Xem thêm

Phật giáo Việt Nam: Từ quá khứ đến hiện tại

Phap Ngo Thich
Chặng đường 40 năm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được xem như một giai đoạn ngắn so với lịch sử Phật giáo có mặt ở Việt Nam trong suốt 2000 năm. Nhưng trong...

Phật giáo có mặt ở Việt Nam chính xác vào thời gian nào, còn là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy vậy, từ khi gặp được người Việt, Phật giáo đã hòa quyện và gắn bó, thăng trầm cùng lịch sử dân tộc.

Chặng đường 40 năm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được xem như một giai đoạn ngắn so với lịch sử Phật giáo có mặt ở Việt Nam trong suốt 2000 năm. Nhưng trong thời gian 40 năm qua, Giáo hội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và tạo ra những dấu mốc mới trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sự thành lập Giáo hội đã khẳng định vai trò quan trọng của Phật giáo trong việc gắn bó và đồng hành với dân tộc. Đường hướng "Đạo Pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội" đã được chọn làm căn cứ để thực hiện những giá trị tốt đẹp trong Phật giáo trong thời đại hiện nay, theo phương châm đã được truyền từ ngàn xưa "dựng đạo để tạo đời". Sự đóng góp của Giáo hội đã có nhiều vết xướng tích cực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Phật giáo Việt Nam trong lịch sử

Phật giáo đã có mặt ở Việt Nam từ thời gian nào, là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy vậy, từ khi gặp được người Việt, Phật giáo đã hòa quyện và gắn bó, thăng trầm cùng lịch sử dân tộc.

Thời Hai Bà Trưng (40-43)

Phật giáo đã đóng vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào lịch sử giữ nước, giành độc lập dân tộc. Lịch sử dân tộc Việt ghi lại rằng, vào năm 40-43 sau Công nguyên, nhà Đông Hán (Trung Quốc) xâm lược và đô hộ Giao Chỉ (Việt Nam). Hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống ách cai trị của giặc phương Bắc. Trong tám vị nữ tướng dưới trướng Hai Bà, có năm vị là Ni sư. Ngày nay ở đền thờ Hai Bà Trưng tại Mê Linh còn lưu danh tám vị nữ tướng. Ni sư Phương Dung, một trong năm vị Ni là nữ tướng của Hai Bà hiện được thờ ở chùa Yên Phú, Thanh Trì, Hà Nội [^1^].

Thời Tiền Lý (544-602)

Lý Bôn (503-548) đã lãnh đạo khởi nghĩa đánh bại giặc Lương từ phương Bắc, lập nước Vạn Xuân (544-602). Lý Bôn tự xưng Hoàng đế, tức vua Lý Nam Đế và tuyên bố quốc hiệu Vạn Xuân, cho dân xây chùa thờ Phật đặt tên là chùa Khai Quốc (mở nước). Sau nhiều lần trùng tu, đổi tên, hiện chùa mang tên Trấn Quốc, là di tích lịch sử đặc biệt ở Hà Nội. Lập quốc, dựng chùa đặt tên là chùa Khai Quốc, đủ thấy Phật giáo có ảnh hưởng lớn tới mức nào trong đời sống người Việt giai đoạn đó [^2^].

Phật giáo có mặt ở Việt Nam chính xác vào thời gian nào, còn là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy vậy, từ khi gặp được người Việt, Phật giáo đã hòa quyện và gắn bó, thăng trầm cùng lịch sử dân tộc. Chặng đường 40 năm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được xem như một giai đoạn ngắn so với lịch sử Phật giáo có mặt ở Việt Nam trong suốt 2000 năm. Nhưng trong thời gian 40 năm qua, Giáo hội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và tạo ra những dấu mốc mới trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sự thành lập Giáo hội đã khẳng định vai trò quan trọng của Phật giáo trong việc gắn bó và đồng hành với dân tộc. Đường hướng "Đạo Pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội" đã được chọn làm căn cứ để thực hiện những giá trị tốt đẹp trong Phật giáo trong thời đại hiện nay, theo phương châm đã được truyền từ ngàn xưa "dựng đạo để tạo đời". Sự đóng góp của Giáo hội đã có nhiều vết xướng tích cực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Phật giáo Việt Nam trong lịch sử

Phật giáo có mặt ở Việt Nam từ khi nào là vấn đề gây tranh cãi và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Tuy vậy, từ khi gặp được người Việt, Phật giáo đã hòa quyện và gắn bó, thăng trầm cùng lịch sử dân tộc.

Thời Hai Bà Trưng (40-43)

Phật giáo đã đóng vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào lịch sử giữ nước, giành độc lập dân tộc. Lịch sử dân tộc Việt ghi lại rằng, vào năm 40-43 sau Công nguyên, nhà Đông Hán (Trung Quốc) xâm lược và đô hộ Giao Chỉ (Việt Nam). Hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống ách cai trị của giặc phương Bắc. Trong tám vị nữ tướng dưới trướng Hai Bà, có năm vị là Ni sư. Ngày nay ở đền thờ Hai Bà Trưng tại Mê Linh còn lưu danh tám vị nữ tướng. Ni sư Phương Dung, một trong năm vị Ni là nữ tướng của Hai Bà hiện được thờ ở chùa Yên Phú, Thanh Trì, Hà Nội [^1^].

Thời Tiền Lý (544-602)

Lý Bôn (503-548) đã lãnh đạo khởi nghĩa đánh bại giặc Lương từ phương Bắc, lập nước Vạn Xuân (544-602). Lý Bôn tự xưng Hoàng đế, tức vua Lý Nam Đế và tuyên bố quốc hiệu Vạn Xuân, cho dân xây chùa thờ Phật đặt tên là chùa Khai Quốc (mở nước). Sau nhiều lần trùng tu, đổi tên, hiện chùa mang tên Trấn Quốc, là di tích lịch sử đặc biệt ở Hà Nội. Lập quốc, dựng chùa đặt tên là chùa Khai Quốc, đủ thấy Phật giáo có ảnh hưởng lớn tới mức nào trong đời sống người Việt giai đoạn đó [^2^].

Phật giáo có mặt ở Việt Nam chính xác vào thời gian nào, còn là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy vậy, từ khi gặp được người Việt, Phật giáo đã hòa quyện và gắn bó, thăng trầm cùng lịch sử dân tộc.

Thời Đinh - Tiền Lê (968-1009)

Đinh Bộ Lĩnh (924 -979), xưng đế và lập nên nhà Đinh (968-980), đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, mở đầu cho thời đại độc lập, tự chủ tập quyền ở nước ta. Đinh Tiên Hoàng đã mời nhà sư Ngô Chân Lưu (933-1011) ra giúp vua, giúp nước, tôn sư làm Khuông Việt Đại sư. Vua còn mời nhiều bậc cao Tăng Phật giáo đứng ra giúp vua từ nội trị đến ngoại giao,… Đó là sự khẳng định vai trò quan trọng của Phật giáo trong đời sống xã hội lúc bấy giờ. Nhà Đinh vắn số, nhà Tiền Lê thay thế (980-1009). Vua Lê Đại Hành (941-1005) tiếp tục truyền thống tôn trọng Phật giáo, các nhà sư được vua tin tưởng ủy thác nhiều trọng trách. Điều này cho thấy các nhà sư thời bấy giờ không chỉ thông kinh sử mà văn chương nghệ thuật cũng rất giỏi, thể hiện văn hóa Phật giáo thời bấy giờ rất phong phú. Các nhà sư đã khéo vận dụng đưa vào phục vụ sự nghiệp chính trị, ngoại giao của đất nước [^3^].

Nhà Lý (1010-1225)

Khởi nghiệp từ Lý Công Uẩn (974-1028). Trong những năm đầu ra Thăng Long, vua không cho xây tông miếu mà cho dân xây mới 8 ngôi chùa trong kinh thành và ven đô, lại sức cho quan nha đôn đốc dân tu sửa các ngôi chùa để thờ Phật “lấy triết lý Phật giáo mà cố kết nhân tâm, vun bồi trí đức để dân cường nước thịnh”. Dưới triều Lý, Phật giáo phát triển rực rỡ cùng với sự hưng thịnh của đời sống xã hội. Người hiền, tài được trọng dụng, văn có Văn Miếu - Quốc Tử Giám, võ có Giảng Võ đường để đào tạo và tuyển lựa nhân tài thực học phục vụ quốc gia [^1^].

Nhà Trần (1225-1400)

Tiếp nối truyền

1