Kì tích của nhạc trưởng Congo

0
111

Hình ảnh 2 cô gái Trung Hoa ở Nội Mông và Vân Nam vui vẻ chụp ảnh với tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông. Sau 700 năm, hậu duệ của những kẻ xâm lược và người chống xâm lược, kẻ thắng và người thua đứng chụp ảnh vui vẻ với nhau dưới bức tượng của vị vua chiến thắng đồng thời là biểu tượng của Hòa giải yêu thương.


LTS: Nhạc trưởng Armand Diangienda – Congo là người được vinh danh giải thưởng âm nhạc Charles Ansbachor trong buổi hòa nhạc Hòa giải yêu thương lần thứ 3 tại Boston. Đã có rất nhiều thước phim, phóng sự ghi lại những kì tích của nhạc trưởng này đã đóng góp cho đất nước Congo.

Armand Diagienda là một người đàn ông da đen tầm thước, gần năm mươi tuổi,  nụ cười tươi tắn và đôi mắt tinh anh, có năm người con, và mấy đứa cháu. Tiếng Anh của anh tốt hơn tôi rất nhiều, nhưng vẫn không đủ tốt để anh thoải mái diễn đạt những điều mình muốn nói. Đôi khi bí từ, anh quay sang hỏi người bạn cùng đi bằng một thứ tiếng Pháp giọng trầm, phát âm rất chuẩn mà chắc sẽ làm hài lòng những nhà ngôn ngữ hàn lâm khó tính nhất.

Anh rất thích thú khi thấy rằng chúng tôi biết khá nhiều về đất nước Công gô của anh, về lịch sử đau đớn mà Công gô phải nếm trải trong gần một thế kỷ qua, khi nghe chúng tôi nhắc đến những tên người, tên đất cũ và mới của Cộng hòa Dân chủ Công gô ngày nay.

Anh kể rằng, thoạt đầu, anh học lái máy bay ở Mỹ với mong muốn trở thành phi công dân dụng, nhưng sức khỏe không cho phép, anh chuyển hẳn sang âm nhạc, niềm đam mê đích thực và nay trở thành sự nghiệp suốt đời của anh. Anh học chơi nhiều loại nhạc cụ. Ngoài việc chỉ huy dàn nhạc, anh có thể sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ bộ dây, bộ hơi và bộ gõ. Với ý tưởng đem âm nhạc cổ điển đến cho mọi người, anh tập trung toàn bộ tài năng, công sức và thời gian vào việc xây dựng Dàn nhạc giao hưởng Kimbanguiste.

 

Nhạc trưởng Armand Diagienda

Nghe cách anh nói về dàn nhạc của mình, tôi đoán rằng anh không chỉ là nhạc trưởng, mà còn sắm tất cả những vai quan trọng nhất trên sàn diễn, sau cánh gà và ngoài xã hội để đảm bảo cho sự ra đời và hoạt động của dàn nhạc duy nhất ở miền trung Châu Phi và cũng là dàn nhạc duy nhất toàn nhạc công da đen này.

Tất cả bắt đầu từ con số không tròn trĩnh.

Công dân những nước nghèo như chúng ta không xa lạ gì với những thành công bắt đầu từ tay trắng. Nhưng cái Dàn nhạc Kimbanguiste, sự nghiệp của Armand thì có lẽ là độc nhất vô nhị.

Không có nhạc cụ, họ phải đi quyên góp, bòn nhặt, cải tạo nhạc cụ cũ, thậm chí phải tự chế tạo ra chúng.

Không có nhạc công mà chỉ có những người thừa lòng đam mê âm nhạc, nhưng chưa hề biết nhạc lý là gì và cũng chưa biết chơi một thứ nhạc cụ nào. Anh phải dạy họ  từ đầu.

Không có tiền, mọi hoạt động, dạy và học, dàn dựng và biểu diễn, tất cả đều là tự nguyện, không thù lao. Thế mà dựng lên một dàn nhạc giao hưởng đủ lệ bộ, với cả một dàn đồng ca đông đảo.

Thật không quá lời nếu gọi đó là một sự kỳ tích. Kỳ tích của tình yêu âm nhạc và trách nhiệm xã hội, kỳ tích của quyết tâm, trí tuệ và sáng kiến. Cộng thêm vào kỳ tích đó chắc chắn có tiềm năng âm nhac trời phú cho cư dân bản địa Châu Phi.

Tôi đã xem cuốn băng 60 phút ghi lại những điểm chính trong lịch sử xây dựng Dàn nhạc, trong đó có những trường đoạn Dàn nhạc biểu diễn với những  nhạc công chơi khá điêu luyện và ăn ý, với dàn đồng ca mạnh mẽ tuyệt vời của những thanh quản Châu Phi.

Những nhà chuyên môn hàn lâm khó tính có thể chưa hoàn toàn ưng ý về điều này, điều khác, nhưng chắc không ai không thừa nhận giá trị tuyệt vời của một công trình âm nhạc như vậy. Chính những người lãnh đạo của Quỹ Văn hóa Boston, những người ngoài đôi tai sành thưởng thức âm nhạc còn có sự nhạy cảm cao độ và ý thức trách nhiệm xã hội sâu sắc đã sớm nhận biết và đánh giá cao kỳ công này. Họ tích cực hỗ trợ nó và nay nhất trí quyết định trao Giải thưởng Âm nhạc Hòa giải Charles Ansbacher đầu tiên cho Armand.

Đang từ chuyện dàn nhạc, Armand bỗng đột ngột chuyển sang tâm tình về mình. Anh kể rằng ông nội và cha anh đều từng bị giam cầm trong nhà tù của chế độ thực dân và nhà cầm quyền độc tài. Ông nội anh 30 năm và cha anh gần 20 năm. Tôi chợt thốt lên theo thói quen: “Vậy thì anh xuất thân từ trong một gia đình có truyền thống cách mạng!”. Nghe vậy, anh vội lắc đầu, như có ý  phủ nhận: ” Không, không đâu, ông tôi và cha tôi chỉ là những người yêu nước và có tinh thần dân chủ”. Thì ra vậy.

Phải chăng trong sắc thái ngôn ngữ tiếng Anh đặc thù của đất nước anh, cách mạng không phải là một từ chỉ mang ý nghĩa tích cực, không nhất thiết phải bao hàm ý nghĩa đấu tranh cho độc lập và dân chủ?

Giọng anh buồn buồn khi nói về đất nước mình. Rộng lớn, giàu tài nguyên, đông dân, mà  vẫn chìm đắm trong nghèo đói, xung đột, chia rẽ. Nhân dân nói cùng một thứ tiếng, cùng chung một cội nguồn văn hóa mà vẫn bị chia cắt hàng trăm năm nay…

Anh chỉ vui lên khi chúng tôi nói về minh triết Trần Nhân Tông. Anh hoàn toàn đồng ý rằng Hòa giải và Yêu thương phải là một giá trị chung nhân loại cần tôn vinh và truyền bá bằng nhiều phương tiện. Đối với anh, phương tiện đó là âm nhạc. Vì vậy anh rất hào hứng đảm nhận trách nhiệm Đại sứ của Tran Nhan Tong Academy tại đất nước anh và Châu Phi.

Mấy giờ trò chuyện với Armand qua đi thật nhanh. Tiễn ra ra về, lòng  tôi dấy lên một niềm lưu luyến, một cảm giác thiếu vắng thường thấy khi ta phải xa một người bạn. Cái gì đã âm thầm liên kết chúng tôi, những con người trước đó còn chưa biết nhau? Phải chăng đó chính là minh triết về Hòa giải và Yêu thương?

Giữa chúng tôi không hề có mâu thuẫn, do đó chúng tôi không phải “hòa giải” theo nghĩa thông thường, nhưng chúng tôi phải vượt qua những rào cản vô hình và hữu hình không chỉ do khoảng cách địa lý mà cả từ  những khác biệt màu da, văn hóa, lối sống, lối nghĩ…để con người mọi nơi trên trái đất biết sống hòa thuận và yêu thương nhau, như Đức vua Trần Nhân Tông đã nhận biết, đã dạy bảo, đã thực hiện suốt đời mình.

Bùi Đức Lại (VNN)