Mặc kệ TQ, Đức ĐLLM vẫn gửi thông điệp đến GBC (2)

0
94

Vì vậy, trong những năm gầnđây, tôi đã nhận ra điều đó thích hợp hơn để đối thoại về nhu cầu thúc đẩy cáimà tôi gọi là đạo đức thế tục. Tôi xem các giá trị này như là đạo đức thế tụcvì tin tưởng vào một tôn giáo khác […]. Nền tảng cơ bản của nhân loại là lòngtừ bi và tình yêu. Đây là lý do tại sao, mà nếu ngay cả một vài cá nhân chỉ đơngiản là cố gắng tạo ra bình an và hạnh phúc tinh thần trong chính họ và hànhđộng có trách nhiệm và có lòng đối với người khác, thì họ vẫn sẽ có một ảnhhưởng tích cực trong cộng đồng của họ. Tôi tin rằng Phật giáo có một vai tròđặc biệt để tham gia trong thế giới hiện đại của chúng ta. [Tôi nói] điều nàylà bởi vì, không giống như những truyền thống tôn giáo khác, chỉ có duy nhấtPhật giáo mới đề xuất khái niệm phụ thuộc lẫn nhau, phù hợp một cách sát saovới các khái niệm cơ bản của khoa học hiện đại. Chúng ta có thể tư duy về Phậtgiáo trong các thuật ngữ của ba lĩnh vực triết học, khoa học và tôn giáo. Phần tôn giáoliên quan đến các nguyên tắc và thực hành được quan tâm đến Phật tử […],nhưng triết học về sự phụ thuộc lẫn nhau của Phật giáo cũng như khoa học về tâmtrí và cảm xúc của Phật giáo là lợi ích lớn cho tất cả mọi người. Như chúng tabiết, khoa học hiện đại đã phát triển đến một sự hiểu biết rất tinh vi về thếgiới vật chất, kể cả các hoạt động tinh tế của cơ thể và não bộ. Mặt khác, khoahọc Phật giáo, đã tự cống hiến để phát triển một sự hiểu biết chi tiết, làngười đầu tiên hiểu biết về nhiều khía cạnh của tâm trí và cảm xúc, lĩnh vựcvẫn còn tương đối mới so với khoa học hiện đại. […]. Tôi tin rằng một tổnghợp của hai phương pháp tiếp cận  này có tiềm năng lớn để dẫn đến nhữngkhám phá mà sẽ làm phong phú thêm tình trạng hạnh phúc của cơ thể, tình cảm vàxã hội của chúng ta.
Mặc dù truyền thống thiền định
Phật giáo và khoa học hiện đại đã phát triển từcác nguồn gốc lịch sử, trí tuệ và văn hóa khác nhau, nhưng tôi tin rằng ở trongtrái tim, họ chia sẻ lợi ích chung đầy ý nghĩa, đặc biệt là trong quan điểmtriết học và phương pháp luận cơ bản. Ở cấp độ triết học, cả Phật giáo và khoa học hiện đạiđều chia sẻ quan điểm tương đồng về sự rỗng rang của tuyệt đối (the absence of absolutes), cho dù được mô tả như là một hữu thể siêu việt (transcendent being), một thực thể bất diệt bất biến (an eternal, unchangingentity), hoặc là một cơ sở căn bảncủa thực tại (a fundamental substratum of reality). Cả Phậtgiáo và khoa học đều thích miêu tả cho sự tiến hóa và sự xuất hiện của vũ trụvà cuộc sống trong các thuật ngữ về các mối tương quan phức tạp của luật nhân quảtrong tự nhiên. Từ góc độ phương pháp luận, cả hai truyền thống nhấn mạnh vaitrò của chủ nghĩa thực nghiệm.
Ví dụ, trong truyền thống nghiên cứu Phật giáo, trong số ba nguồn kiến
​​thức được công nhận – kinh nghiệm, lý trí và chứng ngộ- thì bằng chứng về những kinh nghiệm được ưu tiên, thứ hai là lý trí, cuối cùnglà chứng ngộ. […]. Ngay cả trong trường hợp của kiến ​​thức thu được thông qua lý trí hoặc suy luận, giá trịcủa nó cuối cùng phải xuất phát từ một số sự kiện kinh nghiệm được quan sát.
Cơ sở động lực chính của nghiên cứu Phật giáo về thực tại là sự truy cầu vượtqua đau khổ và hoàn thiện các điều kiện làm người, do đó, truyền thống nghiêncứu Phật giáo đã chủ yếu hướng đến sự hiểu biết tâm trí con người và các chứcnăng khác nhau của nó.
Mục đích của chúng ta trong việc tìm kiếm cách thayđổi suy nghĩ, cảm xúc và các khuynh hướng cơ bản của chúng ta để tìm cách sốnglành mạnh và trọn vẹn hơn. Vì vậy, một sự giao lưu chân thành giữa những kiến ​​thức và kinh nghiệm tích lũy của Phật giáo và khoa họchiện đại có thể được quan tâm sâu sắc và cũng có khả năng mang lại lợi ích tốt.
Theo kinh nghiệm của riêng tôi, tôi cảm thấy được làm phong phú bằng cách thamgia trong cuộc hội thoại với các nhà thần kinh học và tâm lý học về các vấn đềnhư bản chất và vai trò của cảm xúc tích cực và tiêu cực, sự chú ý, hình ảnh,cũng như tính tạo hình của não bộ. Tôi biết ơn các nhà khoa học nổi tiếng -những người mà tôi đã có đặc quyền tham gia vào các cuộc đối thoại tiếp tụcnhiều năm thông qua sự bảo trợ của Viện Tâm lý và Đời sống – khởi xướng các hộinghị thường niên bắt đầu vào năm 1987 tại nơi cư trú của tôi ở Dharamsala, ẤnĐộ.
Tất nhiên, hầu hết mọi người cảm thấy hình thức thực hành tôn giáo riêng của họlà tốt nhất. Bản thân tôi cảm thấy rằng Phật giáo là tốt nhất cho tôi. Nhưng điềunày không có nghĩa rằng Phật giáo là tốt nhất cho tất cả mọi người. Điều quantrọng là những gì phù hợp cho một người hoặc một nhóm người cụ thể. Tôn giáo,hầu hết chúng ta, phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình và nơi chúng tôi đã sinh ravà lớn lên. Tôi nghĩ rằng tốt hơn là không [ép hoặc dụ] cải đổi. Tuy nhiên,chúng ta càng hiểu phương pháp của nhau, chúng ta càng có thể học hỏi lẫn nhau.
Bằng sự tuyên bố tôn trọng tất cả các tín ngưỡng tôn giáo, tôi không chủ trươngcố gắng thống nhất các truyền thống khác nhau của chúng ta. Tôi tin chắc rằngchúng ta cần truyền thống tôn giáo khác nhau để đáp ứng nhu cầu và khuynh hướngtinh thần của nhiều loại con người khác nhau. Tất cả các truyền thống tôn giáolớn đều làm cho sự tiến bộ của nhân loại, mối quan tâm chính của họ và tất cảchúng đều mang theo một thông điệp như nhau. Khi chúng ta xem chúng như nhữngcông cụ cần thiết cho phát triển các phẩm chất tốt đẹp của con người như lòngtừ bi, tha thứ, khoan dung và tự kỷ luật, thì chúng ta có thể đánh giá caonhững gì họ có điểm chung.
Tôi tin rằng các trở ngại quan trọng nhất để hòa hợp liên tôn giáo là thiếuliên lạc giữa các cộng đồng đức tin khác nhau, và do đó, thiếu sự đánh giá caogiá trị lẫn nhau giữa họ.
Tuy nhiên, trong thế giới ngày càng phức tạp và phụthuộc lẫn nhau ngày nay, chúng ta phải thừa nhận sự tồn tại của nền văn hóakhác, các nhóm dân tộc khác nhau, và, tất nhiên, tín ngưỡng tôn giáo khác. Cho dùthích hay không, hầu hết chúng ta ngày nay đều kinh nghiệm tính đa dạng này mỗingày.
. Ngay cả trong các truyền thống Phật giáo khác nhaucũng đã diễn ra trong các thời điểm và không gian khác nhau, có những người chuyên tâm vào bộ kinh điển được bảo quản trong hệ tiếng Pali như là nguồncủa họ, còn những người khác tìm đến truyền thống tiếng Phạn. Tôi tin rằngthời gian đã đến để giao lưu tự do với nhau, những người trong truyền thốngPali tham gia đối thoại với những người trong truyền thống tiếng Phạn. Sau hết, tất cảcác nhánh khác nhau của chúng ta đều đến từ các thân cây và rễ chung và giốngnhau. Là một nhà sư Phật giáo Tây Tạng, thậm chí hôm nay tôi tự xem mình là mộtsinh viên của truyền thống Nalanda. Phật giáo đã được giảng dạy và nghiên cứutại Đại học Nalanda đại diện cho đỉnh cao của sự phát triển ở Ấn Độ. Nếu chúngta là Phật tử thế kỷ 21, thì điều quan trọng là chúng ta tham gia nghiên cứu vàphân tích những lời dạy của Đức Phật, rồi thực hành rất nhiều sau đó, thay vìchỉ dựa vào đức tin.
Do đó, nghiên cứu và thực hành lời dạy của Đức Phật là cần thiết để bảo tồn và thúcđẩy chúng. Tăng đoàn đã đóng một vai trò quan trọng trong thời của Đức Phật, vàtôi hạnh phúc với truyền thống đó vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Cho nên, đốivới các thành viên của cộng đồng tu viện, điều quan trọng để thực hiện lờinguyện của mình là duy trì sự thuần khiết của Phật Pháp. Trong quá khứ, do tínhchất của bối cảnh khác nhau mà Phật Pháp hưng thịnh trong các xã hội khác nhaucủa chúng ta, [tuy] không có nhiều cơ hội cho Phật tử đến với nhau và thảo luậnvề các vấn đề cùng quan tâm. Hội nghị này đã cung cấp một cơ hội rất cần thiếtrất quan trọng. Bây giờ và trong tương lai, chúng ta cần khuyến khích và thúcđẩy giao lưu kiến
​​thức và kinh nghiệm giữa các truyền thống khác nhaucủa chúng ta và cải thiện thông tin liên lạc giữa chúng ta. Tôi hy vọng đây sẽlà dịp đầu tiên của nhiều cơ hội như vậy mà sẽ cho phép chúng ta thúc đẩy sựhiểu biết tốt hơn và đóng góp hiệu quả hơn cho hạnh phúc và bình an của conngười trên toàn thế giới. Nhân dịp kỷ niệm 2600 năm sự thành đạo của Đức Phậttại Bồ-đề đạo tràng, tôi xin dâng lời chào của tôi đến Hội nghị Thượng đỉnh Phậtgiáo Toàn cầu.

Nhóm V.B dịch(BigNews)