Một vài cảm nghĩ về ngày Phật Ðản

0
100

Kỷ niệm ngày Ðản Sinh của đức Phật, đối với nhơn loại ngày nay không ai còn xa lạ nữa. Ðó là ngày trọng đại thiêng liêng đánh dấu một bậc vĩ nhân xuất thế mang lại niềm an vui hạnh phúc đến cho muôn loài. Hôm nay, chúng ta thiết lễ kỷ niệm mừng Ngài có mặt đến với cõi đời nầy, không phải chỉ có tôn xưng tán tụng, hay bày biện mọi thứ hình thức lễ nghi không thôi là đủ, mà thiết nghĩ, chúng ta cần phải quán chiếu sâu vào đời sống cao thượng siêu thoát của Ngài. Vì đời Ngài, nhứt cử nhứt động đều là tấm gương trong sáng để chúng ta noi theo.

Trong lúc còn là một Thái tử, sống trong nhung lụa quyền uy vương giả, kẻ hầu người hạ, tiền hô hậu ủng, vợ đẹp con xinh, mọi thú vui trên đời, thứ gì Ngài cũng đều có đủ. Nhưng không vì thế, mà Ngài lại say mê đắm nhiễm. Ngài cho những thú vui đó chỉ là những thứ hào nhoáng trá hình giả dối. Thú vui chỉ mở đường cho đau khổ, thực chất là tràn đầy hệ lụy đau thương mà thôi. Bên cạnh đó, Ngài còn chứng kiến, những nỗi thống khổ của con người qua bốn trạng thái sanh, già, bệnh, chết, càng làm nung nấu tâm nguyện xuất trần mạnh mẽ của Ngài. Chỉ một lần chứng kiến tận mắt, Ngài đã cảm thấy xót xa cho thân phận của kiếp nhơn sinh. Ngài nhứt quyết phải tìm ra một con đường giải thoát mọi ràng buộc khổ đau cho con người và muôn loài. Ðó là con đường giải quyết một lần tận gốc rễ của sanh tử khổ đau.

Từ sự ý thức trong sáng đầy tình thương mãnh liệt đó, Ngài đã cương quyết phải từ bỏ đời sống xa hoa vương vị, quyết chí rời khỏi hoàng cung sống đời sống của một vị Sa môn.

Trải qua quá trình phấn đấu gian khổ trong việc tu học, và đại phá ma quân, cuối cùng, Ngài đã chiến thắng và đạt thành sở nguyện, tức thành Phật gọi là đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Sau ngày thành đạo cho đến khi nhập diệt, trải qua thời gian 49 năm, Ngài đã không ngừng giáo hóa độ sinh. Kết quả, Ngài đã để lại cho nhơn loại một kho tàng kinh điển đồ sộ, do chư Tổ Sư kết tập lại thành Tam tạng giáo điển. Có thể nói, trên thế gian nầy, chưa có một vị giáo chủ nào mà cống hiến cho nhơn loại cả một kho tàng kinh điển quy mô lớn lao như thế. Ðó là một diễm phúc thật lớn lao hy hữu cho tất cả chúng ta. Cả đời thuyết giáo của Ngài, tuy có phân chia thành nhiều hệ thống tư tưởng sâu cạn khác nhau, nhưng tựu trung không ngoài hai chữ “giải thoát”. Vì đó là trọng tâm của Ngài hướng đến. Dù chúng ta tu bất cứ pháp môn nào, mục tiêu tối hậu cũng nhằm hướng đến giải thoát khỏi vòng trầm luân sanh tử.

Ngày nay, chúng ta biết được đường lối tu hành, thoát khỏi mọi ràng buộc khổ đau, cũng chính do đức Phật đã chỉ bày vạch sẵn. Quả ân đức của Ngài thật lớn lao không sao nói hết. Muốn tri ân tưởng niệm đời Ngài cho có ý nghĩa thiết thực, thiết nghĩ, mỗi người Phật tử chúng ta nên tự quán chiếu lại mình. Có quán chiếu sâu vào nội tại, ta mới nhận diện được lẽ chánh tà, chân vọng. Nói rõ hơn là ta mới thấy được những thứ giả dối trong ta. Ðiều mà lâu nay, ta cứ bảo thủ chấp chặt cho tất cả là thật. Từ thân tâm cho đến mọi cảnh vật chung quanh, cái gì đối với chúng ta cũng là thật hết. Nhưng khi quán chiếu nhìn sâu suy nghiệm thật kỹ, ta mới nhận ra rằng, mọi thứ chỉ là ảo ảnh giả dối tạm bợ, như bóng trong gương hay bóng trăng dưới nước. Mọi vật chỉ là do nhân duyên giả hợp tạo thành. Quả đúng như lời Phật dạy trong Kinh Viên Giác: “ Chúng sanh vọng nhận tứ đại làm tướng tự thân, duyên ảnh sáu trần làm tướng tự tâm”. Thấu đạt được lý duyên sinh, ta mới nhận ra được giáo lý vô ngã Phật dạy. Khổ, không, vô thường, vô ngã, đó là những giáo lý căn bản thuộc Tứ pháp ấn mà ta cần phải học hỏi và thực nghiệm.

Thấu hiểu được lý vô ngã, tất nhiên là ta không còn những định kiến chấp trước sai lầm ở nơi vạn pháp. Từ đó, ta mới có được cái nhìn rộng mở, sâu sắc, phá tan những thành kiến bảo thủ, kính màu kỳ thị, tranh chấp hận thù, và ta sẽ có một đời sống bao dung tha thứ thắm đượm tình người trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Từ đó, ta mới có tình thương bao la chan hòa rộng khắp. Ðó là con đường chấm dứt gây ra những nỗi khổ đau cho mình và người. Ðược vậy, ta mới thật sự nhận được thông điệp: “Từ bi, vị tha và bình đẳng” từ nơi đức Phật truyền đạt. Và có như thế, ta mới thấy được tình huynh đệ cao quý thiêng liêng hơn. Ðó là bức thông điệp sống chung hòa bình, tứ hải giai huynh đệ, mà đức Phật đã khai thông gởi đến cho nhơn loại.

Hôm nay, chúng ta đang kính cẩn nghiêm trang cung đón mừng ngày Ðản Sinh của đức Phật, chúng ta hãy cùng nhau thành tâm cầu nguyện cho chính mình và cho mọi người hãy biết thương yêu nhau, đừng bao giờ gây thêm rắc rối làm khổ đau cho nhau. Thế giới ngày nay vốn đã có quá nhiều đau khổ hổn loạn, xin mọi người đừng tiếp tục gây thêm sự bất an hổn loạn nữa. Những vấn đề rối loạn họa hoạn cụ thể hiện đã và đang xảy ra như nạn: khủng hoảng kinh tế suy thoái toàn cầu, chiến tranh vẫn còn ầm ĩ khắp nơi, khí hậu ngày càng nóng bức, môi sinh ngày càng bị ô nhiễm, thiên tai gây tổn hại thật nặng nề khắp nơi, cấu trúc xã hội bị phá vỡ trầm trọng, tội phạm ngày càng gia tăng, gia đình đổ vỡ tan nát mất hạnh phúc vân vân và vân vân. Tất cả những ách nạn đó phải chăng, phần lớn cũng đều do con người gây ra và rồi con người phải hứng chịu lãnh lấy những hậu quả tang thương bi đát đầy khổ lụy.

Phật Ðản là dịp để chúng ta hãy tương kính nắm lấy tay nhau, xóa bỏ mọi hận thù tranh chấp, khủng bố, mọi vị kỷ thấp hèn, mọi đam mê đắm nhiễm… Chúng ta phải có lòng tri ân đối với tất cả muôn loài. Vì sự sống của chúng ta có liên quan mật thiết với tất cả vạn vật. Từ miếng ăn, thức uống cho đến đất đai, sông núi, rừng cây, hoa lá, biển cả, sinh vật, khí hậu, môi sinh v.v… tất cả đều là những vật loại có ân trực tiếp hoặc gián tiếp đối với chúng ta.

Tâm niệm rằng, ta là kẻ thọ ân sâu đối với vạn loại, trong đó, dĩ nhiên, có thâm ân tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thầy tổ, của chúng ta thật quá sâu nặng. Làm sao ta có thể tách biệt những tế bào, dòng máu của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, ra khỏi da thịt huyết quản của ta? Như thế, thì tại sao ta lại phản bội những thứ đem lại cho ta sự sống? Nghĩ thế, thì ta mới có thể trải rộng tấm lòng thương yêu vị tha bao dung rộng lớn. Là Phật tử, Phật dạy, mỗi người cần nên trang bị cho mình có đủ Tam đức. Tam đức gồm có: “Trí đức, Ðoạn đức và Ân đức”. Trí đức là thứ trí tuệ sắc bén mà ta cần phải gia tâm học hỏi trau dồi. Có trí tuệ ta mới biện biệt được lẽ chánh tà chân ngụy. Cái gì đáng làm và không đáng làm. Nhờ có trí tuệ sáng suốt mà ta mới có thể chiếu soi phá tan vô minh phiền não. Chặt đứt mọi thứ giây mơ rễ má phiền não, tất nhiên, là ta phải nhờ đến cái búa bén trí tuệ. Ðó là đoạn đức. Một khi phiền não đã được đoạn trừ, thì bấy giờ ta mới có những hành động, lời nói và việc làm luôn làm lợi ích cho tha nhân. Làm với tâm hỷ xả không dính mắc vào sự vật. Luôn có tâm hồn bao dung tha thứ, dù ai đó gây ra cho ta đau khổ. Sự bao dung rộng lượng tha thứ, đó là ân đức. Như vậy, người Phật tử luôn áp dụng Ba Ðức nầy vào đời sống, tất nhiên, chắc chắn là ta sẽ có được an lạc và hạnh phúc tràn đầy. Có thế, thì ta mới bắt gặp được hình ảnh của đức Phật và chính đó ta mới thực sự đền ơn giáo huấn của Ngài.
Nguồn:quangminh.org