Mô hình gia đình hạnh phúc của sinh viên

0
134

Trong12 khía cạnh góp phần tạo dựng hạnh phúc gia đình được đưa ra thăm dò ýkiến sinh viên, các em đánh giá cao những khía cạnh điển hình, thuộcphương diện quan hệ của cuộc sống hạnh phúc lứa đôi. Năm khía cạnh đượccác em coi trọng theo thứ tự từ 1 đến 5 lần lượt tương ứng là: tình yêuthương và ý thức trách nhiệm; bình đẳng vợ – chồng, chung thuỷ; bầukhông khí gia đinh vui vẻ, hoà thuận và con cái ngoan ngoãn, kính trọngbố mẹ, có ý thức học tập. Như vậy, sinh viên vẫn đánh giá cao một sốkhía cạnh truyền thống như tình yêu thương, trách nhiệm của các thànhviên, sự chung thuỷ, không khí tâm lý gia đình và sự hài lòng của họvới con cái. Bên cạnh đó, sinh viên nhìn thấy một khía cạnh mới, có ýnghĩa với cuộc sống hạnh phúc đôi lứa là sự bình đẳng giữa hai người. Ởmột góc độ nào đó, sự nhìn nhận hay mong muốn này không hoàn toàn mới,mà cái mới ở đây là sinh viên dám nói ra điều đó. Đó là nhu cầu chínhđáng, cần được khích lệ trong thời đại ngày nay vì sự đối xử bình đẳnggiữa vợ chồng là sự hiện thực hoá tình yêu thương, tôn trọng lẫn nhau,sự hoà hợp của hai người.

 
Bảng 1. Ý kiến của sinh viên về các nhân tố xây dựng hạnh phúc gia đình
 

TT
 Các nhân tố đảm bảo HPGĐ
Điểm trung bình
Tỷ lệ % chung
Thứ bậc
(chung)
Nam
Nữ
1
Mọi thành viên phải yêu thương, có ý thức trách nhiệm với nhau
11,63
11,75
11,55
1
2
Biết tiếp nhận và điều hoà nhu cầu bản thân và mọi người trong gia đình
7,42
8,59
8,20
7
3
Mọi người trong gia đình phải có thiện chí giải quyết các mâu thuẫn trong gia đình
4,0
2,43
3,21
12
4
Bầu không khí tâm lý trong gia đình vui vẻ, hoà thuận
9,6
10,39
10,0
4
5
Vợ chống chung thuỷ
9,93
10,62
10,28
3
6
Vợ chống bình đẳng
10,96
10,73
10,84
2
7
Vơ chống tương đồng về quan điểm sống
8,24
7,64
7,85
8
8
Hoà hợp về tình dục
4,96
5,09
4,95
11
9
Con cái ngoan ngoãn, kính trọng bố mẹ, có ý thức học tập
8,42
9,0
8,8
5
10
Bố mẹ chăm sóc giáo dục con tốt
6,66
7,33
7,1
10
11
Kinh tế GĐ bảo đảm nhu cầu vật chất cần thiết
8,9
8,68
8,76
6
12
Các thành viên trong GĐ có sức khoẻ tốt
7,55
7,25
7,35
9
 
Mặcdầu, đang ở giai đoạn mơ mộng trong tình yêu, sinh viên đã quan tâm vàđánh giá cao yếu tố “thành quả” của quan hệ vợ chồng là chất lượng củanhững đứa con. Điều đó thể hiện rõ ở chỗ các em xếp yếu tố: “Con cáingoan ngoãn, kính trọng bố mẹ, có ý thức học tập” ở bậc thứ 5/12 cácyếu tố liên quan đến hạnh phúc gia đình, trước cả yếu tố kinh tế (đượcxếp thứ ).
 
Nhưvậy, mô hình hạnh phúc mà sinh viên mong muốn rất đẹp và trong sáng,trong đó có sự kết hợp cả yếu tố vật chất và tinh thần, ngoài các yếutố truyền thống, sinh viên hiện nay thể hiện rõ quan điểm của mình vềyếu tố bình đẳng vợ chồng. Bên cạnh đó, họ đã chú ý đến thành quả khôngthể thiếu của hôn nhân là những đứa con.
 
Tuynhiên, là lớp người trẻ tuổi, nhanh nhạy với sự thay đổi của thời cuộc;cùng với sự giao lưu, tiếp biến văn hoá, nhận thức của một bộ phận sinhviên còn chưa đầy đủ, thiếu chính xác, lệch lạc về lối sống làm ảnhhưởng đến tương lai, sự nghiệp, hạnh phúc sau này. Vì vậy, gia đình,nhà trường và các tổ chức xã hội cần chú ý hơn nữa đến công tác giáodục giới trẻ về hôn nhân và gia đình. Cụ thể là:
+Nên đưa những nội dung về giáo dục gia đình vào các chương trình chínhkhoá của các trường từ tiểu học đến cao đẳng, đại học, dạy nghề…
 
+Trong các trường, đặc biệt là các trường ĐH, CĐ và THCN, các tổ chứcĐoàn thanh niên, hội sinh viên và nhà trường nên kết hợp để tổ chức cáchoạt động như: nghe nói chuyện, hội thảo, tư vấn, thành lập các câu lạcbộ… với những nội dung phù hợp, hấp dẫn về tình yêu, hôn nhân và giađình.
 
                                                              Hoa Thị (tamly)