Ly hôn: Quan điểm, vấn đề và phương pháp nghiên cứu

0
151
Đề cập đến ly hôn, một nhà nghiên cứu viết rằng “Ly hôn là cuộc khủng hoảng của sự biến đổi gia đình gây ra những thay đổi bên trong hệ thống gia đình”. Khủng hoảng trong đời sống gia đình không giống như những khủng hoảng khác, ly hôn không diễn ra đột ngột, mà nó thường bắt đầu bằng một thời kỳ trong đó sự xung đột, bất hoà giữa vợ chồng tăng lên và giảm đi sự thoả mãn, hài lòng về hôn nhân của các bên. Nghiên cứu gia đình, không thể thiếu vắng việc tìm hiểu hiện tượng ly hôn, một trong những yếu tố dẫn đến kết thúc đời sống hôn nhân.

1. Ly hôn: thất bại trong đời sống hôn nhân?

Nói đến đời sống gia đình của các cặp vợ chồng, Ann Landers, một quan sát viên xã hội nổi tiếng ở Mỹ, gần đây đã bình luận rằng “Cứ 20 cuộc hôn nhân, thì có 1 là tuyệt vời, 4 ở mức tốt, 10 ở mức có thể chấp nhận và 5 trong cảnh địa ngục trần gian”. Câu bình luận này cho chúng ta hình dung đến một số cặp vợ chồng không thể chịu đựng nhau hơn nữa, họ tìm đến giải pháp “Anh đi đường anh, tôi đường tôi. Tình nghĩa đôi ta có thế thôi”. Vì nhiều lý do, có quan niệm chia hôn nhân thành hạnh phúc và không hạnh phúc; thành công hoặc thất bại. Không ít người khi nhìn nhận ly hôn với những hậu quả của nó đã đồng nhất với sự thất bại trong hôn nhân.

Trước hiện tượng ly hôn, dư luận xã hội cũng có hai quan điểm trái ngược. Một là, ủng hộ việc hai người chia tay vì “tình cảm vợ chồng không còn nữa thì giải thoát cho nhau” để đem lại tự do cho cá nhân cảm thấy không hạnh phúc trong cuộc hôn nhân của mình. Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng, ly hôn là thước đo của bình đẳng giới (!).

Hai là, không ủng hộ ly hôn, vì như vậy nó sẽ góp phần làm suy yếu gia đình – tế bào của xã hội – đồng thời nó đem lại những hệ quả khôn lường hết đối với các thành viên trong gia đình, đặc biệt là với trẻ em. Đó là chưa kể đến một số người lợi dụng sự dễ dàng trong kết hôn và ly hôn để đạt được những mục tiêu thực dụng với động cơ không trong sáng.

Bất kể quan điểm ủng hộ hay phản đối, ly hôn như một hiện tượng xã hội vẫn cứ diễn ra với mức độ khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh văn hóa, phong tục tập quán, sự phát triển kinh tế – xã hội của các vùng, miền và các quốc gia.

2. Ly hôn: Thực trạng, nguyên nhân và hậu quả

2.1. Thực trạng ly hôn

Trong xã hội hiện đại, ly hôn không còn là chuyện hiếm như ở xã hội truyền thống. Tuy nhiên, ly hôn còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, các chuẩn mực giá trị xã hội và tôn giáo và sự phát triển của cá nhân. Điều này lý giải vì sao lại có sự khác nhau giữa các quốc gia hoặc khu vực về tỷ lệ ly hôn. Nước Mỹ được xem là có tỷ lệ ly hôn vào loại cao nhất, bình quân mỗi năm có khoảng 1,2 triệu cặp ly hôn. Vào năm 1985, tỷ lệ ly hôn ở Mỹ là 22/1000 cặp kết hôn. Năm 1978 ở Canada tỷ lệ này là 1/100 phụ nữ kết hôn. Một nghiên cứu khác đưa ra dự báo, ở Bắc Mỹ và phần lớn các nước Tây Âu, có từ 40% đến 50% các cuộc hôn nhân lần đầu trong những năm 1990 kết thúc với việc ly hôn (C.L. Jones và cộng sự; 2002:196).

Ở nước ta, khi đề cập đến ly hôn, các bài viết thường dẫn số liệu thống kê do Toà án cung cấp. Còn chúng tôi xin giới thiệu những dữ liệu về ly hôn qua các khảo sát ở quy mô quốc gia. Ví dụ:

– Điều tra Mức sống dân cư Việt Nam 1997 – 1998 cho thấy thực trạng ly hôn như sau:

Bảng 1: Ly hôn của dân số từ 12 tuổi trở lên theo khu vực, giới và nhóm tuổi

 

Phân chia theo nhóm %
Chung 0,81
Khu vực:
Thành thị
Nông thôn
1,32
0,64
Giới:
Nam
Nữ
0,32
1,35
Nhóm tuổi:
20 – 24
25 – 29
30 – 34
35 – 39
40 – 44
45 – 49
50 – 54
55 – 59
0,57
1,02
1,16
1,51
1,51
1,64
1,02
1,54
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2000, bảng 1.2, tr. 25

Bảng trên cho thấy, tỷ lệ ly hôn ở đô thị gấp 2 lần nông thôn, phụ nữ có tỷ lệ ly hôn cao gấp 4 lần nam giới. Về độ tuổi ly hôn, nhóm 45 – 49 có tỷ lệ cao nhất (1,64%) tiếp đó là nhóm tuổi 55 – 59 (1,54%). Kết quả Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 cũng cho thấy sự tương đồng về tỷ lệ ly hôn theo nhóm tuổi “Tình trạng ly hôn, ly thân tăng theo nhóm tuổi: nhóm từ 20 – 29 tuổi có tỷ lệ này là 1%, nhóm 30 – 39 tuổi là 2%, nhóm 40 – 59 tuổi là 3 – 4%”(Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch và các tổ chức khác, 2008:47).

Nếu xét theo tiêu chí chủ hộ, thì chủ hộ nữ có tỷ lệ ly hôn cao hơn chủ hộ nam giới gần 30 lần (3,63% và 0,13%). Đáng chú ý là, nhóm giàu nhất có tỷ lệ ly hôn cao gấp gần 2 lần nhóm nghèo nhất (1,62% và 0,85%), số liệu này không ủng hộ nhận định của Kết quả Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006: “Mức độ hài lòng về cuộc hôn nhân hiện tại tăng theo nhóm thu nhập” (Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch và các tổ chức khác, 2008:81).

– Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999 cho thấy, nhóm dân số từ 15 tuổi trở lên ly hôn có 0,4% (nhóm nam giới) và 1,1% (nhóm nữ). Theo khu vực cư trú, ở đô thị có tỷ lệ ly hôn cao hơn 2 lần so với nông thôn: 1,2% và 0,6%. Có sự khác biệt giới trong ly hôn theo khu vực: ở đô thị, tỷ lệ ly hôn của nữ cao hơn 2,5 lần so với nam giới (1,7% và 0,7%) trong khi ở nông thôn tỷ lệ nữ ly hôn cao gấp 3 lần nam giới (0,9% và 0,3%).

Bảng 2: Ly hôn ở Việt Nam giai đoạn 2000 đến 2005
 

Ly hôn                                        2000 2001 2002 2003 2004 2004
Tổng số vụ 51.361 54.226 56.487 58.708 65.336 65.929
Dân số (1000 người) 77.635 78.686 79.727 80.902 82.032 83.106
Tỉ lệ ly hôn trên 1000 dân 0.66 0.68 0.73 0.72 0.79 0.79

(Nguồn: Tác giả xử lý từ Số liệu thống kê của Toà án nhân dân Tối cao, 2005 và Báo cáo Phát triển Việt Nam 2008)

Do hạn chế về số liệu thống kê hàng năm theo các tiêu chí (số lượng phụ nữ kết hôn từ 15 tuổi; số dân theo giới tính và tuổi từ 18 trở lên) nên chúng tôi không thể đưa ra các tỷ lệ ly hôn theo các tiêu chí tương ứng. Tuy nhiên, nếu tính tỷ lệ ly hôn trên 1000 người trong tổng dân số cả nước, thì chúng ta có thể thấy không phải cứ tăng lên về số vụ ly hôn là có tỷ lệ ly hôn năm sau cao hơn năm trước. Ví dụ, năm 2002 có tỷ lệ ly hôn là 0.73%o cao hơn năm 2003 là 0.1%o cho dù về số vụ ly hôn năm 2003 nhiều hơn năm 2003 là 2.221 vụ. Tương tự, năm 2005 có số vụ ly hôn nhiều hơn năm 2004 là 593 vụ nhưng tỷ lệ ly hôn ngang bằng nhau (0.79%o).

2.2. Về những nguyên nhân dẫn đến ly hôn

Kết quả Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 cho thấy có 3 nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ly hôn là mâu thuẫn về lối sống (27,7%); ngoại tình (25,9%) và nguyên nhân kinh tế (13%). Chúng tôi thấy cần bổ sung thêm một số nguyên nhân khác, đó là:

Thứ nhất, sự chấp nhận của xã hội về ly hôn như một chuyện bình thường, dư luận xã hội không còn khe khắt trong việc đánh giá về đạo đức với những người phụ nữ theo kiểu “Gái bị chồng bỏ, không chứng nọ cũng tật kia”.

Thứ hai, luật pháp tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc ly hôn.

Thứ ba, phụ nữ ngày càng độc lập hơn về kinh tế. Họ không còn phải phụ thuộc vào chồng như trước đây nếu ly hôn thì không biết sống thế nào (ở đâu, sống bằng gì v.v…), nên nhiều phụ nữ chủ động làm đơn ly hôn khi thấy cuộc sống “gia đình trở thành địa ngục”.

Thứ tư, tiến trình bình đẳng giới ở nước ta đã đạt được những thành tích rất ấn tượng, “Việt Nam là điểm sáng về bình đẳng giới” như đánh giá của các tổ chức quốc tế. Điều này đồng nghĩa với sự nâng cao nhận thức của phụ nữ về các quyền của họ trong đời sống gia đình và xã hội, và phụ nữ có quyền quyết định ly hôn khi họ thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Điều tra gia đình Việt Nam cho thấy, số lượng phụ nữ chủ động đứng đơn ly hôn nhiều gấp hai lần nam giới (47% và 28,1%) (Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch và các tổ chức khác; 2008: 47).

Nghiên cứu của các nhà xã hội gia đình ở các quốc gia trên thế giới cho chúng ta hiểu thêm những nguyên nhân khác dẫn đến ly hôn, bao gồm:

Một là, sống chung trước hôn nhân thường có tỷ lệ ly hôn cao hơn những người không sống chung trước khi kết hôn. Như ở Thuỵ Điển, phụ nữ sống chung như vợ chồng trước hôn nhân có tỷ lệ hôn nhân tan vỡ gần 80%, và thời gian sống chung như vợ chồng càng dài thì tỷ lệ tan vỡ sau hôn nhân cao hơn những cặp có thời gian sống chung ngắn.

Hai là, các đôi lứa có con, nếu gia đình chỉ có một con gái thường có tỷ lệ ly hôn cao hơn (điều này cũng tương tự như ở Việt Nam nếu sinh con một bề là gái thì sẽ là yếu tố đe doạ hạnh phúc với một số gia đình do tư tưởng trọng nam khinh nữ).

Ba là, những người có học vấn cao ít ly hôn hơn so với những người có học vấn bình thường. Có thể những người có học vấn cao thường kết hôn muộn hơn (do phải đầu tư thời gian vào chuyện học hành), có lý trí hơn nên tránh được những sai lầm trong hôn nhân.

Bốn là, sự tham gia vào lực lượng lao động được trả lương của các bà vợ sau khi kết hôn làm tăng thêm nguy cơ ly hôn.

2.3. Hậu quả của việc ly hôn

Các nhà xã hội học có sự nhất trí cao về những ảnh hưởng của ly hôn đối với vợ chồng, con cái. Những ảnh hưởng này bao gồm: các nguy cơ chán chường, tuyệt vọng, dễ mắc bệnh trầm cảm, tuổi thọ giảm. Có sự khác biệt về giới trong những ảnh hưởng của ly hôn về các phương diện xã hội, tâm lý và kinh tế.

Người ly hôn thường cảm thấy bản thân mình thất bại, cảm thấy cô đơn,
cần phải tổ chức lại đời sống tình cảm và điều chỉnh mối quan hệ với các thành viên trong gia đình. Nhìn từ quan điểm giới, phụ nữ ly hôn thường chịu thiệt thòi nhiều hơn nam giới. Có thể thấy trước hết là khó khăn về tài chính, trong nghiên cứu gần đây của Lenore Weitzman với khảo sát 114 nam giới và 114 phụ nữ đã ly hôn cho thấy trong năm sau khi ly hôn, mức sống của phụ nữ giảm đến 73% trong khi mức sống nam giới tăng 42% (J. Macionis; 2004:473). Đề cập đến hiện tượng “nghèo hoá phụ nữ ly hôn” này, một nhà nghiên cứu viết “Ly hôn là kẻ đóng góp chính cho sự gia tăng con số phụ nữ nghèo đói”. Thêm nữa, đa số cặp vợ chồng ly hôn nếu có con thì người phụ nữ thường đảm nhận việc nuôi con, thiên chức này của người mẹ tạo thêm cho người phụ nữ không chỉ là nỗi vất vả trong việc chăm sóc, nuôi dạy con mà đứa con còn là “barie” đối với những phụ nữ muốn đi bước nữa (bản thân người mẹ cũng băn khoăn, và nam giới đến với họ cũng ngại khi phải nuôi con của người đàn ông khác). Về tương lai của hôn nhân, với những phụ nữ đã ly hôn thường ít có khả năng tái hôn hơn so với nam giới đã ly hôn.

Về xã hội, ly hôn đem lại những tổn thất khó lường. Trước hết đó là sự gia tăng những gia đình phụ nữ nuôi con một mình, điều này đồng nghĩa với việc chi phí phúc lợi xã hội cho những gia đình này tăng lên do đa số phụ nữ ly hôn nuôi con đều gặp khó khăn về kinh tế. Mặt khác, trong xã hội hiện đại tỷ lệ ly hôn cao khiến cho một bộ phận nam, nữ thanh niên có tâm lý né tránh, sợ kết hôn hoặc muốn làm mẹ nhưng không muốn làm vợ. Dù chọn phương án nào, thì những người này cũng vẫn có đời sống tình dục, và nguy cơ về sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục rất có thể xảy ra nếu thiếu kiến thức về tình dục an toàn.

Nhưng có lẽ người chịu thiệt thòi nhất vẫn là trẻ em trong gia đình mà cha mẹ chia tay nhau. Con cái của họ thường phải chứng kiến cảnh cha mẹ đánh, chửi nhau và sống trong bầu không khí gia đình nặng nề, thiếu hơi ấm của tình thương. Sau khi ly hôn, dù con cái sống với mẹ hay cha, thì cũng thiếu vắng sự quan tâm chăm sóc của người cha hoặc mẹ, đây là điểm bất lợi trong quá trình xã hội hoá con cái, nhất là khi con còn nhỏ. Nếu người mẹ/cha tái hôn, cảnh sống chung với cha dượng hay mẹ kế trong gia đình phức hợp không chỉ dẫn đến cảnh “con anh, con em đánh con chúng ta” mà còn có thể gặp những thiệt thòi khác trong quan hệ với cha dượng, mẹ kế. Nghiên cứu cho thấy, so với trẻ em sống trong gia đình nguyên vẹn, thì trẻ em trong gia đình ly hôn thường: ít cố gắng trong học tập, phụ thuộc nhiều vào phúc lợi xã hội. Với các em gái có cha mẹ ly hôn, thì có khả năng sinh con một mình, khi kết hôn có khả năng ly hôn cao. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên phạm pháp về hoàn cảnh gia đình có cha mẹ ly hôn. Các nhà tâm lý học khi nghiên cứu ảnh hưởng của những thay đổi quan trọng trong cuộc sống gây hậu quả cho sức khoẻ tâm thần và thể chất đã sử dụng thang đo tái thích nghi xã hội. Vận dụng thang đo stress trong sinh viên, cho thấy trong những sự kiện tạo nên stress mạnh đối với cá nhân thì ly hôn giữa cha mẹ đứng thứ ba (với 65 đơn vị thay đổi cuộc sống), sau các sự kiện cái chết của một người thân trong gia đình (100 đơn vị thay đổi cuộc sống), và cái chết của một người bạn thân (73 đơn vị thay đổi cuộc sống) (Holmes & Rahe, 1967; dẫn theo Đặng Phương Kiệt, 2000: 615).

Kết luận

Kết hôn và ly hôn là hai mặt của một hiện tượng trong đời sống gia đình. Cho dù có thể một số trường hợp ly hôn là sự “giải thoát” cho họ khỏi sự tù túng trong đời sống hôn nhân, thì hệ quả của ly hôn vẫn luôn là gánh nặng với cá nhân và xã hội. Ly hôn không chỉ là “được” (với người vợ hoặc chồng) mà còn có những “mất mát”, đó là “sự trả giᔠcủa ly hôn. Đề cập đến vấn đề này, Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam 2005 – 2010 đã nhận định: “Tình trạng ly hôn, ly thân, chung sống không kết hôn, bạo lực trong gia đình, quan hệ tình dục và nạo phá thai trước hôn nhân gia tăng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt đối với gia đình và xã hội”.

Trong những nội dung nghiên cứu về gia đình, ly hôn là một khía cạnh không thể thiếu vắng. Ly hôn là một quá trình gắn liền với nhiều vấn đề, những chịu đựng và những căng thẳng, những tác động tiêu cực đối với trẻ em, sự thiệt hại về kinh tế, nhất là đối với phụ nữ. Vì vậy, việc trang bị kiến thức về hôn nhân, về đời sống gia đình và trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha mẹ cho nam nữ thanh niên bước vào độ tuổi kết hôn là hết sức cần thiết. Có kiến thức, họ sẽ có trách nhiệm hơn với gia đình khi bước vào đời sống hôn nhân, và cùng nhau xây dựng gia đình ấm êm, bền vững và hạnh phúc.

Nghiên cứu ly hôn, nên có sự cẩn trọng khi kết luận sự tăng hay giảm của hiện tượng “hợp, tan” này trong hôn nhân. Cần sử dụng các phương pháp tính toán và so sánh một cách khoa học trước khi có thể đi đến kết luận. Điều này không chỉ cần thiết với các nhà nghiên cứu, mà cả với các bài viết trên phương tiện truyền thông đại chúng, các nhà báo khi viết về các vấn đề kết hôn, ly hôn cũng cần được trang bị kiến thức chuyên môn về lĩnh vực này.

Hoàng Bá Thịnh
Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du Lịch – Tổng cục Thống kê – Viện Gia đình và Giới – UNICEF (2008): Kết quả điều tra Gia đình Việt Nam, Hà Nội 6/2008.
2. Báo cáo Phát triển Việt Nam 2008: Bảo trợ xã hội; Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, Hà Nội, 6 – 7/12/2007.
3. Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam 2005 – 2010.
4. Hồ Ngọc Đại (1991). Chuyện ấy…; NXB Hà Nội.
5. Đặng Phương Kiệt (chủ biên, 2000). Tâm lý & Sức khoẻ. NXB Văn hoá – Thông tin, Hà Nội.
6. Tổng cục Thống kê (2000): Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997 – 1998, NXB Thống kê, Hà Nội.
7. Tổng cục Thống kê (2007). Điều tra biến động dân số, nguồn lao động và KHHGĐ 1/4/2006 – Những kết quả chủ yếu; NXB Thống kê, Hà Nội.
8. Jhon J. Macionis (2004). Xã hội học. NXB Thống kê, Hà Nội.
9. Richard T.Schaefer (2005). Xã hội học. NXB Thống kê, Hà Nội.
10. Charles L.Jones, L. Tepperman, Susannah J. Wilson (2001). Tương lai của gia đình. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
11. S. Worchel -W. Shebilsue (2007). Tâm lý học (Nguyên lý và ứng dụng). NXB Lao động – Xã hội; Hà Nội.
12. Hoàng Bá Thịnh (2008). Thị trường hôn nhân – Một vài cách tiếp cận. Tạp chí Xã hội học, số 2/2008.
13. Hoàng Bá Thịnh (2007). Nhân vụ ly hôn nghìn tỷ, nghĩ về thị trường hôn nhân ở Việt Nam. Tuổi trẻ cuối tuần, số 12, ngày 1/4/2007.
14. Lê Thi (1997). Vấn đề ly hôn, nguyên nhân và xu hướng vận động. Tạp chí Xã hội học, số 1/1997.
15. Nguyễn Thị Hồng Nga (1995). Quan hệ bố mẹ và trẻ có khó khăn trong học tập. Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 11.
16. Lan Anh (2008). Kết hôn muộn, ly hôn tăng. Báo Tuổi trẻ ngày 27/6/2008.
17. Nguyễn Thiện (2008). 8X ly hôn. Phunuonline, Thứ Bảy, 31/05/2008, 16:01.
18. J. Ross Eshleman (1981): The Family: An Introduction. 3rd edition; Allyn and Bacon, Inc.
19. Robert H. Lauer – Jeanette C. Lauer (2002). Social Problems & the Quality of Life. 8th edition; McGraw Hill.

(Bài đăng trên Tạp chí Tâm lý học số 1 (118), 1 – 2009)

(nguồn: Viện TLH)