Lý luận Thiền tông trong Thập mục ngưu đồ

0
218


Các tác giả sáng tạo nên bộ tranh đã mượn hình ảnh chăn trâu để diễn tả về quá trình “minh tâm thấu tính” tức “con trâu”là cái bản ngã của ta được ví như một con vật. Nguồn gốc của môn pháiThiền tông lại chính là nằm ở khái niệm “tri hữu” tức nhận biết về sựtồn tại của vật đó. Một khi ta đã minh tâm thấu tính tức làta đã trở thành Phật là ý niệm nằm sâu trong hình ảnh chăn trâu. Chúngta cần biết rằng về lý đó là quá trình đốn ngộ và sự đốn ngộ dần dầntan hết, về sự đó là những việc cần loại bỏ từ từ rồi lần lượt ta sẽđến tận cùng của nó. Gọi là chỉ hiềm mang máng một sự ở quá khứ giốngnhư con người ta sinh ra ở trần thế 10 tháng trong bụng mẹ, ba năm tậpđi cái công đó của cha mẹ lẽ nào một chốc ta lại thoáng quên hay sao.Tuy nhiên với những bậc trí lượng hơn người mới biết đâu là sự việc cầnyên định để cho mọi vấn đề không lẫn vào như mới mong gỡ ra được. Dướiđây xin đăng lại mười bài thơ nguyên gốc của các tác giả Trung Quốc vàthơ cách điệu về Thập mục ngưu đồ của các vị hòa thượng Việt Nam đời trước để độc giả suy ngẫm.

1. Bức tranh thứ nhất:

Tìm trâu được ví như quá trình ta tham vấn về Thiền đạo giống nhưkhi ta bị lạc vào nơi sơn cùng thủy tận không thể thấy đâu là đường.Lúc này ta đâu thể thoái lui đồng thời các sự việc của phàm trần đếnchỗ cùng cực tất biến thông. Ta cần biết rằng tận cùng cái lý “vật cùngtắc biến” được thấu suốt bằng một câu thơ “liễu ám hoa minh riêng mộtthôn”.

Thơ nguyên gốc: tạm dịch

Hung hăng đầu sừng nộ xung thiên
Băng qua khe lạch khắp sơn điền
Một mảnh mây đen ngang hang thẳm
Nào biết dò bước cỏ hoa phiền.

Thơ chữ Hán dịch Việt:

1. TẦM NGƯU:

Mang mang bát thảo khứ truy tầm
Thuỷ khoát sơn dao lộ cánh thâm
Lực tận thần bì vô xứ mịch
Đãn văn phong thụ vãn thiền ngâm

Nao nao vạch cỏ kiếm tìm trâu
Núi thẳm đường xa nước lại sâu
Kiệt sức mệt nhoài tìm chẳng thấy
Thoáng nghe trong gió tiếng ve sầu.

2. Bức tranh thứ hai

Thấy dấu vết của con trâu tức hàm ý cái cách chăn trâu cần ràng buộccon trâu theo sự tùy nghi nhưng phải có chủ đích nhất định, không đượcbất cập hoặc thái quá thì nó mới có sự vận động theo chiều hướng tốt.Vội vàng sẽ hỏng việc bởi vì người vội vàng sẽ trở nên cố chấp. Hayquên cũng không được bởi vì người hay quên sẽ lẫn về đường lối. Tóm lạingười học thiền cần phải kiên trì quan sát, suy ngẫm rồi từng bước tiếntheo con đường đúng đắn thì con trâu mới dễ dàng sai khiến. Nếu khônglàm được thì con trâu sẽ đứng ỳ ra rất khó chế phục nó.

Thơ nguyên gốc ( tạm dịch)

Ta mang dây thừng xuyên mũi trâu
Tức giận ra roi hề gì đâu
Từ xưa tính bướng khó điều trị
May nhờ trẻ đồng gắng sức mầu

Thơ chữ Hán dịch Việt:

2. KIẾN TÍCH

Thủy biên lâm hạ tích thiên đa
Phương thảo li phi kiến dã ma
Túng thị thâm sơn cánh thâm xứ
Liêu thiên tị khổng chẩm tàng tha

Ven rừng bến nước dấu liên hồi
Vạch cỏ giẽ cây thấy được thôi
Ví phải thâm sơn lại cùng cốc
Ngất trời lỗ mũi hiện ra rồi.

Bức tranh thứ ba

Thấy trâu hàm ý sau khi cố gắng điều phục ở bản thân đã khiến contrâu đi vào đúng đường. Trên con đường đó ra cần dần dần cho con trâuthích nghi với một số quy tắc nhất định. Kể từ giai đoạn này cần chớ cóthái độ phóng túng mới không bị mắc vào lầm lỗi.

Thơ nguyên gốc (tạm dịch):

Khoan thả chế phục lại canh tân.
Vượt thủy, xuyên mây bước trong trần
Tay cầm thừng kia đầu trì hoãn.
Mục đồng cuối ngày mệt quên dần

Thơ chữ Hán dịch việt

3. KIẾN NGƯU

Hoàng oanh chi thượng nhất thanh thanh
Nhật noãn phong hoà ngạn liễu thanh
Chỉ thử cánh vô hồi tị xứ
Sâm sâm đầu giác hoạch nan thành

Hoàng anh cất tiếng hót trên cành
Nắng ấm gió hoà bờ liễu xanh
Chỉ thế không nơi xoay trở lại
Đầu sừng rành rõ vẽ khôn thành.

Bức tranh thứ tư

Bắt trâu mang ý nghĩa là sự quay đầu chuyển hướng ý nghĩ trở lại bởivì ý nghĩ mang nội dung khác nhau ở vào các thời điểm khác nhau, do vậyta luôn có cách nhìn nhận trở lại vấn đề mới không bị lạc hướng. Tuynhiên sự nhìn nhận lại này không có nghĩa là bê hết toàn bộ nội dung tưtưởng và hành động trong quá khứ tái hiện lại. Nếu ta không biết nhìnnhận lại thì ta không thể xuất thế được đồng thời từ sự giác ngội banđầu ta lại chấp vào cõi mê vì vướng vào cõi hỗn mang để quên hết bảngốc. Sự chấp mê có lý do của nó nếu không thấu hiểu sẽ thành lỗi.

Thơ nguyên gốc (tạm dịch):

Ngày trước dày công biết quay đầu
Cuồng sức phí lực chẳng về đâu
Mục đồng chưa thả đã ưng thuận.
Lại đem dây thừng buộc vào trâu.

Thơ chữ Hán dịch Việt:

4. ĐẮC NGƯU

Kiệt tận thần thông hoạch đắc cừ
Tâm cường lực tráng tốt nan trừ
Hữu thời tài đáo cao nguyên thượng
Hựu nhập yên vân thâm xứ cư

Dùng hết thần công bắt được y
Tâm hùng sức mạnh khó khăn ghì
Có khi vừa hướng cao nguyên tiến
Lại xuống khói mây mãi nằm ì

Bức tranh thứ năm

Chăn trâu mang hàm ý cần phải luôn quan tâm bồi dưỡng công sức tuluyện Thiền học qua năm tháng. Sinh khí dần dần thành thục, sự thànhthục lại tạo ra sinh khí dần dần thành thục, sự thành thục lại tạo rasinh khí tu học mới để loại bỏ hết các thói quen cũ. Chỉ có như vậycông lao gắng rèn về tính mới hiển đạt được. Tự bản thân thấy có sựbiến hóa khí chất mới thực chứng được tư duy.

Thơ nguyên gốc ( tạm dịch):

Ngồi bên rặng liễu khe lạch xưa.
Bỏ cũ đón mới mấy cũng vừa
Ngày trước mấy xanh nơi hoa cỏ
Mục đồng quay về chẳng cần đưa.

Thơ chữ Hán dịch Việt:

5. MỤC NGƯU

Tiên sách thời thời bất li thân
Khủng y túng bộ nhạ ai trần
Tướng tương mục đắc thuần hoà dã
Ki toả vô câu tự trục nhân

Nắm chặt dây roi chẳng lìa thân
Ngại nó chạy rông vào bụi trần
Chăm chăm chăn dữ thuần hoà dã
Dây mũi buông rồi vẫn theo gần

Bức tranh thứ sáu

Sau một thời gian thuần hóa, các tập quán cũ đã dần dần loại bỏ hếtnên có thể tự do tự tại với tư duy nghĩ sâu về đạo. Kể từ đó nhất cửđều đúng theo nghi thức không hề tổn phí tâm công. Tự nhiên ta hài hòavới đạo lớn tự nhiên không xưa không nay để gặt hái sự hoan hỷ.

Thơ nguyên gốc ( tạm dịch):

An nhàn lạc địa thỏa ý xưa
Há cầu roi da để cho chừa
Mục đồng an tọa dưới tùng bách
Khúc sáo thanh bình vẳng tiếng đưa.

6. KỊ NGƯU QUY GIA

Kị ngưu mạt trấp dục hoàn gia
Hà địch thanh thanh tống vãn hà
Nhất phách nhất ca vô hạn ý
Tri âm hà tất cổ thần nha

Cưỡi trâu thong thả trở về nhà
Tiếng sáo vi vu tiễn vãn hà
Một nhịp một ca vô hạn ý
Tri âm nào phải động môi à

Bức tranh thứ bảy

Nay ra như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh, quá khứ – tương laikhông hề vấy đục bản tâm thanh tịnh. Chuyên tâm ta quy về đạo lớn, nhấtcử nhất động đâu đâu cũng hợp ý của đạo. Các suy tư về đạo ở lúc banđầu dần dần tan hết, thành ý không hề tan mất để tạo ra một sự chuyểnbiến mới về chất trên con đường tu thiền.

Thơ nguyên gốc (tạm dịch):

Gió xuân rặng liễu lúc triều dương.
Hương cỏ nồng khắp chốn thảo đường.
Chạy tịnh qua bữa tùy thời nghỉ.
Mục đồng say giấc chẳng vấn vương

Thơ chữ Hán dịch Việt:

7. VONG NGƯU TỒN NHÂN

Kị ngưu dĩ đắc đáo gia san
Ngưu dã không hề nhân dã nhàn
Hồng nhật tam can do tác mộng
Tiên thằng không đốn thảo đường gian

Cưỡi trâu về thẳng đến gia san
Trâu đã không rồi người cũng nhàn
Mặt nhật ba sào vẫn say mộng
Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng

Bức tranh thứ tám

Con trâu là hình ảnh con đường tu Thiền của ta chăng? Ta đi chăntrâu, trâu là ta hay ta là trâu. Tùy vào sự lãng quên để tan dần hìnhtích giống như mây trên trời xanh hay nước ở trong bình. Nội thiền đãđắc uyên thâm hẳn tâm ta thành Phật ấn rồi tùy vào sự dung hợp đó để takhông phải bận nghĩ về bất cứ vấn đề nào cả.

Thơ nguyên gốc ( tạm dịch):

Trâu trắng đang bay chốn mây xanh
Ta bản vô tâm cùng trâu hành.
Mây trắng cùng trăng biến ảnh.
Trăng ngời mây trắng cảnh sắc thanh.

Thơ chữ Hán dịch Việt.

8. NHÂN NGƯU CÂU VONG

Tiên sách nhân ngưu tận thuộc không
Bích thiên liêu khoát tín nan thông
Hồng lô diễm thượng tranh dung tuyết
Đáo thử phương năng hợp tổ tông

Roi gậy, người trâu thảy đều không
Trời xanh thăm thẳm tin chẳng thông
Lò hồng rừng rực nào dung tuyết
Đến đó mới hay hiệp tổ tông

Bức tranh thứ chín

Khi đạt tới cảnh giới vô nhân, vô ngã thì con trâu chẳng thấy đâunữa. Khi ta đã vô tâm, vô sự thì hà tất cần phải cầu điều gì nữa. Kể từđó ta có thể đạt tới tự do tự tại vô biên an lạc mà không hề sầu muộn.Đạt tới được cảnh giới đó hẳn ta sẽ thấy ánh sáng lung linh của đạolớn, giải thoát mọi xiềng xích của căn trần. Một khi đã hé lộ chântướng thực của đạo hẳn ta cũng chẳng hề bị ràng buộc vào ngôn ngữ củakinh kệ, tâm tính không hề vấy tạp, tự tại viên thành, tất khó dời bỏduyên Phật vậy.

Thơ nguyên gốc (tạm dịch)

Một mảnh mây trắng cảnh dần tan
Trâu – người cùng lạc, mục đồng nhàn.
Vỗ tay cao hát dưới trăng sáng.
Quay lại duy nhất một ải quan.

Thơ chữ Hán dịch Việt

9. PHẢN BẢN HOÀN NGUYÊN

Phản bản hoàn nguyên dĩ phí công
Tranh như trực hạ nhược manh lung
Am trung bất kiến am tiền vật
Thuỷ tự mang mang hoa tự hồng

Phản bản hoàn nguyên đã phí công
Đâu bằng thẳng đó tợ mù câm
Trong am chẳng thấy ngoài vật khác
Nước tự mênh mông hoa tự hồng

Bức tranh thứ mười

Khi cảnh sắc trâu và người đều tan biến hết, việc lý luận biện bácvề việc đó cũng vô ích. Duy nhất một pháp giới và pháp giới là một thựcthể. Với thành tựu đại viên mãn thì đó chính là trân thường ở cõi NiếtBàn, thực an lạc, thực là ta, thực thanh tĩnh. Kể từ đời nhà Đường trởvề trước các Hòa thượng thiền tông đã truyền dạy cho các lớp học trò vềnguyên lý “trực chỉ nhân tâm”, “kiến tính thành Phật”.Nhưng đến các đời sau này, pháp cụ truyền dạy về tôn chỉ đó càng ngàycàng sa sút, sự tin tưởng vào bản thân ngày càng mờ nhạt nên học pháiThiền tông ở Trung Hoa không có bước phát triển nào mới thêm. Các kháiniệm về “viên ngộ” và “đại tuệ” đều do các nhân tàitrong giới Phật giáo đời sau khởi xướng nhưng việc thích nghi với cáckhái niệm đó như thế nào? Chúng ta cần phải có những suy nghĩ thấu đáovề vấn đề đó.

Thơ nguyên gốc (tạm dịch)

Trâu – người không biết đã về đâu
Vạn tưởng tỏa sáng chẳng cần cầu
Ví thử tìm ra đâu là ý
Cỏ hoa tiên cảnh trắng sắc mầu.

Thơ chữ Hán dịch Việt

10. NHẬP TRIỀN THÙY THỦ

Lộ hung tiển túc nhập triền lai
Mạt thổ đồ khôi tiếu mãn tai
Bất dụng thần tiên chân bí quyết
Trực giáo khô mộc phóng hoa khai

Chân trần bày ngực thẳng vào thành
Tô đất trét bùn nụ cười thanh
Bí quyết thần tiên đâu cần đến
Cây khô cũng khiến nở hoa lành.


Mười bức tranh chăn trâu Đại thừa

Bàn thêm về bộ tranh “ Thập mục ngưu đồ”

Hỏi: Nếu có thể tóm lược tinh thần của “Thập mục ngưu đồ”,thì Tạp chí chỉ cho biết phải nói thế nào? Nghe nói những bức tranh nàyxuất xứ từ Trung Quốc, vậy thư tịch cổ có nhắc đến không?

Trả lời : Về tinh thần Thập mục ngưu đồ, chúng tôi giớithiệu dưới đây, còn về thư tịch cổ của Việt Nam, xin dẫn đoạn đối thoạisau đây trích trong “Truyền đăng lục”, quyển 9.

Phước Châu Đại An hỏi : “Tôi khao khát hiểu pháp Phật, đó như cái gì
Bách Trượng đáp: “Hệt như cưỡi trâu tìm trâu”.
Phước Châu Đại An: “Hiểu rồi thì như thế nào?”.
Bách Trượng: “Như người cưỡi trâu về nhà”.
Phước Châu Đại An: “Rồi làm sao giữ cho trước sau toàn vẹn”.
Bách Trượng: “Như người chăn trâu cầm roi giữ trâu mình đừng phạm đến lúa mạ của người”.

Hỏi: Xin tạp chí tra cứu giùm về “Thập mục ngưu đồ” – mườibức tranh trâu? Tôi thấy có nhiều bộ tranh, vậy thì tại sao lại cónhiều bộ tranh khác nhau như vậy?.

Trả lời: Về 10 bức tranh trâu, có nhiều kiến giải, chúng tôi xintrích kiến giải của nhà Thiền học Daisetz, Teitaro Suzuki trong sách“Thiền Luận” do Trúc Thiên dịch,dẫn qua Thư viện Hoa Sen trong trang http://www.thuvienhoasen.org/, như sau:

THẬP MỤC NGƯU ĐỒ là mười bức tranh chăn trâu. Tranh ra đời từ triềuđại nào, dưới ngọn bút lông nào, khó mà tra cứu cho đích xác được. Điềuchắc chắn là tranh có từ xa xưa lắm, ban đầu chỉ có sáu bức, sau thấtlạc luôn. Mãi đến từ đời nhà Tống, thế kỷ XII, nhiều bộ tranh mới bắtđầu xuất hiện tự các tòng lâm, thiền viện, phản ảnh nhiều khuynh hướngkhác nhau trong sự tu tập. Như vậy là không phải chỉ có một bộ, mànhiều bộ “mục ngưu đồ” khác nhau, tất cả đều đượm nhuần tinh thần Phậtgiáo Bắc Tông. Trong số ấy hiện nay được truyền tụng nhất là tranh củahai họa sĩ áo nâu THANH CƯ và QUÁCH AM.

Tuy có nhiều bộ tranh, nhưng bộ nào cũng như bộ nào, đều có 10 bức,mỗi bức có một bài tụng bằng thơ tứ tuyệt, và một bài chú giải bằng vănxuôi. Đó là về hình thức. Còn về tinh thần thì tranh tuy có nhiều,nhưng có thể xếp thành hai loại: loại tranh Đại Thừa và loại tranh theokhuynh hướng Thiền Tông. Trong mỗi loại, tranh vẽ không giống nhau,nhưng bài tụng và bài chú riêng cho mỗi loại vẫn không thay đổi.

Hỏi: Xin cho biết ý nghĩa của các bộ tranh Thập mục ngưu đồ?

Trả lời: Về bộ tranh “Thập mục ngưu đồ” đã có bài ở trên, chúng tôi xin điểm qua bộ tranh “Thập mục ngưu đồ” có khuynh hướng Đại thừa trước.

Tranh Đại Thừa vẽ con trâu đen. Lần lượt qua từng bức họa, trâu đendần dần biến thành trắng. Trắng từ trên đỉnh đầu, rồi trắng quanh mình,rồi lan ra đến chót đuôi.

Đó là tượng trưng cho phép tu tập. Theo phép tu thì phải rất nhiềucông phu mới tiến đến được từng nấc thang ngộ; nhờ công phu, ái tâmvọng lần hồi gạn lọc được trần cấu mà sáng lần lên, cũng như nhờ đượcdìu dắt mà con trâu hoang qua ngày tháng thuần thục dần, và trắng dần,tthay thế lớp da đen dơ dáy:

Nhựt cửu công thâm thỉ chuyển đầu
Điên cuồng tâm lực tiệm điều nhu
(Công phu chầy tháng mới quay đầu
Tâm loạn lần hồi chịu thuận nhu)

Mười bức tranh có tên là: Vị mục: chưa trăn; Sơ điều: Mới chăn;Thọ chế: chịu phép; Hồi thủ: quay đầu; Tuần phục: vâng chịu; Vô ngại:không ngại; Nhiệm vận: tha hồ; Tương vong: cùng quên; Độc chiếu: Soiriêng; Song dẫn: dứt cả hai ( vẽ vòng tròn).

Bộ tranh Đại Thưa nào cũng mở đầu bằng bức họa vị mục (chưa chăn) vẽ con trâu hoang và khép lại là bức họa song dẫn,vẽ một vòng tròn tượng trưng cho Viên Giác. “Song dẫn” là dứt được hếtlà cả hai: trâu và mục đồng, tâm và cảnh, dứt được hết là hiển hiện ánhChân Như lung linh trong màu cỏ nội hoa ngàn:

Nhân ngưu bật kiến yểu vô tung
Minh nguyệt quang hàn vạn tượng không
Nhược vấn kỳ trung đoan đích ý
Dã hoa phương thảo tự tùng tùng

Nghĩa :

Người trâu chẳng thấy biệt mù tăm
Trăng sáng soi trùm muôn tượng không
Ví hỏi vì sao đoan đích ấy
Um tùm cỏ nội với hoa đồng

Chúng ta có thể thưởng thức vài bộ tranh chăn trâu loại Đại Thừa này trong cuốn Judo lnternational của Liên đoàn Nhu Đạo Pháp quốc, do Jagarin sao lục lại và có dịch luôn cả bài tụng và chú; trong Phật Học Tinh Hoa của giáo sư Nguyên Duy Cẩn (phần phụ lục) trong pho sách cổ “Mục ngưu đồ” bằng chữ Hán tại thư viện chùa Xá Lợi; trong tập “Học làm Phật” của thầy Trương Lạc (chùa Linh Chưởng ấn hành, 1964), trong ấy có đủ mười bài thơ chăn trâu Đại Thừa, vừa nguyên tác vừa bản dịch của Tuệ Nhuận.

Về nội dung: Đề tài chung của các loại tranh chăn trâu là đường lốitu tập. Đường lối tuy nhiều, song không ngoài việc bắt tâm. Nên tập “Mục ngưu đồ” có thể coi như là lời giải đáp cho câu hỏi trong kinh Kim Cương:

“Vân hà hàng phục kỳ tâm?”
(làm sao làm chủ được cái tâm?)

Tâm ở đây là con trâu. Vì có trâu nên có mục đồng. Vì có tâm nên cócảnh. Tất cả cố gắng của Đại thừa đều nhằm vào sự “bắt buộc” trâu, tứclà “điều tâm” vậy. Tâm là con trâu hoang. Muốn trị nó phải dùng nhữngbiện pháp mạnh, như đánh bằng roi, xỏ mũi bằng dây lòi tói v.v… Cũngvậy, muốn trị tâm, cần quy y, giữ giới cấm, phát tâm bồ đề v.v…. Quangày tháng, trâu trở nên thuần thục, tâm trở nên điều hòa. Đó là bướcđầu, diễn tả bằng năm bức họa đầu: “vị mục, sơ điêu, thọ chế, hồi thủ và tuần phục”.Đó là giai đoạn của GIỚI vậy, mở đường cho ĐỊNH phát sanh trong giaiđoạn kế. Trong giai đoạn này, tâm đã tuần phục, khỏi phải chăn giữ. Tâmđã định, không gặp gì chướng ngại. Tâm định là ngã chấp hết, song vẫncòn pháp chấp.

Đó là bước tu chứng của hàng tiểu Thừa (thanh văn và duyên giác) diễn đạt bằng hai bức họa “vô ngại” và “nhiệm vận”.

Cần đi thêm bức nữa, khai thác HUỆ giác đến chỗ TÂM vô TÂM: “Nhơn vô tâm, ngưu diệc vô tâm”.

Đến đây mới phá được pháp chấp: pháp cũng không, mà ngã cũng không,trâu cũng mất mà người cũng mất, cảnh cũng quên mà tâm cũng quên. Trướchết trâu mất còn người. Rồi người cũng mất luôn. Đó là cảnh giới của Bồtát: diễn tả bằng hai bức họa “tương vong”“độc chiếu”, “Tâm cảnh song vong nãi thị chơn pháp”

Từ đó, đi thêm bước nữa vào cảnh giới Như Lai, không nói được nênlời, mà chỉ có thể hình dung bằng một vòng tròn: Viên Giác. Đó là ýnghĩa của bức tranh cuối cùng (song dẫn) khép lại quá trình tu chứng theo TIỆM GIÁO, đi từ giới đến định và huệ, từ thanh văn, duyên giác đến bồ tát, Phật, từ hữu tâm đến tâm và vô tâm, từ chỗ tất cả đều có đến nhân pháp đều không .v.v… Đó là vô dư Niết Bàn.

Tóm lại, “Thập mục ngưu đồ” vẽ lại quá trình công phu củangười học đạo, trước hết tự thắng bản năng mình, sau đến tự tri, cuốicùng chỉ để tự tại thôi (être simplement). Cái vòng tròn cuối cùng(tranh 10: song dẫn) tượng trưng sự đoạn tuyệt với tất cảnhững nếp suy tư của chúng ta, cắt đứt một trạng thái ý thức và hiệnhữu mà thường chúng ta không được biết”.

Hỏi: Vậy tóm lại tranh ngưu mục đồ khuynh hướng Đại thừa khác với khuynh hướng Thiền tông thế nào?

Trả lời: Chúng tôi chưa có dịp so dẫn sự sai khác, xin tóm lược vềbộ tranh theo khuynh hướng Thiền tông để bạn tự rút ra kết luận.

Tranh Thiền Tông có loại vẽ con trâu đen, có loại vẽ con tru trắng. Trâu trắng là ý nói “bạch ngưu xa”,xe trâu trắng, tức là Phật thừa. Đạo Phật có ba thừa – ba cỗ xe – là xedê, xe nai va xe trâu (thường) chở các hàng thanh văn, duyên giác và bồtát ra khỏi nhà lửa mà thành đạo. Tuy nhiên, ba thừa chỉ là phương tiệngiả lập lên, những hóa thành, những pháp môn tiếp dẫn dùng cho ngườikém khí lực. Đối với hạng thượng căn chỉ một thừa thôi – Phật thừa -trực tiếp đưa người vào cảnh giới Phật thừa là “bạch ngưu xa”. Bạchngưu xa, chính là cái tâm đại giác viên mãn của Phật Thiền Tông chủtrượng trực tiếp thành Phật là vậy.

Tuy nhiên, lý thuyết là lýthuyết, loại tranh vẽ trâu trắng vẫn hiếm hoi, ít được thưởng thức bằngloại tranh vẽ trâu đen, rắn rỏi, mộc mạc, gần cuộc sống hơn.

Dầu trắng hay đen, con trâu Thiền đều giữ nguyên vẹn một màu lôngqua các giai đoạn biến chuyển. Đó là phép tu ĐỐN. Đốn giáo dạy rằngngười ta thành Phật là thành ở nội tâm, “tự nhiên” mà thành,không phải thành lần hồi, theo cấp bực; xưa nay chưa hề có Phật cấp bựcbao giờ nên người ta hoặc là Phật, hoặc không là Phật, chớ không thểsuýt thành Phật, Phật chút chút, lai rai được.

Còn về thứ lời thì tranh Thiền Tông nào cũng mở đầu bằng bức họa tầm ngưu vẽ một chú mục đồng đi tìm trâu (trâu không có trong hình) là khép lại bằng bức họa nhập triền thùy thủ (buông tay vào chợ) vẽ một nhà sư trộn lẫn cùng thế tục.

Riêng về cái vòng tròn Viên Giác nằm ở bức họa thứ 10 của Đại Thừa, qua bên thiền Tông lại thụt lùi về hàng thứ 8, mà đề là “nhân ngưu câu vong”, nghĩa là trâu và người đều quên.

Về cách đặt tên, tranh Thiền tông có tên là: Tầm ngưu: tìm trâu;Kiến tích: thấy dấu; Kiến ngưu: thấy trâu; Đắc ngưu: được trâu; Mụcngưu: chăn trâu; Ky ngưu quy gia: cưỡi trâu về nhà; Vong ngưu tồn nhân:quên trâu còn người; Nhân ngưu câu vong: người trâu đều quên (vẽ vòngtròn); Phản bổn hoàn nguyên: trở về nguồn cội; Nhập triền thùy thủ:thõng tay vào chợ.

Cũng như ở hầu hết các pháp môn khác, vấn đề đặt ra cho Thiên vẫn là sự “hàng phục kỳ tâm”. Tâm của Đại Thừa là ngã tướng. Đến Thiền thì cái ngã được thâu hẹp thành cái niệm. “Tôi tư duy, tức có tôi”.Niệm là ý nghĩ, tư duy, là intellect, được coi là phần tử cốt cán củacái “tôi”. Nên Thiền dạy vô niệm, dạy cắt đứt suy tư, bất cứ suy tư gì.Vô niệm: niệm tức chánh. Hữu niệm: niệm thành tà. (Pháp hữu đàn kinh)

Do đó Thiền kỵ lý luận, không giảng dạy, thường chỉ ngậm miệng quênlời, thảng có nói thì thường chỉ nói bằng lối phi lý luận. Trong quátrình phân phái của đạo Phật, Thiền quả là nhát búa cuối cùng của ĐạiThừa đập vào óc thông minh mà loài người chúng ta hằng tự phụ.

Trong hệ thống các pháp môn, Thiền là đốn giáo, chủ trương thấy đượctánh là tức khắc thành Phật, tại đây và ngay ở phút giây này. Tuynhiên, pháp môn nào cũng có tu và có chứng. Chứng là một biến cố độtngột, ngoài thời gian. Đó là một sự thật quá ư thật, như tiểu sử nhiềuthiền tổ đã chứng rõ. Tuy nhiên, cũng cần những tiểu sử ấy còn cho tathấy trước khi được đốn ngộ, hầu hết các tổ, và trước hết là Phật Tổ,đều trải qua nhiều đoạn đường dọ dẫm rất gay go. Như vậy là sự tu tậpvẫn phải đặt trong chiều thời gian mà đi đến lần hồi vậy, hay nói mộtcách khác: tu thì tiệm mà chứng thì đốn.

THẬP MỤC NGƯU ĐỒ của Thiền tông cũng ghi lại bước tiến từng bực ấytrong thời gian và không gian. Chúng tôi xin trình bày bước tiến ấytheo ba đoạn đường: sai tâm bắt tâm – tâm vô tâm – bình thường tâm.

1. SAI TÂM BẮT TÂM:

Chú mục đồng đi tìm trâu (tranh 1). Tìm ở đâu ? Đâu cũng là hoangvu, là rừng rậm, là nẻo dọc đường ngang, chỉ có tiếng ve kêu rộn rã đầucành. Rồi chú thấy dấu chân trâu (tranh 2), thấy thân trâu (tranh 3).Thì ra trâu có trốn đâu, tại chú không thấy đó thôi. Trâu vẫn đứng đómột mình, tự thuở nào, đôi sừng lẫm liệt, mũi đụng mây xanh. Rồi chúchụp lấy trâu (tranh 4), rồi xỏ mũi, cột cổ, đập đánh, canh chừng khôngrời mắt, quyết dũng mãnh để mà chiến thắng. Lần lần trâu thuần tánhngoan ngoãn theo chú như bóng theo hình (tranh 5). Rồi chú cưỡi trâu vềnhà, miệng thổi sáo, hát líu lo, lòng vui không nói được (tranh 6: kỵngưu quy gia).

Cưỡi trâu về nhà là cưỡi tâm về chỗ ban sơ. Người ta đi tìm tâm vìtrong đôi giây phút khác thường nào đó, người ta đâm ngờ bản thân mình,cũng như ngờ những điều mắt thấy tai nghe. Có nghi mới có tìm. Có tìmắt gặp dấu. Gặp dấu trong kinh sách, và nhất là trong những phút trốngtrải, cảnh vắng, đêm tàn, tri óc nhẹ suy tư, con người bỗng dưng nhưđối diện với chính mình trong một niềm đau thương và kỳ thú khó nói.Thế là bắt được dấu, con người phăng mối đi tình tâm.

Đó là giai đoạn cầu. Ngoại cầu là “khiến Phật đi tìm Phật, tâm đibắt tâm” (Hy Vận). Tâm ở đâu mà bắt ? Thử coi: lần lượt qua sáu bứchọa, ta thấy khoảng cách giữa trâu và người chăn trâu cứ thâu ngắn lạimãi cho đến rốt cuộc người chăn trâu ngồi hẳn trên lưng trâu, trâu vớingười nhập làm một. Vậy nên hỏi rằng tâm ở đâu chẳng khác nào hỏi trâuở đâu trong khi chính ta đang cưỡi trên lưng trâu. Ta đã đuổi bắt tâmkhắp đó đây, rốt cuộc mới nhật ra rằng târn ở nơi ta; ta chỉ cần dừngbước lại là nó hiện liền trước mắt, và sự vật hiện nguyên hình trongánh sáng mới lạ.

Dừng bước lại: ai ngờ đâu cái việc làm hết sức là vô vi ấy lại cómột thần lực nhiệm màu có thể thay đổi cả cục diện của một kiếp người,cả một lớp người. Nếu thỉnh thoảng loài người chúng ta biết dừng chânlại vài phút, ngồi im một chỗ vài phút – vài phút thôi – thì khuôn mặtcủa thế gian này chắc không đến đỗi quá nhăn nhíu như ngày nay.

2. TÂM VÔ TÂM

Tuy nhiên, còn tâm là còn cảnh. Còn cảnh thì còn “xúc cảnh sinh tình”. “Tình sinh thì trí cách”. Tâm, cảnh, tình kết dính vào nhau trong cái thế liên hoàn, cái vòng nhân duyên gây day dứt, mâu thuẫn.

Đạo không mâu thuẫn. Thiền là “bất nhị pháp môn”, không hai mà cũng không một Mâu thuẫn là do tâm, do niệm.

Ta niệm vì ta tưởng rằng mình thiếu một cái gì, nên đi tìm ở ngoàimình để đắp vào. Thiền dạy rằng ta không thiếu gì hết tự đời thuở nàota vốn là tròn đầy, ngàn trước, ngàn sau. Ta không thiếu. Trái lại tacó dư: cái hại là ở đó. Ta dư đủ thứ do niệm bày ra, do suy tư vẽ vờithêm, đủ thứ. Những cái dư ấy, gọi chúng là vô minh. Vô minh vốn khôngthật, nên không ai hoài công mà trừ nó bao giờ, mà chỉ cần tự tri tựgiác thôi. Tự biết được “con người thật”của mình thì vô minh tan mất,như bóng tối tan trước vừng dương. Phật dạy trong kinh Viên Giác: “Tri huyễn tức ly ,ly huyễn tức giác”, là vậy.

Cũng vậy, khi sư Huệ Khả ra mắt Tổ Đạt Ma xin pháp an tâm. Tổ dạy:Ngươi đem “tâm” lại đây ta “an” cho. Sư luýnh quýnh hồi lâu, sau đànhthú thiệt: Con tìm mãi mà không thấy được tâm. Tổ dạy: Thầy đ㠓an” rồicái “tâm” của con đó. Như vậy, cái việc mà ta quen gọi là phá vọngkhông còn là một việc làm nữa – nếu không nói là một việc làm VÔ VI -mà xét cùng ra chỉ là một sự nhận thức thôi, một prise de conscience -nhận thức tánh Phật bản lai ở trong ta.

Vậy sau giai đoạn ngoại cầu, tiếp theo là giai đoạn tự tri giác. Tựtri không phải bằng suy niệm mà bằng dứt niệm; dứt niệm bằng những phéptu tập rất vô vi, như tịnh quán chẳng hạn. Bằng tịnh quán, con ngườithấy, – xin nói rõ là thấy, là kiến, là tri kiến, chớ không phải làhọc, là nghĩ, hay nghe nói. (Tất cả bí quyết của sự chứng ngộ đều nằm ở chữ thấy đó) – Thấy tâm không thật, thấy người không thật.

Thấy tâm không thật thì tâm dứt: trâu quên (tranh 7: vong ngưu tồnnhân). Thấy người không thật thì người quên nốt (tranh 8: nhân ngưu cứuvong). Người và trâu đều quên, thì tự lòng đất dũng mãnh vọt lên mặttrời huệ: tượng trưng bằng cái vòng tròn Viên Giác (tranh 8). Đó là Tâmvô Tâm. “Biết cái tâm là không tâm, ấy là hiểu suốt đạo Phật”.

Sau đây, chúng tôi xin mượn lời giáo sư Thiền học Suzuki đóng lại đoạn này : “Đứngvề mặt tâm lý, giác là vuợt ra ngoài vòng ràng buộc của bản ngã. Về mặtlý luận, giác là viên dung có và không” “Về mặt siêu hình, giác là trựcngộ được cái lẽ tự tại là luân hồi, luân hồi là tự tại” .

3. BÌNH THƯỜNG TÂM

Thiền cho rằng vô tâm chưa phải là đạo, mà còn phải qua một quan ảinữa: Mạc vị vô tâm vân thị đạo. Vô tâm do cách nhất trùng quan. (TrầnThái Tôn)

Thật vậy, trong đêm cuối cùng khi đức Phật ngồi ở cội bồ đề, Ngàilần lượt xuất và nhập ba từng cảnh giới tâm linh (dục giới, sắc giới,vô sắc giới) tức là ngài còn phải thức tỉnh dậy nữa, nhờ ánh sao mai,để mà trở về với ý thức bình thường. Từ trạng thái “nhân cảnh câu bất đoạt”, Ngài phải trở về trạng thái “nhân cảnh cân bất đoạt”[2]để trả lại tất cả cho cuộc sống thường nhiên. Trở về là trở về với trờiđất, với muôn sinh, với nguồn sống vô tận ở trong ta và ở ngoài ta, trởvề để như mọi người, “thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước”.

Trở về với trời đất – Trở về với trời đất với Pháp giới: đó là ý nghĩa của bức họa số 9, đề “Phản bản hoàn nguyên”,và vẽ cảnh lá rụng về cội, nước chảy về nguồn. Từ thuở nào, con ngườivốn là thanh tịnh, vốn là không, nên Thiền khỏi phải làm gì hết, chỉcần thấy tánh là được trở về để mà nhập cuộc. Nhập cuộc là nhập vào cáitrật tự tự nhiên không thỉ không chung của trời đất.

Trong trật tự ấy, chúng sanh là một pháp vô tâm nên vô sự. Viên sỏibên đường là một pháp vô sự nên vô vi. Muôn pháp đều vô vi mà bình đẳngnhau trong Pháp giới vô ngại: nước chảy, hoa trôi, trăng lên, gió mát.Muôn vật đều vô ngại nên tự tại, không phải tự tại ở Niết Bàn, khôngphải tự tại trong phiền não mà tự tại trong KHÔNG: Niết Bàn và phiềnnão chỉ là trò ảo thuật của tâm. Trong trạng thái KHÔNG ấy, những danhtừ thánh phàm phải trái, tỉnh mê, đều mất nghĩa: tất cả đều là đạiđồng, ứng hóa từ một giác tánh, nên nhứt thiết không Niết Bàn. Không cóNiết Bàn Phật. Không có Phật Niết Bàn (Lăng già). Tất cả cả là một. Mộtlà tất cả. Một hột bụi chứa đủ ba ngàn thế giới. Ba ngàn thế giới làmột hột bụi: đều là KHÔNG.

Trở về với thế tục là trở về với cái tâm bình thường. Thiền dạy: “Bình thường tâm thị đạo”.Quốc sư Phù Vân đời nhà Trần nói : “Lấy cái muốn của thiên hạ làm cáimuốn của mình. “Lấy cái tâm của thiên hạ làm cái tâm của mình. Cái muốnấy chính là cái muốn mà đức Khổng Tử phải chờ đến bảy mươi tuổi mới dámmuốn, sau khi chứng lý vô ng㔠: “Thất thập tòng tâm chi sở dục”. Chứngđược đạo lý ấy thì là gì cũng hiệp đạo, “không theo không lìa, khôngdừng không dính, tung hoành tự tại, đâu cũng là đạo tràng” pháp nàocũng là Phật pháp, đi đứng nằm ngồi cũng là Phật pháp, chém rắn giếtmèo cũng là Phật pháp, đói ăn khát uống cũng là Phật pháp.

Cho nên Tổ Tuệ Trung Trần Tung mới ung dung ngồi ăn thịt cá và nói:“Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm ra Phật, cũng như Phậtchẳng cần làm ra anh. Hoàng hậu chẳng nghe Cổ Đức nói: “Văn Thù là VănThù, mà giải thoát là giải thoát” đó ư?” Cho nên vị sư trong THẬP MỤCNGƯU ĐỒ thõng tay đi vào chợ, tay ôm bầu nước, tay chống gậy tre, đánhbạn với bợm nhậu và phường thọc huyết heo – “tụi nó và thầy đều là Phật cả mà” (tranh 10). Đó là vô trụ Niết Bàn.

Tóm lại, để gom hết yếu lý chung của mười bức tranh chăn trâu, chúng tôi xin chép lại bài kệ sau đây thay lời kết luận : Tầm ngưu tu phóng tích. Học đạo quý vô tâm. Tích tại, ngưu hoàn tại. Vô tâm đạo dị tầm .

Nghĩa: Tìm trâu cần phăng dấu. Học đạo cốt vô tâm .Dấu đâu thì trâu đó. Vô tâm đạo dễ tầm.