Lịch sử Non Đông Cổ tự – Đót Sơn tự

0
177

GIỚI THIỆU

 

            XãCấp Tiến Huyện Tiên Lãng, Hải Phòng nay, xã Kinh Lương, Huyện Tân Minh, Phủ NamSách xứ Hải Dương xưa) có một ngôi Chùa được coi là ngôi chùa tối cổ, Cổ tự NonĐông – Chùa Đót Sơn nay, nơi được coi là Hồnthiêng Sông núi, là nơi tu hành của Thánh tổ HuyềnQuang (Thích Quảng Đông). Ngôi chùa này hoàn toàn biến mất trên bản đồPhật Giáo Việt Namdo sự biến thiên của lịch sử và cuộc kháng chiến chống Pháp trong những năm1950.

 

GIÁ TRỊ LỊCHSỬ VÀ TÂM LINH CỦA CHÙA NON ĐÔNG – ĐÓT SƠN

Theo những nghiên cứu mới nhất, Phật giáođược truyền bá vào Việt Nam bằng đường biển và địa danh mà nhiều nhà nghiên cứuPhật giáo Việt Nam ghi nhận là nơi bắt đầu của Phật giáo đó là khu vực ven biểntrước khi được thiết lập tại Luy Lâu, Bắc Ninh. Hai địa danh Phật giáo quantrọng của khu vực ven biển vốn thuộc Châu Nam Sách xưa, nay thuộc Hải Phòng,được xác định là một trong những nơi bắt đầu của Phật giáo trên vùng Đồng BằngBắc Bộ là Chùa Hang Đồ Sơn và Chùa Non Đông xưa hay Chùa Đót Sơn tại xã CấpTiến, Huyện Tiên Lãng, Hải Phòng ngày nay.

Theo nhà sử học Ngô Đăng Lợi, Nguyên chủtịch Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng, Chùa Non Đông hay Chùa Đót Sơn là ngôichùa tối cổ của Việt Nam.Chùa nằm tại Phủ Tân Minh, Châu Nam Sách (Hải Dương) xưa nay là xã Cấp Tiến,Huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Văn bia của Chùa hiện còn được lưu giữ và được introng cuốn Văn Bia Tiên Lãng, ghinhận Chùa được xây dựng trong những năm 505-543vào thời kỳ nước ta chịu sự đô hộ của nhà Lương TrungQuốc.

Tương truyền, nhiều nhà sư Ấn Độ đến ViệtNam để truyền đạo bằng đường biển và cập bến ở Đồ Sơn. Sau khi làm lễ xong ởChùa Hang, Đồ Sơn, Các thiền sư Ấn Độ đi vào đường mòn, men theo đường biển đểđến Chùa Non Đông. Sau khi vào Tam Quan, các vị sư Ấn Độ làm lễ và đi qua haihành lang để sang dãy nhà ngang và tu tại Chùa. Phật giáo mà các nhà sư Ấn Độtruyền sang Việt Nam vàothời điểm bấy giờ là Pháp Môn Tịnh Độ Thiền tông, một giáo lý Phật giáo mà bấygiờ Việt Namchưa có.

Vào thời kỳ nhà Đinh, Phật giáo trở thànhquốc đạo và được triều đình công nhận. Hai anh em dòng họ nhà Đinh gồm Đinh Bộ Lan, em trai của Vua Đinh Tiên Hoàng và Đinh Bộ Đông (947-999) em họ của Vua đã tu tại ChùaNon Đông. Đinh Bộ Đông lấy tên pháp Huyền Quang ThíchQuảng Đông và là vị sư trụ trì chùa Non Đông trong khi Đinh Bộ Lan lấy tên pháp là Thích Quảng Bình. Hai vịđược coi là những vị tổ của trường phái Pháp môn Tịnh độ Thiền tông. Ngài Huyền Quang viên tịch vào ngày 24 tháng giêng năm Kỷ Hợi999, thọ 51 tuổi. Tài liệu này có được từ Chùa Non Đông Đót Sơn TiênLãng.       

Việt Nam Phật Giáo sử lược có đoạn viết”đến thời Đinh Tiên Hoàng, khi Tiên Hoàng Đế định giai cấp văn võ, thìngài triệu tất cả Tăng sĩ lỗi lạc vào hàng Thái miếu và dính phẩm trật cho cácTăng-già. Ngài tặng chức Khuông Việt Thái sư cho Pháp sư Ngô Chân Lưu, Pháp sưTrương Ma Ni làm Tăng lục đạo sĩ và Pháp sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Chân uynghi. Tuy nhiên, Pháp sư Đặng Huyền Quang chính là Pháp sư Huyền Quang của ChùaNon Đông bấy giờ.

 

Chùa Non Đông được xây dựng với quy mô lớnvới tên gọi Non Đông Tự. Khuôn viên của Chùa rộng 8 mẫu trong đó có hai mẫuvườn, một mẫu ao và năm mẫu ruộng. Ngôi Chùa chính nằm ở Hướng Đông với 100gian và hoành phi câu đối có ghi dòng chữ NonĐông Tự. Xung quanh chùa chính có hành lang rộng 3 mét. Đằng sau, phía tâycó 100 pho tượng La Hán bằng đá. Hai dãy nhà ngang, một quay hướng Bắc và mộtquay hướng Namtheo kiều răng bừa, phía sau nhà chính mỗi dãy 50 gian. Xung quanh hay dãy nhàngang đều có hành lang rộng 3 mét. Chùa có một quả chuông nặng năm tấn.

Cổng Tam Quan ở Hướng Đông Nam, ngoài cổngbên phải có cây bàng, bên trái có bụi tre. Phía Tây có hai cột đá cao 7 mét.Phía Tây nam có bệ đá Tam cấp trên thờ tượng Phật bằng đá. Lối vào Hậu cung cóbốn bậc thềm và hai bên Hậu cung có năm ông Hộ pháp tượng bằng đá

Thời điểm bấy giờ, Phật giáo rất thịnhhành và Chùa Non Đông là ngôi chùa lớn nhất trên Vùng Đồng Bằng Bắc bộ vào thờiđiểm đó và được coi là Trung tâm của Phật giáo Pháp môn tịnh độ Thiền Tông.

Với sự hiện diện thường xuyên của các vịPháp sư Ấn Độ, vào mùa Kết Hạ, Chùa Non Đông đón 300 đến 400 vị Chư Tăng tạinhiều vùng trong cả nước. Cơm được nấu bằng niêu đất và thực phẩm đều tự cấy vàtrồng từ vườn của nhà Chùa.

Công đức của Ngài đệ tam Huyền Quang hiệncòn lưu lại qua bài thơ của Hòa Thượng Thích Quảng Bình, Đệ tử thầy Non Đông vàđược tìm thấy tại Chùa Non Đông – Chùa Đót Sơn:

Nam mô Đức TổHuyền Quang

Ngài đi soi xét mười Phương xa gần

Xem ai có đức có nhân

Xem ai chuyên cần lễ bái thành tâm

Xem ai tụng niệm Phật thầm

Xem ai già lão tín tâm lên chùa

Bầu trời cảnh Phật thanh đô

Có thuyền Bát Nhã có Hồ Trang xinh

Xem ai cứu được chúng sinh kẻ bần

Trẻ thì lắm lộc nhiều xuân

Già đi tụng niệm để thân nhờ trời

Đã đi làm phúc đừng cười

Của đi làm phúc muôn đời thọ khang

Đã đi làm vãi triền già

Nào ai sỉ báng thì ta được nhiều

Anh em phải có lòng yêu

Thì ta phải học cho nhiều văn kinh

Đến thời kỳ nhà Trần, vua Trần Thái Tôngđặt nền móng thống nhất các thiền phái hiện có như Pháp Môn tịnh độ Thiền tông,Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, tiến đến sát nhập và hình thành dòng thiền Trúc LâmYên Tử duy nhất đời Trần. Có thể nói chính xác và cụ thể, người có công đặt nềnmóng thiết lập cho thiền phái Trúc Lâm Yên Tử phát triển và truyền thừa từ môhình tổ chức đến nội dung hành trì, thể hiện bản sắc dân tộc là Trần Thái Tôngnhưng người khai sáng và làm rạng danh thiền phái là vua Trần Nhân Tông, là đệnhất Tổ.

Vị tổ thứ ba của Dòng thiền trúc Lâm Yêntử là Đệ tam Huyền Quang, (1254-1334). Người tên thật là Lý Đạo Tái, người làngVạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lang Giang (nay là huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Giang).Năm 19 tuổi, ông đỗ khoa tam giáo đời Trần, rồi làm quan trong triều đến năm 51tuổi. Tươngtruyền, ông chính là Tái thế của Đức tổ Huyền Quang của Chùa Non Đông sau 250năm. TuổiNgài bắt đầu xuất gia bằng đúng tuổi thọcủa Ngài khi Ngài ở Chùa Non Đông.

Năm 1330, sư Pháp Loađem y bát của Điều ngự giác hoàng (tức vua Trần Nhân Tông) truyền cho, giao lạicho Huyền Quang trước khi mất. Huyền Quang lên tu ở núi Yên Tử và là tổ thứ bacủa phái Trúc Lâm. Ngài viên tịch tại Yên Tử ngày 24 tháng giêng năm 1334.

Trong cuốn “Việt Nam Phật Giáo Sử luận”của tác giả Nguyễn Lang, phần ghi chép về thiền sư Huyền Quang vị tổ thứ ba củaGiáo hội Trúc Lâm, không mang tên tác giả và người hiệu khảo. Phần này mangnhan đề là Tổ Gia Thực Lục, theo lời dẫn in ở cuối thì vào khoảng nhữngnăm Tuyên Ðức nhà Minh (tức là vào cuối đời Hồ), một bản Tổ Gia ThựcLục đã được thượng thư Hoàng Phúc người Minhlượm lấy đem về Trung Hoa (hồi Minh thuộc, tướng Trương Phụ thu gom hết tất cảsách vở tại Ðại Việt chở về Kim Lăng, ít sách đã còn có thể giữ lại). HoàngPhúc thường nằm mộng thấy Huyền Quang bảo phải gửi phải trả tập sách này về ÐạiViệt, nhưng chưa có dịp làm như thế. Thấy Huyền Quang linh ứng, ông mới lậpchùa thờ, đặt tên chùa là “An Nam Thiền SưHuyền Quang Tự”. Ðến khoảng năm Gia Tĩnh nhà Minh, Tô Xuyên Hầu nhà Hậu Lêđi sứ sang Trung Hoa gặp được cháu bốn đời của Hoàng Phúc là Hoàng Thừa, mớinhận được tập sách mang về nước. (Tô Xuyên Hầu tức là Lê Quang Bí, làm quan đếnchức Binh bộ thị lang, đậu hoàng giáp năm 1526). Khi về nước ông đã đưa tậptruyện Huyền Quang cho ông Nguyễn Bỉnh Khiêm xem, từ đó sách lại được phổ biến.Lời dẫn nói rằng Hoàng Thừa, cháu của Hoàng Phúc, cũng nằm mộng thấy HuyềnQuang nhiều lần nhắn gửi tập sách về Ðại Việt, cho nên khi Tô Xuyên Hầu qua,ông ta đã tìm gặp để gửi sách.

XEM THÊM: Thiền sư Huyền Quang, tướng giặc thờ phụng

Đến năm 1491, dưới triều nhà Lê, trải quahàng trăm năm, Chùa Non Đông xuống cấp và được tu sửa lại. Vua Lê Thánh Tôngtrong lần vãn cảnh chùa, đã tức cảnh bài thơ

Đót Sơn tên gọi,

Sãi vãi dựng xây

Vẹn tròn tượng Phật,

Nền phúc căng đầy

Lưu truyền mãi mãi

Cùng hưởng sum vầy

Góp phần công đức

Khắc đá minh này.

Bài thơ này được introng Văn bia của Chùa và Chùa đã được đổi tên thành Chùa Đót Sơn từ thời điểmbấy giờ.


HIỆN TRẠNGCỦA NGÔI CHÙA

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp giaiđoạn 1945-1954, huyện Tiên Lãng đã trở thành nơi đầu sóng ngọn gió và đã kiêncường đánh bại nhiều trận càn của lính thực dân Pháp và tay sai. Bởi vậy cóngười đã ví Tiên Lãng như Đất thép Củ Chi ở Sài Gòn thời chống Mỹ. Nhưng cũngchính trong thời gian này, theo phong trào tiêu thổ kháng chiến, Chùa Non Đông- Chùa Đót Sơn đã bị phá hoại. Hòa thượng Thích Dũng [có lẽ đánh máy thiếu sót – chuadieuphap] cũng hy sinh trong trậncàn của Pháp năm 1953.

Địa điểm của Chùa Đót Sơn đã trở thànhNghĩa trang Liệt sỹ xã Cấp Tiến, Huyện Tiên Lãng. Toàn bộ các tượng Phật bằngđá đều bị thất lạc. Theo bà con trong vùng, sau khi hòa bình lập lại, các cộtđá ở tam quan đã được sử dụng để xây Cống Nẻ, tượng phật bị vứt tại khu vực aogần cây Bồ Đề nghìn năm tuổi. Đất của Chùa đã bị giao cho nhiều hộ gia đình.Ngôi chùa chỉ còn lại là một am rất nhỏ, vốn là chiếc bếp xưa của Chùa và mộtcây Bồ đề trên nghìn năm tuổi. Những lăng tẩm của các vị tổ Chùa Non Đông bịphá và phần cốt bị thất lạc. Hiện nay, phần cốt của Ba vị tổ của Chùa Non Đông- Chùa Đót Sơn đang được táng trước cửa Chùa nhỏ, nơi thải nước của các hộ dânxung quanh. Chùa hiện không có sư trụ trì và người trông coi ngôi chùa là haibà vãi, những người có cơ duyên. Bản thân bà Chiêu, một trong hai bà vãi, ngườitừng là y tá đã từng phải đi hành khất khắp nơi để lấy tiền xây được thêm mộtgian của chiếc am. 

Trời đất xoayvần vẫn còn đây

Tam quan ChùaĐót tiếc dựng xây

Bóng mát câyđề là muôn thuở

Vinh hoa phúquý hưởng phúc đầy

Kết luận

 

Với một vị tổ linh thiêng củaViệt Nam và Trung Quốc cũng đã lập chùa để thờ và với một ngôi chùa có giá trị caovề mặt tâm linh, lịch sử và văn hóa, sự biến mất của ngôi chùa là nỗi xót xacho những người dân trong vùng. Đã đến lúc giới học giả cần phải có nhữngnghiên cứu và chính quyền địa phương phải thực sự vào cuộc để khôi phục lại mộtđịa chỉ tâm linh, hồn thiêng sông núi của dân tộc.  

               PhamThang,
                   Embassyof India

(Bài viết do tác giả gửi cho chuadieuphap.com.vn)