Lý Thường Kiệt – nỗi kinh hoàng của quân Tống

0
151
 Lược đồ trận chiến tại phòng tuyến Như Nguyệt

Lý Thường Kiệt vốn thuộc họ Ngô, tên thật là Tuấn, tự là Thường Kiệt,sau được ban quốc tính (được mang họ nhà vua), nên gọi là Lý ThườngKiệt. Quê gốc của ông là làng An Xá, huyện Quảng Đức, kinh thành ThăngLong. Làng An Xá sau đổi tên là Phúc Xá (nay thuộc quận Ba Đình).

Từ nhỏ Lý Thường Kiệt đã tỏ ra người có chí hướng và nghị lực, chăm họctập, rèn luyện cả văn lẫn võ, từng nghiên cứu về binh pháp.

Gia đình ông nối đời làm quan, nhiều mưu lược, có tài làm tướng. Khi còn íttuổi, vì vẻ mặt tươi đẹp được sung làm Hoàng môn chi hậu, là thái giámtheo hầu Lý Thái Tông, thăng dần đến chức Nội thị sảnh đô tri. Lý ThánhTông phong chức Thái bảo, ban tiết việt để đi thăm hỏi lại dân ở ThanhHóa, Nghệ An. Tháng 2 năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông thân đi đánhChiêm Thành, ông làm tướng tiên phong, bắt được vua Chiêm là Chế Củ.

d
Tượng Lý Thường Kiệt ở Đại Nam Cổ Tự (tỉnh Bình Dương)

 

Sau khi chiến thắng, Lý Thường Kiệtđược ban các chức tước: Phụ quốc tháo phó và Phụ quốc Thượng tướngquân, Thượng trụ quốc, Khai quốc công. Ít lâu sau ông lại được thăngchức Thái úy, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự (là chức quan thứhai trong triều), đứng sau chức Thái sư lúc ấy là do Lý Đạo Thành đảmnhiệm.

Chiến dịch Ung Châu:  ra tay trước thay vì ngồi yên đợi giặc

Năm 1072, Lý Thánh Tông từ trần. Lý Nhân Tông lên nối ngôi khi mới có 7tuổi. Trong khi ấy, chính quyền phương Bắc vẫn luôn nhòm ngó. Chúng xemđây là một cơ hội tốt để tiến hành ráo riết việc chuẩn bị xâm lược nước ta. Tại ba châuUng, Khâm, Liêm (thuộc Quảng Đông , Quảng Tây ngày nay), chúng xây dựngnhững căn cứ quân sự và hậu cứ to lớn để làm nơi xuất phát trực tiếpcho các đạo quân xâm lược.

 
Lúc này, sau khi Lý Nhân Tông lênngôi, Lý Thường Kiệt được giữ chức Đôn quốc thái úy, Đại tướng quân,Đại tư đồ, tước hiệu Thượng phụ công. Với cương vị như Tể tướng, ôngnắm toàn quyền cả văn lẫn võ. Điều có cũng có nghĩa là phải gánh vácnặng nề và chịu trách nhiệm to lớn đối với giang sơn xã tắc. Ông nhậnlấy sứ mệnh thiêng liêng, trực tiếp tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược.

Đứng trước âm mưu và hành động rõ ràng công khai của địch, ông chorằng: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước, chặn thế mạnhcủa giặc”. Được triều đình tán thành, ông huy động 10 vạn quân tiếnhành một cuộc tập kích đánh thẳng vào các căn cứ chuẩn bị xâm lược củakẻ thù ngay trên đất Tống.

Với danh nghĩa chính đáng là chỉ đánh Tống để giữ nước là đưa quân tới là để cứu dân, Lý Thường Kiệt đã viết bài hịch Phạt Tống lộ bố văn (bài văn công bố đánh giặc Tống) và cho yết bảng ở khắp nơi mà quân đội ta đi qua.
Bài hịch truyền đi đã đạt hiệu quả lớn: quân đội của Lý Thường Kiệttiến đến đâu cũng đều được nhân dân Trung Hoa ở đó hoan nghênh, hưởngứng.

Quân Việt bắt đầu tiến công vào đất Tống từ ngày 27 tháng 10 năm 1075.Thoạt tiên, quân Việt phá hủy một loạt các đồn trại biên giới, rồi lầnlượt đổ bộ lên cảng và đánh chiếm các thành Khâm, Liêm. Sau đó đại quântiếp tục tiến sâu vào đất địch.

Ngày 18 tháng 1 năm 1076 áp sát thành Ung. Đây là căn cứ quan trọngnhất trong những căn cứ địch dùng cho cuộc viễn chinh xâm lược vào ĐạiViệt. Sau 42 ngày vây hãm và tấn công quyết liệt, ta hạ được thành,tiêu diệt và bắt sống nhiều tên địch.

Theo chủ trương đã định, quân ta được lệnh san bằng các thành lũy lớnnhỏ, tiêu huy các kho tàng lương thực, vũ khí, giáng đòn sấm sét làmtổn thất nghiêm trọng các cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh củađịch, làm nhụt nhuệ của bọn cầm quyền phương Bắc trong việc chuẩn bịchiến tranh xâm lược.

Sau khi đã đạt mục tiêu của cuộc đánh sang đất Tống, Lý Thường Kiệtquyết định rút nhanh quân về nước. Cuộc rút quân rất đúng lúc, vừa bảotoàn được lực lượng, vừa phá được kế hiểm của giặc: chúng định điềuquân lẻn sang đánh úp Đại Việt nhân lúc đại quân còn đang ở bên nướcchúng.

Cuộc tập kích chiến lược đã giànhđược thắng lợi hoàn toàn. Lịch sử ghi nhận chiến công kỳ diệu này,chiến công có một không hai trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâmcủa dân tộc Việt. Gắn liền với chiến công ấy, là tên tuổi vị chủ tướngtài ba Lý Thường Kiệt.
Nhà viết sử Ngô Thì Sĩ ca ngợi ông: “bày trận đường đường, kéo cờ chínhchính, mười vạn thẳng sâu vào đất khách, phá quân ba châu như chẻ trúc,lúc tới còn không ai dám địch, lúc rút quân còn không ai dám đuổi, dụngbinh như thế, chẳng phải nước ta chưa từng có bao giờ”? (Việt sử tiêuán).

Trận tuyến Như Nguyệt và bài thơ thần “Nam Quốc Sơn Hà”

Tuy bị thua đau, nhưng nhà Tống vẫn rấtngoan cố. Lý Thường Kiệt biết chắc thế nào chúng cũng sẽ kéo quân sangphục thù và tiếp tục thực hiện mục tiêu xâm lược mà chúng chưa bao giờchịu từ bỏ. 

Ông cử người vào đất Tống để theo dõi cụ thể công việc chuẩn bị và kế hoạch xâm lược của quân Tống.
Ông tự mình đi xem xét vùng biên cương phía nam và tăng cường lực lượngbố phòng ở đó nhằm chặn sự tiến công quấy rối của quân Champa. Ông bốtrí kế hoạch cho các lực lượng vũ trang địa phương, các thổ binh, hươngbinh ở vùng núi phía bắc làm nhiệm vụ kiềm chế và tiêu hao địch trêncác con đường tiến vào của chúng.

Ông tập trung xây dựng phòng tuyến chính của quân ta dựa vào bờ namsông Như Nguyệt (sông Cầu), có rào giậu nhiều tầng, chạy dài trên 200dặm từ chân núi Tam Đảo đến sông Lục Đầu. Dưới sông có thủy quân, trênthành có quân đóng và tuần tiễu. Với phòng tuyến này, quân ta nắm chắckhả năng chặn địch, bảo vệ an toàn kinh thành Thăng Long và cả một vùngtrung châu rộng lớn và trù phú của đất nước.

Cuối năm 1076, đại quân Tống chia làmnhiều cách vượt biên giới tiên ào ạt vào Đại Việt. Sau một tháng phảiluôn luôn đối phó với những cuộc chống trả quyết liệt của nhân dân ĐạiViệt trên vùng biên giới và thượng du. Cuối cùng ngày 18 tháng 1 năm1077, đại quân Tống cũng tiến được tới bờ bắc sông Cầu. Nhưng đến đây,chúng đã bị chặn đứng lại. Phòng tuyến sông Cầu sừng sững như một bứctường thành, vững chãi, uy nghiêm và đầy thách thức. Chúng buộc phảidừng quân, tập kết trên một trận tuyến dài 30km từ bến đò Như Nguyệtđến chân núi Nham Biền, để từ đó triển khai các đợt tiến công sangphòng tuyến của quân Việt.

Một lần, chúng tập trung binh lực,đột phá trận tuyến quân Việt ở bến đò Như Nguyệt, chọc thủng được mộtđoạn phòng tuyến. Quân tiên phong của chúng tiến về phía Thăng Long.Nhưng quân Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy đã phản công kịch liệt. Chúngbị tổn thất nặng nề, phải mở đường máu mà tháo chạy.
Lần khác, chúng lại mở đợt tấn công mới. Với những bè lớn, mỗi bè trởđược 500 quân qua sông, chúng liên tiếp đưa những đạo quân mạnh đổ bộlên bờ nam. Nhưng ở đây chúng lại đụng phải sức phản công dữ dội củalực lượng chiến đấu dũng mãnh dưới sự chỉ huy linh hoạt sắc bén củatướng quân Lý Thường Kiệt. Những đạo quân đổ bộ đều bị tiêu diệt hoặcphải đầu hàng.

Vào lúc cuộc chiến ra vô cùng quyết liệt, Lý Thường Kiệt đã viết Nam quốc sơn hà– một bài thơ bất hủ để cổ vũ tinh thần binh sĩ. Tương truyền rằng ôngđã sai người giả làm thần nhân, nấp trong đền Trương Hát ở bờ nam cửasông Như Nguyệt, đọc bài thơ này.

Theo sách Việt điện u linhthì tướng quân Trương Hát là thần sông Như Nguyệt, chính thần nhân nàyđã được đọc bài thơ trên. Sách còn nói: “Đang đêm nghe tiếng vang trongđền đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ táng đẩm, khôngđánh cũng tan”.

Bài thơ Nam quốc sơn hà khẳngđịnh chân lý hùng hồn: Nước Nam là một quốc gia lãnh thổ riêng, cươnggiới rạch ròi, quyền độc lập tự chủ của dân tộc là thiêng liêng bất khảxâm phạm. Bài thơ thể hiện khí phách hào hùng về ý chí gang thép củadân tộc, cảnh cáo nghiêm khắc kẻ ngoại xâm, đồng thời cổ vũ mạnh mẽquân dân ta hăng hái chiến đấu, tin tưởng vững chắc vào thắng lợi hoàntoàn. Đi vào lịch sử, bài thơ được coi như bài Tuyên ngôn độc lập đầutiên của dân tộc ta sau hơn một ngàn năm bị phong kiến nước ngoài đô hộ.

Qua thực tế chiến trường trên phòngtuyến sông Cầu, bài “thơ thần”đã truyền đi đã có một sức mạnh kỳ lạ,làm nao núng tinh thần quân địch, làm tăng nhuệ khí và thêm sức chiếnđấu cho quân ta, trực tiếp góp phần làm xoay chuyển cục diện cuộc chiếnđang trong giai đoạn cực kỳ quyết liệt, tạo điều kiện cho cuộc phảncông chiến lược giành thắng lợi quyết định. Đó là cuộc phản công chiếnlược do Lý Thường Kiệt chỉ huy, đại quân ta vượt sông bất ngờ đánh úpvào doanh trại chính của địch. Theo Việt sử lược thì quân Tống đại bại, bị tiêu diệt đến năm, sáu phần mười.

Sau chiến thắng trên, Lý Thường Kiệt đã chủ động phái người sang sônggặp tướng chỉ huy quân Tống, đặt vấn đề hòa giải nhằm sớm chấm dứtchiến tranh, với điều kiện là toàn bộ quân Tống phải rút khỏi đất Việt.

Bọn chỉ huy quân Tống đang lúc hoang mang cực độ trước nguy cơ bị tiêudiệt hoàn toàn, chúng vội vàng nhận điều kiện trên và lập tức rút quânhồi tháng 3 năm 1077, không cần chờ lệnh của triều đình nhà Tống.

Trong cuộc chiến đấu lần này, quândân Đại Việt đã tiêu diệt hơn 19.000 quân địch. Tính cả cuộc tập kíchlần trước vào Ung-Khâm-Liêm, quân Việt đã tiêu diệt gần 30.000 tên.
Nhà quân sự lỗi lạc, nhà chính trị kiệt xuất mang một nhân cách lớn

Thắng lợi huy hoàng của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống(1075-1077) là một minh chứng hùng hồn về sự phát triển vượt bậc củadân tộc Việt sau một thế kỷ giành độc lập, quốc gia Đại Việt đã có đủsức mạnh để chống lại một đế quốc lớn mạnh.

d
Bài “thơ thần” được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam

 Làm nên thắng lợi, có công sức và sựhy sinh to lớn của toàn dân đoàn kết, chiến đấu kiên cường, dũng cảm vàmưu trí sáng tạo. Làm nên thắng lợi, có cống hiến lớn lao của vị tướngtổng chỉ huy Lý Thường Kiệt. Với tài năng thao lược và nghệ thuật chỉđạo chiến tranh kiệt xuất, luôn luôn thể hiện một tư tưởng tiến côngrất cao trong chỉ đạo tác chiến, ông liên tục tiến công kẻ thù: đánhphủ đầu quân xâm lược khi chúng chưa kịp hành động, phản công nhanhchóng và quyết liệt ngay khi bị kẻ thù tiến công, đánh ngay vào độiquân mạnh nhất của địch, ngay trên hướng tiến công chủ yếu của chúng.Ông khéo kết hợp giữa tiến công và phòng ngự tích cực, giữa các cáchđánh tập trung, đánh trận địa và đánh vận động. Ông vận dụng tài tìnhsự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với công tác chính trị và hoạt độngngoại giao.

Non sông sạch bóng quân thù. Lúc này vua mới 12 tuổi. Lý Thường Kiệtlại tiếp tục gánh trách nhiệm lớn của triều đình trong công cuộc xâydựng đất nước, chăm lo đời sống nhân dân. Ông đã cho tu bổ đê điều,đường sá, đình chùa hư hỏng trong chiến tranh và tiến hành nhiều biệnpháp nhằm cải tổ bộ máy hành chính trong toàn quốc.
 
Năm 1028, ông thôi chức Tể tướng vàđược cử về trị nhậm trấn Thanh Hóa. Làm việc ở đây suốt 19 năm trời,đến năm 1101 thì vua Lý Nhân Tông lại mời ông trở lại về triều giữ lạichức Tể tướng. Lúc này ông đã 82 tuổi.

Già rồi, nhưng ông vẫn tình nguyện cầm quân đi đánh giặc Lý Giác ở DiễnChâu (năm 1103), dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu ở Bố Chính (năm 1104).Ông còn tổ chức lại quân đội, duyệt đổi lại các đơn vị từ cấm binh đếndân quân.

Lý Thường Kiệt là một trọng thần đã trải ba triều vua (Lý Thái Tông, LýThánh Tông, Lý Nhân Tông), luôn luôn được triều đình tin tưởng, nểtrọng. Từ đời Lý Thánh Tông, ông đã được cất lên ngang hàng các hoàngtử, được vua nhận làm con nuôi và ban hiệu Thiên tử nghĩa nam. Đời LýNhân Tông, ông được nhà vua coi như em và ban hiệu Thiên tử nghĩa đệ

Ông mất năm 1105, thọ 86 tuổi. Khimất được phong tặng Kiểm hiệu Thái úy bình chương quân quốc trọng sự,Việt quốc công, được lập đền thờ ở nhiều nơi.
Lý Thường Kiệt là một nhà quân sự kiệt xuất, có tài thao lược lỗi lạc,phá Tống bình Chiêm, đánh đâu thắng đấy. Ông cũng là một nhà chính trịtài giỏi và ngoại giao xuất sắc. Về văn học, ông để lại cho đời bài thơbất hủ Nam quốc sơn hà, tác phẩm nổi tiếng nhất đời Lý và bài hịch hùng tráng Phạt Tống lộ bố văn.

Ông là một nhân cách lớn. Văn bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn đã ca ngợi ông như sau:

“Làm việc thì siêng năng, điều khiểndân thì đôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy. Khoan hòa giúp đỡ trăm họ,nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính trọng. Dùng uy vũ đểtrừ gian ác, đem minh chứng để giải quyết ngục tụng, cho nên hình ngụckhông quá lạm. Thái úy biết rằng dân lấy sự no ấm làm đầu, nước lấynghề nông làm gốc, cho nên không để nỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoekhoang. Nuôi dưỡng đến cả những người già ở nơi thôn dã, cho nên ngườigià nhờ thế mà được yên thân. Phép tắc như vậy có thể là cái gốc trịnước, cái thuật yên dân, sự tốt đẹp đều ở đấy cả”.

Lý Thường Kiệt là một anh hùng dân tộc bậc nhất của đời Lý mà tên tuổivà sự nghiệp vẫn sáng chói mãi trong lịch sử vinh quang của dân tộc.

(Theo TTXVN/Vietnam+)