt quark tạo thành: 3 hạt không có kích thước, không có khốilượng, không thể nắm bắt, đã làm nên một hạt có kích thước, có khốilượng và nắm bắt được. Điều này làm nảy sinh một hệ quả Triết học rấtcơ bản: Thế giới Siêu hình hiện hữu trong Thế giới Vật lý. Hay nói cáchkhác, Thế giới hiện thực tồn tại bởi tổng hợp của hai Thế giới Vật chấtvà Thế giới siêu hình. Những “thực thể” cơ bản, gọi là quark này, phảichăng là có hai mặt ? Một mặt, trừu tượng, có liên hệ với lĩnh vực củacác thực chất; nhưng còn một mặt khác, cụ thể, lại liên hệ với Thế giớivật thể của chúng ta. Theo cách nghĩ ấy, quark sẽ là một thứ “trunggian” giữa hai Thế giới đó.

Vật lý càng tiến bộ thì nó càng phát hiện ra nhiều mối liên hệ giữacác hiện tượng, mà ta đã tưởng như chúng hoàn toàn tách biệt nhau. Vìvậy, đòi hỏi sự mô tả Tự nhiên một cách thống nhất như một “Lý thuyếtcủa tất cả”, là mục tiêu của một cuộc tìm kiếm hết sức khẩn trương củacác nhà Vật lý trên toàn Thế giới trong thế kỷ XX .

Trong công cuộc tìm kiếm sự thống nhất này, đối xứng luôn là kẻ dẫnđường quan trọng, nhưng nó cũng trở nên ngày càng trừu tượng hơn. Từđối xứng mà chúng ta biết trong cuộc sống: đối xứng phải – trái, đốixứng quay, người ta đã đi tới đối xứng Vật chất – ánh sáng, để rồi đẻra cái “siêu đối xứng” của các “Siêu hạt”, làm cơ sở cho Lý thuyết Siêudây ra đời trong một không gian 10 chiều, chẳng thể nào tưởng tượng nổi.

Lý thuyết Siêu dây đã tỏ ra có nhiều ưu điểm quan trọng. Nó tránhđược mọi trở ngại, bế tắc như các lý thuyết trước đây và đưa các nhàVật lý tiến sát đến đích mà bấy lâu mong đợi. Tuy còn phải chờ đợi thựcnghiệm kiểm chứng xem, liệu cái “siêu hạt” kia có tồn tại, như tiênđoán của Lý thuyết này, hay không, nhưng không ít các nhà Vật lý bănkhoăn về tính hiện thực của nó đối với Thế giới Vật lý. Bởi vì một họcthuyết, hoàn toàn bao phủ bởi một màn khói Toán học dày đặc, thì Vật lýkhông còn liên quan gì với hiện thực nữa. Phải chăng Lý thuyết mới nàymở ra một cách tiếp cận đích thực về hiện thực của Thế giới, mà trongđó, bản chất tối hậu của sự vật không còn là Vật chất thô thiển, màhình bóng của nó chỉ có thể gián tiếp nắm được bằng những thao tác Toánhọc ? Nghĩa là, Khoa học đưa chúng ta đi sâu vào bên trong những bí ẩncủa Vũ trụ, không phải Vật lý mà là Toán học, hay một tên gọi mới làVật lý toán học ?

Ngày nay thì Toán học thâm nhập ngày càng sâu vào mọi lĩnh vực củađời sống: Kinh tế học, Điều khiển học, Ngôn ngữ học, Tâm lý học và cảVăn học nghệ thuật nữa v. .v.. Những Ngành mà, cách đây không lâu,tưởng như xa lạ với Toán học. Rõ ràng vai trò chủ đạo, dẫn dắt Thế giớiTự nhiên và Xã hội của Siêu hình học là không thể chối cãi. Và, Ítnhất, thì điều đó cũng chứng tỏ rằng Thế giới Vật lý và Thế Siêu hìnhlà một Tổng thể thống nhất của hiện thực.

Một chân lý Toán học được khám phá trong Thế giớ Siêu hình – mộtĐịnh lý chẳng hạn – chỉ có thể được “kiểm chứng” bằng một hệ thốngLôgic nhất quán, cũng chính của Thế giới Siêu hình, chứ không phải bằngphương tiện của Khoa học thực nghiệm .

Vì thế cho nên, Vật lý học hiện đại, tuy đã mở được những ô cửa nhìnsang Thế giới Siêu hinh, như đã chứng tỏ, và cũng đã đón nhận hào quangtừ đó hòa vào thế giới Vật lý, nhưng lại khước từ một cuộc tiến quânKhoa học vào thế giới ấy, thì chỉ có thể có hai hệ lụy: Một là bưng mặttrước thực tế và ném ra một lời phủ định. Hai là trốn tránh với lý dorằng, đó không phải là công việc củaKhoa họcVật lý mà là của các nhàTriết học. Hậu quả là một sự phân hóa nhận thức, làm nảy sinh một cuộc“tranh luận thiên niên kỷ” không có hồi kết .

Nhân loại mãi chịu ơn các thế hệ những nhà Toán học, với tay không,chỉ bằng Tư duy trừu tượng, suốt cuộc đời, đi tìm những viên ngọc quíToán học, ẩn giấu trong cái trật tự của Thế giới Siêu hình ấy, để làmgiàu cho Trí tuệ nhân loại trên con đường nhận thức hiện thực và tácđộng vào hiện thực .

2. Trường vật chất, Trường Thông tin

Trong những cuộc bàn thảo “Vũ trụ là gì?”, nhà Vật lý lớn người MỹHeinz Pagels, đã nói: Cũng như phần đông các nhà Vật lý, Tôi cho rằngVũ trụ là một thông điệp được soạn thảo bằng một mật mã – mã Vũ trụ -mà nhiệm vụ của các nhà Khoa học là giải thứ mã ấy.

Quá trình tìm kiếm chiếc chìa để mở khóa thứ mã ấy, được triển khai với 3 giai đoạn: Vật chất, Năng lượng và cuối cùng là Thông tin.

Làm rõ các giai đoạn đó, ta có thể hiểu như sau: bởi vì một hạtkhông phải tồn tại tự bản thân nó, mà chỉ là qua những hiệu ứng tươngtác do nó đẻ ra. Tập hợp những hiệu ứng ấy được gọi là một “Trường”.Như vậy, những vật thể xung quanh ta chỉ là những tập hợp Trường:Trường điện từ, Trường hấp dẫn, Trường Proton, Trường électron, cácTrường bức xạ v. .v.. Nghĩa là, hiện thực chủ yếu là một tập hợp củacác Trường tác động lẫn nhau thường xuyên. Chúng dao động, và các hạtcơ bản với bản chất khác nhau được gắn vào. Đó là biểu hiện “chất” củaTrường. Dao động làm cho chúng di chuyển trong không gian và đi vào sựtương tác lẫn nhau. Nhưng Trường bao giờ cũng gắn với Sóng.

Vậtchất, đó cũng là các Sóng ? – Đúng thể, Nhà Vật lý lý thuyết rất nổitiếng Louis de Broglie đã chứng minh rằng, Vật chất của các vật thể, tựnó cũng bao gồm nhiều cấu hình sóng do chúng giao thoa với năng lượng.Mà Sóng thì bao giờ cũng mang Thông tin .

Mặt khác, Hiện thực cơ bản được mô tả như các Trường lượng tử trênđây là gì, nếu không phải là một hiện thực, mà bản chất tối hậu của nó,chỉ là Thông tin thuần túy ?

Điều này đã thể hiện ngay ở tầm vi mô về quá trình Vật lý củaProton, như đã nói ở mục 1. Để thấy rõ bản chất Thông tin của Thế giớiihiện thực, chúng ta tiếp tục trở lại câu chuyện Proton: Nếu bắn pháProton bằng một hạt năng lượng cao, Proton sẽ vỡ. Vật lý hạt cho chúngta biết rằng, cái mà Proton giải phóng ra, không phải là 3 hạt quarkban đầu, mà là 3 hạt khác hoàn toàn: Một électron, một Neutron và mộthạt Neutrino.

Về hình thức, quá trình Vật lý xảy ra đối với Proton, chính là sơ đồđược mô tả phổ biến trong lý thuyết Toán Otômát về vận động Thông tin.Đó là bài toán “Hộp đen” mà nội dung thể hiện bằng một lời thách đố,nghe có vẻ gần gũi, mà giàu chất kích thích Tư duy, rằng: “ Với cấutrúc bất kỳ của Hộp đen, nếu cho tôi biết Tín hiệu vào – ( Input) vàTín hiệu ra – (Output), tôi sẽ nói cho anh biết, cấu trúc Hộp đen đó làcái gì. Ví dụ: Tín hiệu vào là x, tín hiệu ra kx, (k>1) thì Hộp đenđó là một máy Khuyếch đại tín hiệu. x và kx là những hàm bất kỳ, hoặctín hiệu vào là X = Asin ωt và tín hiệu ra là Y = Asin( nωt + φ ),n>0, thì Hộp đen có cấu trúc của một máy biến tần, v. .v. .

Cụ thể trong trường hợp của chúng ta, Proton, với tư cách một Nucléon, là Hộp đen có chức năng xử lý và chuyển hóa Thông tin, mà Tín hiệu vào là các quark, Tín hiệu ra là các hạt électron, neutronneutrino .Vậy, đây chính là cấu hình một sơ đồ Thông tin ở cấp độ cơ bản .

Ngày càng nhiều nhà Vật lý cho rằng, Vũ trụ, không phải là cái gìkhác, ngoài một Ma trận thông tin rộng lớn, kết nối với nhau theo nhữngqui luật mà con người chưa hiểu được .

Một trong những nhà nghiên cứu từng nêu lên giả thuyết đó, một cáchnhiệt thành nhất, là nhà Vật lý lý thuyết nổi tiếng Edward Fredkin.Trong tư duy của ông, Vũ trụ hoạt động như thể một mạng không gian tinhthể, mà mỗi mắc của mạng là một bộ ngắt, kiểu Rơ-le đơn. Phần nào giốngvới một đơn vị Lôgic của một máy tính khổng lồ. Nó lý giải tại sao,trong Vũ trụ ấy, các hạt dưới nguyên tử và các vật thể do chúng tạo ra,theo một sự kết hợp chặt chẽ đúng như “Sơ đồ Thông tin “ thường xuyênvận động, kiểu “Hộp đen” .

Nếu không phải một Ma trận Thông tin kết nối với nhau chiếm đầy Vũtrụ, thì thử hỏi Ngành Vật lý Thiên văn có phát triển được không. Vũtrụ, trong phạm vi quan sát được, có hàng trăm tỷ Thiên hà. Mỗi Thiênhà có hàng trăm tỷ ngôi sao và hàng trăm tỷ thiên thể khác. Chúng cáchxa chúng ta hàng tỷ năm ánh sáng . Bằng cách nào mà các nhà Thiên vănbiết được vị trí, Vận tốc tâm, Vận tốc quay của chúng .Lại còn xác địnhcả Nhiệt độ bề mặt, Nhiệt độ ở tâm, Thành phần hóa học, Kích thước, Mậtđộ khối v. .v.. của chúng, y như đo đạc trong Phòng thí nghiệm vậy. Cáigì đã khai báo “lý lịch” các ngôi sao tỷ mỷ đến thế cho các nhà Thiênvăn, nếu không phải là Sóng Thông tin tràn ngập Vũ trụ. Kể cả nhứngsóng vẫn còn tiếp tục truyền đi từ 15 tỷ năm trước, mà các nhà Thiênvăn gọi là Bức xạ nền ?

II. Trong cõi nhân sinh

1. Mơ hồ khái niệm Thông tin?

Các khuynh hướng bảo thủ cho rằng: Thật khó khăn, khi phải hạ thấpgiá trị nhận thức truyền thống về các khái niệm Vật chất và năng lượng, để đề cao khái niệm Thông tin, mà trong thế giới “trần tục” chẳng ainhìn thấy nó đâu cả. Về mặt thực tế, điều đó có nghĩa là từ bỏ cái Vậtchất vật lý, là cái làm nền tảng cho sự tồn tại của chúng ta, để thaythế vào đó bằng một Phần mềm về ý nghĩa. Mặt khác, những yếu tố nhậnthức do Khoa học truyền thống đạt tới, mà mỗi người chúng ta hấp thụbằng một tiến trình đầy khó khăn trong cuộc đời, đâu dễ dàng gì thaythế bởi cái nền tảng mới mẻ này.

Thật ra vấn đề đâu phải nghiêm trọng như thế. Lịch sử Khoa học, vớicác cuộc cách mạng diễn ra, đâu phải nhằm phủ định những thành tựutrước đó, mà là một sự kế tục, trên con đường hoàn thiện nhận thức chânlý .

Chẳng hạn, Cơ học Newton đâu phải vứt bỏ để thay thế bởi cơ họcEinstein. Đó chỉ là sự kế tục, phát triển nhận thức Thế giới ở mức độsâu sắc hơn, đem lại cho nền văn minh nhân loại một chất lượng tri thứccao hơn, tinh tế hơn. Nghĩa là nó chỉ đòi hỏi chúng ta nâng tầm tư duylên một mức trừu tượng bay bổng hơn, để trí tuệ của chúng ta có chấtlượng phong phú hơn, tiến sát tới chân lý hiện thực hơn mà thôi. Hoàntoàn không phải vì thế mà làm đảo lộn hình thái vận động của Thế giớihiện thực : Dáng vẻ hiện thực nó vẫn thế và sẽ vẫn thế cùng với cuộcđời của mỗi chúng ta .

Nếu trong Khoa học Vật lý, người ta chứng tỏ bằng thực nghiệm, rằnggiữa các hạt có tồn tại một dạng tương tác, giống như giữa chúng có mộtsự trao đổi với nhau, một cái gì đó, như tín hiệu Thông tin, giúp chúngđịnh hướng ứng xử của mình từ chính hệ thống Trường Lượng tử , thìtrong cuộc sống của chúng ta, không thiếu những trải nghiệm kiểu ấy.Chẳng hạn: Người nào mang trên mình một thương tổn cơ thể, đã trở thànhmãn tính, bỗng một ngày nào đó, chỗ thương tổn tấy lên những cơn đau âmỉ, có lúc dữ dội. Theo kinh nghiệm, người đó đoán biết chắc chắn có mộtáp thấp nhiệt đới mạnh, sẽ thành bão, đang xuất hiện ở biển Đông, Hoặcmột đợt gió mùa mạnh ở phương Bắc sẽ tràn đến. Và đúng như thế: Cơ quanKhí tượng phát tin bão xa sau đó chỉ vài hôm. Những tình huống như thếkhá phổ biến trong cộng đồng, nhất là ở những người có tuổi. Rồi nhữngvụ phun trào từ trên Mặt trời, lại có thể làm tăng đột biến số bệnhnhân tim mạch, cấp cứu tại các Trung tâm Y tế. Khoa học gọi đó là ảnhhưởng của những trận Bão từ. Cũng chẳng phải xa vời từ Vũ trụ, ngay bầusinh quyển ôm ấp cuộc sống chúng ta, mà tạo hóa đã ban cho, nếu phảitiếp nhận những nguồn Thông tin làm biến đổi nó, thì thảm họa chết chócsẽ xảy ra ngay. Sự xuất hiện những tên gọi là “Làng ung thư” trong thờiđại văn minh công nghiệp, cái tên mà trong lịch sử nền văn minh lúanước, chúng ta chưa từng nghe thấy, là một bằng chứng .

Chúng ta hân hoan đón mừng cuộc cách mạng bùng nổ thông tin với baotiện ích của nó, nhưng đồng thời chúng ta cũng phải mang nặng một nối“Lo thế hệ”, về sự tha hóa nhân cách trong con em của chúng ta, do tiếpnhận một lượng lớn và thường xuyên, những độc hại trên mạng Thông tin,mà sự non nớt của chúng chưa đủ trải nghiệm để xử lý những làn sóngThông tin ấy .

Không còn nghi ngờ gì nữa, rằng cái Siêu hình, cái không nắm bắt,không cân đo được ấy, lại có một năng lượng tiềm ẩn dẫn dắt Thế giớihiện thực mạnh đến thế. Nhưng, những hiện tượng ấy, so với qui mô Vũtrụ, chúng có vẻ rời rạc ngẫu nhiên, cá biệt, và chúng cũng đã đượcđịnh vị, đã được định danh: Chẳng hạn, cứ gọi chúng là Ô nhiễm môisinh, là Bão từ, là Thời tiết, là SEX thì cũng có thiếu tính Khoa họcmấy đâu, mà phải trừu tượng hóa trong một khái niệm Thông tin có vẻ mơhồ, khiến tư duy phải nhọc nhằn như thế ?

Đúng là vậy, nhưng không phải vậy! Không thể lấy cái rời rạc để nhậnthức cái rời rạc , cũng như không thể lấy cái ngẫu nhiên để nhận thứccái ngẫu nhiên và lấy cái cá biệt để nhận thức cái cá biệt, mà phải tưduy chúng như một Hệ thống thống nhất trong phép biện chứng của Tựnhiên. Chỉ có như vậy thì, cái được khái quát hóa bằng trừu tượng – gọilà Thông tin – ấy, mới có thể cho phép chúng ta lý giải và nhận thứcnhững gì, gọi là dị thường, ẩn hiện rời rạc, ngẫu nhiên, cá biệt trongThế giới các hiện tượng, mà với những khái niệm truyền thống không thểlý giải được.

2. Tinh thần trong vật chất

Chúng ta đã từng biết có hai quan điểm phản bác nhau, của các nhàVật lý, về sự tồn tại những “Vũ trụ song hành” được đề xuất, để giảithích một loạt nghịch lý của Vật lý Lượng tử .

Vì sao phải tồn tại những Vũ trụ khác nhau, bởi vì những định luậtVật lý trong những Vũ trụ ấy khác nhau. Nghĩa là, chúng không thể xâmnhập vào nhau, do đó, chúng không thể được kiểm chứng khách quan từ mộtVũ trụ khác .

Điều này không chút liên quan nào đến quá trình nhận thức về hai Thếgiới thống nhất trong một hiện thực được lý giải tại các phần trên.Thật vậy, chẳng phải Con người chúng ta, từ nguyên lý “Cái bộ phận phản ảnh cái Toàn bộ”mà được xem như một Vũ trụ thu nhỏ đó sao, trong đó, Thể xác là Thếgiới Vật chất, vận hành cực kỳ tinh vi, hàm chứa vô hạn những bí ẩn mànhiều chuyên ngành khoa học, với bao công sức, vẫn chưa thể khám pháhết được. Thế giới thứ hai là một thế giới phi Vật chất, hay gọi là Thếgiới Siêu hình. Đó là thế giới của ý thức, của Tinh thần, của một đờisống Tâm linh cực kỳ phong phú và bí ẩn. Hai Thế giới ấy phụ thuộc lẫnnhau, bổ sung cho nhau và thống nhất trong Tỏng thể một Con người hiệnthực .

Còn đối với Vật chất vật lý, thì chứng tỏ “Tinh thần trong Vật chất”cơ bản là ở chỗ nào ? Câu trả lời cơ bản, xuất phát từ một nguyên lýchủ yếu của Lý thuyết Lượng tử, nói rằng: “Bản thân động tác quan sát,nói cách khác lá ý thức của Người quan sát, can dự sâu vào việc xácđịnh sự tồn tại của Vật được quan sát. Tức là Người quan sát và Vậtđược quan sát hợp thành cùng một hệ thống duy nhất. Nghĩa là, hiện thựcđược quan sát gắn liền với thị trường của người quan sát: Một hạt Vậtchất, électron chẳng hạn, nếu không quan sát, chúng tồn tại như mộtđoàn xác suất Sóng, nhưng khi đặt nó trước một dụng cụ đo và quan sát,thì nó lập tức hiện nguyên hình là một hạt. Nhà Vật lý người Mỹ RichardFeynman nói rằng, “Hiện tượng này không thể giải thích theo lối cổ điển được nhưng nó chiếm vị trí trung tâm của Cơ học Lượng tử”.

Có lẽ đây là ví dụ tốt nhất về sự thâm nhập giữa Vật chất và Tinhthần. Nó cũng mang một ý nghĩa Triết học sâu sắc chưa từng có trước đây.

III. Thay lời kết

1. Hầu hết những nhà Vật lý lớn, quan tâm đến Triết học, trực tiếphoặc gián tiếp xây dựng nên Cơ học Lượng tử, đều khẳng định rằng, Rấtnhiều sự kiện Vật lý trong thế kỷ XX chứng tỏ rằng, ranh giới giữa Vậtchất, ý thức tinh thần, trong cái gọi là chủ thể và khách thể, là giảtạo. Ranh giới ấy không hề tồn tại. Đặc biệt nhà Vật lý lý thuyết Louisde Broglie còn tuyên bố, Vật lý và Siêu hình, Sự kiện và ý tưởng, Vậtchất và ý thức chỉ là một mà thôi. Cả cái này lẫn cái kia đều là nhữngyếu tố thông qua nhau, bổ sung nhau của cùng một hiện thực duy nhất .Vàđiều đó cũng chứng tỏ rằng, Vật chất và Tinh thần cùng được xếp nằmtrong một Phổ trật tự chung: “Đi từ trật tự cơ học đến trật tự Tâm linh”,giống như phổ tần số của cùng một sóng điện từ: Từ sóng dài cỡ kilômetcho đến tia gama cỡ nanomet. Nếu Tinh thần và Vật chất có cùng nguồngốc từ một phổ chung, thì đúng là không tồn tại ranh giới nào gọi làChủ thể – Khách thể cả. Chẳng qua là, ở cực này, người ta quá chú trọngtới những mặt cơ học của Vật chất và, ở cực kia, cũng quá chú trọng đếnnhững mặt không xúc giác được của Tinh thần mà thôi.

2. Siêu hình học là một Khoa học mang tính khám phá, dựa trên sựnghi ngờ, mà đối tượng là Thế giới phi vật chất (Thế giới Siêu hình),trong đó, vai trò dẫn dắt, chi phối Thế giới hiện thực của nó, là khôngthể bác bỏ. Vì vậy Siêu hình học không thuộc bất cứ phạm trù nào củaTriết học Duy tâm .

3. Tình hình Triết học không theo kịp bước phát triển mang tính cáchmạng của Khoa học Tự nhiên, đặc biệt là của Vật lý học, diễn ra trongThế kỷ XX, cho đến tận hôm nay, là một thực tế. Điều này gây trở ngạikhông nhỏ đến Thế giới quan tiến bộ của toàn xã hội. Đặc biệt trongđịnh hướng nhận thức mọi mặt đời sống của Thời đại .

Vấn đề cơ bản của Triết học là vấn đề Vật chất và ý thức (cũng tứclà Vật chất và Tinh thần). Ta hãy xem Chủ nghĩa Duy tâm nói gì: “CáiHiện thực là không thể nắm bắt được. Việc nó có tồn tại như hiện thựcđộc lập hay không ? Cũng không thể khẳng định được. Chi có những trigiác hiện có của chúng ta là tồn tại mà thôi”. Trong khi đó, Chủ nghiaDuy vật thì khẳng định rằng, “Thế giới có một tính hiện thực kháchquan, độc lập với người quan sát, và chúng ta tri giác nó như nó vốncó”.

Có thể nói, cả hai quan điểm trên đều không phù hợp với mô hình Thếgiới mà Vật lý hiện đại mô tả. Sự tụt hậu của Triết học cũng làm chobản thân các nhà Vật lý ưu tú nhất thế kỷ XX lúng túng. Einstein tìmthấy ở Triết học phương Đông, mà tiêu biểu là Phật giáo, những tư tưởngsâu sắc phù hợp với Vật lý hiện đại hơn. Trước đó, từ năm 1927, sau khiliên tục công bố những thành tựu đỉnh cao của Cơ học Lượng tử, nhà Vậtlý Eddington nhận định rằng, “Kết luận cần rút ra đối với một nhà Khoahọc biết xét đoán là: Tôn giáo là có thể chấp nhận được” .

Phải chăng là không có ý nghĩa gì khi những đảo lộn nhận thức luậnấy chỉ do chính các nhà Khoa học gây nên? Vậy thì chính bản thân cácnhà Triết học phải tự hỏi về ý nghĩa sâu xa của những đảo lộn ấy, rằngKhoa học tìm cách đem lại cho chúng ta cái gì? Nó đưa ra những giá trịmới nào và nó góp phần tạo dựng một Thế giới quan mới ở chỗ nào ?

4. Do Triết học gắn liền với hệ tư tưởng, mà “hệ” chỉ tồn tại cùngvới tập hợp cộng đồng, mà cộng đồng thì đi liền với thể chế… Đó là mộtchuỗi quan hệ làm hình thành cái gọi là “Tế nhị”, là “Nhạy cảm” trongphát ngôn Triết học .

Trong nhãn quan duy vật cơ giới, Vật chất là bất biến, là vĩnh cửu,là cái có trước, là cái quyết định ý thức v. .v.. dẫn tới xu hướng đềcao, tôn vinh đời sống Vật chất với bao hệ lụy của nó, thì làm mộtngười “Quân tử nói lại” như Giáo sư Hồ Ngọc Đại, rằng Tinh thần quantrọng hơn Vật chất ,thì quả là một sự dũng cảm để vươn tới cái sángtạo. Và cũng thật đáng để các “Quân tử nhất ngôn” suy ngẫm, cho dù vẫnbiết rằng, cái “ngôn” mà buộc phải “nhất” ấy, nó có giá trị an toànnhiều hơn là giá trị Khoa học .

Hà Yên

Hà Nội, hè 2009