Lý Nam Đế từng là một chú tiểu

0
149

Trần Anh Tông bị ném vỡ đầu

Trần Anh Tông là vị vua thứ 4 của nhà Trần, ở ngôi 21 năm (1293 -1314), được sử sách đánh giá là “khéo nối chí giữ nghiệp, cho nên đấtnước được thái bình, chính trị tốt đẹp, văn vật, chế độ dần thịnh lên,cũng là bậc vua tốt của triều Trần” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Để tiếp cận với đời sống nhân dân, vua Trần Anh Tông thường đi vi hànhvà có lần ông đã bị ném vỡ đầu. Sử cho biết như sau: “Vua thích vihành, cứ đêm đêm lại lên kiệu cùng với hơn chục thị vệ đi khắp trongkinh kỳ, gà gáy mới trở về cung. Có đêm ra đến quân phường bị bọn vôlại ném gạch trúng vào đầu vua. Người theo hầu thét lên: kiệu vua đấy;bọn chúng biết nhà vua mới tan chạy cả. Một hôm thượng hoàng thấy đầuvua có vết thương, vặn hỏi, vua cứ thú thực mà thưa. Thượng hoàng giậndữ hồi lâu” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Vua Tự Đức thi văn đỗ hạng… bét

d
Vua Tự Đức
Là người thông minh, giỏi văn, haychữ nên hoàng đế thứ 4 của triều Nguyễn là Tự Đức rất tự cao tự đại mặcdù bề ngoài luôn tỏ ra khiêm tốn. Có lần vua nói: Trẫm không đi thinhưng nếu đi thi nhất định trẫm sẽ đỗ Trạng nguyên.

Thấy mọi người không có vẻ tán đồng, Tự Đức liền nghĩ ra một cách, ôngcùng một số vị đại khoa làm một bài luận rồi rọc phách gửi sang nhờ vuaThanh lập ban giám khảo chấm giúp. Tự tin nghĩ thế nào mình cũng đỗ đầunhưng hoá ra bài văn của Tự Đức xếp cuối; trong bài của ông có lời phêrằng: “Bài này tỏ ra tác giả là một người học rộng, khí phách, khôngphải là người thường nhưng là người không có tài mấy!”.

Lý Nam Đế từng là một chú tiểu

Lý Nam Đế tên thật là Lý Bí (còn gọi là Lý Bôn) là người lãnh đạo cuộckhởi nghĩa năm Tân Dậu (541) lật đổ chính quyền đô hộ, xây dựng mộtchính quyền tự chủ của nhà nước Vạn Xuân, ông xưng đế và trở thành vịHoàng đế đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

Lý Bí xuất thân trong một gia đình “đời đời là hào hữu”, cha là LýToản, tù trưởng bộ lạc, mẹ là Lê Thị Oánh, người Ái Châu (nay là ThanhHóa). Là con độc nhất trong gia đình, từ nhỏ đã tỏ rõ là người thôngminh, hiểu biết, thế nhưng ông sớm phải sống trong cảnh mồ côi, khi lên5 tuổi thì cha mất, 7 tuổi mẹ lâm bệnh qua đời; Lý Bí được người chúruột đón về nuôi dưỡng. Một hôm có vị thiền sư đến làm lễ tại ngôi chùatrong làng, tình cờ nhìn thấy Lý Bí. Ngắm dung mạo cậu bé khôi ngô,thiền sư biết là người sau này có thể làm lên sự nghiệp. Biết hoàn cảnhđáng thương của Lý Bí, thiền sư liền đến gặp người chú xin đem cậu bévề làm “con nuôi cửa Phật”. Từ đó Lý Bí trở thành chú tiểu, theo Pháptổ thiền sư về chùa Linh Bảo ở đất Giang Xá (nay thuộc xã Đức Giang,huyện Hoài Đức, Hà Nội).

Được vị thiền sư hết lòng dạy bảo, lại thông minh chăm chỉ nên qua hơn10 năm đèn sách, rèn luyện, Lý Bí trở thành nhân vật thiên tư lỗi lạc,văn võ toàn tài. Mọi người ai cũng quý mến, tin phục, sau đó đồng lòngsuy tôn ông lên làm thủ lĩnh địa phương và sau này, chú tiểu năm nào đãphất cờ đại nghĩa, lật đổ ách đô hộ gần 500 năm của Bắc triều, đặtnhững nền móng đầu tiên cho sự ra đời quốc gia phong kiến độc lập.

Vua đầu tiên nhận lỗi với thần dân

Vua Lý Cao Tông chính là người đầutiên làm “thiên tử” thay trời hành đạo mà lại dũng cảm thừa nhận trướcthần dân sai lầm của mình.
Dưới thời Lý Cao Tông, triều chính bắt đầu đi xuống, loạn lạc nổi lênkhắp nơi. Sử chép: “Vua chơi bời không điều độ, hình chính không rõràng, giặc cướp như ong, đói kém liền năm, cơ nghiệp nhà Lý từ đấy suykém… Kinh Thi có câu: Bên trong mê sắc đẹp, bên ngoài mê săn bắn, hamrượu, thích nhạc, nhà cao tường đẹp, người nào phạm một trong các điềuấy tất phải diệt vong, mà vua thì phạm đủ các điều ấy, còn làm gìđược…” (Đại Việt sử ký toàn thư).
 
Đến mùa thu, tháng 8 năm Đinh Mão (1207), vua Lý Cao Tông thấy giặccướp nổi lên như ong bèn hối lại lỗi xưa, nhân đó hạ chiếu nhận lỗi,bài chiếu viết rằng: “Trẫm còn bé mà phải gánh vác việc lớn, ở tận nơicửu trùng, không biết được cảnh khó khăn của dân chúng, nghe lời bọntiểu nhân mà gây nên oán với kẻ dưới. Dân đã oán thì trẫm còn biết dựavào ai? Nay trẫm sẽ sửa lỗi, cùng dân đổi mới. Ai có ruộng đất, sảnnghiệp bị sung công sẽ được hoàn lại” (Đại Việt sử lược).

Từ tù nhân trở thành hoàng đế

Câu chuyện lạ lùng này liên quan đến vua Lê Hiển Tông, vị hoàng đế thứ26 của nhà Hậu Lê. Ông là con trai trưởng của Lê Thuần Tông, sinh nămĐinh Dậu (1717), mất năm Bính Ngọ (1786), thọ 69 tuổi. Lê Hiển Tông làmột trong số những vị vua có tuổi thọ cao nhất và là vị vua thọ nhấttriều Hậu Lê. Vị hoàng đế này cũng là một trong những người ở ngôi lâunhất trong lịch sử Việt Nam và là người làm vua lâu nhất triều Hậu Lê.

Chuyện lên ngôi của Lê Hiển Tông chứa đựng nhiều yếu tố may mắn. Khicòn là hoàng tử, vì có người chú là hoàng thân Lê Duy Mật nổi binh đánhlại họ Trịnh nhằm khôi phục quyền lực cho vua Lê, do đó ông bị chúaTrịnh Giang nghi ngờ đem giam cầm ở nhà viên quan nội thị Hồng quậncông.

Năm Canh Thân (1740) Trịnh Doanh lên ngôi chúa mới chuyển hoàng tử đếngiam ở nhà cậu mình là Vũ Tất Thận. Đêm trước đó, Vũ Tất Thận “mơ thấythiên tử tới nhà, cờ quạt phấp phới, nhã nhạc vang lừng, rõ ra cảnhtượng của đời thái bình” (Hoàng Lê nhất thống chí).Sáng hôm sau thấy quân lính giải hoàng tử đến nhà, ông ta rất kinh ngạccho là ứng vào giấc mộng của mình bèn kể lại với chúa. Trịnh Doanh thấyvậy cho là người có phúc lớn bèn đón hoàng tử về tôn lên làm vua, đặtniên hiệu là Cảnh Hưng.

Đôi mắt sáng như sao của vua Quang Trung

đ
Hình vua Quang Trung trên một con tem cổ
Vua Quang Trung sinh năm Quý Dậu(1753), hồi nhỏ có tên là Hồ Thơm, con thứ của ông Hồ Phi Phúc và bàNguyễn Thị Đồng. Khi trưởng thành ông đổi họ Hồ sang họ Nguyễn và lấytên là Nguyễn Văn Thơm, sau đó được thầy học đổi tên là Nguyễn Huệ,ngoài ra ông còn có các tên khác là Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Văn Huệ,Nguyễn Quang Bình… Các sách sử đều mô tả Quang Trung là người cao lớn,tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông, cặp mắt sáng nhưchớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối.

Đôi mắt lạ nhất của Quang Trung theo sách sử cho biết nó khiến nhiềungười khi thấy thần sắc của ông “đều run sợ, hãi hùng… không một ngườinào dám nhìn thẳng vào mắt” (Hoàng Lê nhất thống chí). Đôi mắt này được mô tả như sau: “đôi mắt lập lòe như ánh điện” (Đại Nam chính biên liệt truyện), “con mắt nhỏ nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu” (Tây Sơn thuật lược).

Vua Gia Long bị ngã lộn cổ xuống huyệt mộ

Cuộc đời vua Gia Long, vị hoàng đế khai sáng vương triều Nguyễn, cónhiều giai thoại kỳ lạ trong thời kỳ bôn ba gian khổ để mưu đồ phụcquốc. Tuy nhiên một chuyện lạ có thật ít người biết, đó là chuyện vuađã bị ngã xuống huyệt mộ của mẹ mình là bà Hiếu Khang hoàng thái hậuvào tháng giêng năm Nhâm Thân (1812) và lạ hơn nữa là cách hành xử củaquan lại trước cú ngã của vua. Sách Quốc sử di biênviết: “Trước đây sai Thị trung trực học sĩ Lê Quý Kiệt sửa sơn lăng;Quý Kiệt nói đào đến huyệt tất có đất ngũ sắc, rồi quả nhiên đúng, vuacho là lạ ngày càng khen thưởng. Đến lúc làm nhà bên mộ, mưa gió to,vua xảy chân ngã, quan lại đều sợ tản đi hết. Phò mã Trương Văn Minh đỡvua dậy đưa ra khỏi huyệt”.

Lê Thái Dũng (bee)