Khoa học cứng và khoa học mềm

0
161


La Recherche: Người ta thườngxem “các khoa học về tự nhiên” là đối lập với “các khoa học về conngười và xã hội” vì chúng dựa trên những nhận thức luận khác nhau mộtcách căn bản. Ông nghĩ thế nào ?

Laurent Mucchlielli:Tôi nghĩ rằng người ta đã nhầm khi xem các khoa học này về căn bản làđối lập với nhau: Và tôi nghĩ rằng những ai ủng hộ sự đối lập này, dùlà do muốn hạ thấp các khoa học nhân văn (như một số đại diện của cáckhoa học được gọi là “cứng” luôn luôn làm như vậy), hoặc là do muốn xemnó như là một khu săn bắn dành riêng (như một số nhà triết học đã làm),đều có một điểm chung: không phải là người thực hành khoa học nhân văn.

Khi mà nghề nghiệp của người takhông phải là như vậy, mà là thực hành khoa học nhân văn, thì người tachẳng hề nghi ngờ gì là mình đang tiến hành một hoạt động khoa học. Vàngười ta cũng không nghi ngờ gì rằng hoạt động khoa học này một mặt làrất đặc thù và mặt khác là rất tế nhị.

LR: Tính đặc thù đó của các khoa học nhân văn là từ đâu mà ra?

LM:Lý do rất đơn giản, phổ biến và không phụ thuộc thời gian. Nó gắn liềnvới tính đặc thù cơ bản của con người trước phần còn lại của thế giớisinh vật: đó là việc con người tác động một cách cơ bản theo ý nghĩa mànó gán cho các sự vật, mà nó là một vật thể của các biểu diễn. Ý nghĩađó và các biểu diễn đó được xây dựng trong những nhóm xã hội mà nó nằmtrong đó, trong các nhóm đó nó được xã hội hóa. Và, trong các xã hộihiện đại, các nhóm đó có nhiều, con người do vậy là “cái nhiều” như cácnhà xã hội học đặc biệt là Bernard Lahire đã nói. Vả lại, cùng với cáclý do đó (tính chất phức tạp của các xã hội hiện đại, tính có nhiều củacác nhóm và các biểu diễn của chúng, các quan hệ ít nhiều có tính xungđột của chúng…), rõ ràng là nhà nghiên cứu về khoa học nhân văn cóảnh hưởng đến đối tượng của mình và bị ảnh hưởng bởi đối tượng của mìnhnhiều hơn nhiều bất cứ một nhà nghiên cứu nào khác. Khi tính đặc thùkhông thể quy giản được ấy đã đặt ra thì chúng ta sẽ có thể bàn cãi vềtính đặc thù của các khoa học nhân văn theo các tiêu chí chung cho cáckhoa học khác: đặc tính tập thể của lao động nghiên cứu (ở quy mô quốcgia và quốc tế) sự rõ ràng về phương pháp luận, đặc tính có thể bác bỏđược của các ý kiến nêu ra, việc kiểm tra giá trị của các kết quả bởinhững người ngang hàng về chuyên môn (pairs). Về tất cả các điểm này,không có sự khác nhau về bản chất giữa khoa học nhân văn và khoa học tựnhiên, và có cả một tư thế trí tuệ chùng là đặc thù của phương pháptiến hành khoa học (démarche scientifique).

LR: Ông nói “các khoa học nhânvăn” chứ không phải “các khoa học xã hội”? Phải chăng, theo ông, đây làmột sự phân biệt quan trọng?

LM:Trên thực tế, điều này tùy thuộc vào bối cảnh. Khi tôi đội cái mũ nhàsử học về khoa học, tôi nhất thiết phải nói về “các khoa học nhân văn”vì tôi kể vào đây cả tâm lý học và ngôn ngữ học. Quả vậy từ các nguồngốc của các khoa học nhân văn (vào thế kỷ XIX trên quan điểm thể chế)cho tới khoảng cuối những năm 60, rõ ràng là, ở Pháp các ảnh hưởng liênngành rất nhiều và đôi khi rất mạnh. Hãy chỉ lấy một thí dụ, đó là cuộcđối thoại giữa xã hội học, sử học và tâm lý học có tính chất cơ bảntrong những năm 1890-1940. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, cuộc đốithoại còn tiếp diễn một thời gian, cũng là do sự tồn tại của các lýthuyết có tính tổng quát và phát triển theo chiểu ngang, thí dụ như cấutrúc luận, hoặc còn là do các ảnh hưởng chính trị, thí dụ như chủ nghĩaMarx. Nhưng quá trình thể chế hóa các khoa học nhân văn và sự chuyênmôn hóa đi kèm theo đã phát triển rất mạnh trong những năm 60 và rời xanhững cách làm theo ngành. Ngoài ra, tâm lý họcđã tách ra thành hai cực chính (một cực lâm sàng và một cực thựcnghiệm) không còn giữ quan hệ với các khoa học xã hội nữa. Bắt đầu từgiai đoạn này, tôi nghĩ rằng ta có thể nói rằng cộng đồng trí tuệ của”các khoa học nhân văn” đã dần dần không còn tồn tại. Trái lại có cảmột tập hợp ngành của “các khoa học xã hội” hình thành về chủ yếu donhân học (hay dân tộc học), sử học và xã hội học, gần đây lại được kếtnối do các khoa học chính trị. Như vậy, khi tôi giở cái mũ nhà nghiêncứu về các hiện tượng đương đại ra, thì tôi lại nói về “các khoa học xãhội”.

LR: Ông nói về lịch sử cúa cáckhoa học nhân văn hay xã hội. Nhưng nhiều nhà vô lý chưa bao giờ đọcEinstein, và nhiều nhà sinh học chưa bao giờ giở các trang “nguồn gốccác loài”, trong khi đó thì mọi khóa học về xã hội học đều bắt đầu từviệc học Emile Durkheim hay Max Weber. Ông giải thích thế nào về mốiquan hệ rất khác đó đối với lịch sử môn của ông?

LM:Có lẽ ta nên bắt đầu bằng cách nói rằng các nhà vật lý và các nhà sinhhọc đã bị thiếu một sự đào tạo ở trình độ đại học về lịch sử khoa học.Nhiều cuộc tranh cãi mà chúng ta vừa mới gợi lên là có thề tránh đượcnếu người ta biết môn lịch sử đó. Thí dụ, tôi vừa mới đây có tham gianhững ngày “Khoa học và công dân ” của CNRS, và tôi còn nhớ ý kiến chấtvấn của một nhà di truyền học muốn chứng mình thật rõ ràng cho cử tọarằng khoa học nhân văn không phải là khoa học.

Tôi đã nói với ông ta về thuyết ưusinh mà tôi có tham gia nghiên cứu đôi chút. ông ta đứng bật lên bẻ lạirằng các nhà ưu sinh không phải là nhà khoa học. Thật là một sự khônghiểu biết về lịch sử! Tôi nghĩ rằng người ta đã để mất rất nhiều, xétvê sự hình thành trí tuệ, về sự hình thành tinh thần khoa học, do đãkhông giảng dạy lịch sử khoa học, hoặc giảng dạy nó một cách phiến diệnnhư là chuyện vui về các khám phá nối tiếp nhau của các “đại thiên tài”trong quá khứ.

Còn về các khoa học nhân văn, đúnglà nó duy trì một cuộc đối thoại không ngừng với lịch sử của nó. Điềunày có nhiều lý do: sự có mặt thường xuyên của một số câu hỏi (dù làvào năm 1900 hay năm 2000, luôn luôn là những con người mà chúng ta nóitới); những nhu cầu sư phạm của “đại học quần chúng” (giảng dạy lịch sửtư tưởng xã hội học thường là phần mở đầu của môn học); sự có mặtthường xuyên của một số “câu hỏi lớn” (các quan hệ cá nhân/ xã hội, ýthức / vô thức, v.v…) mà các tác giả kinh điển đã đặt ra và, trước sựvỡ tung của nghiên cứu thành các chuyên môn hẹp, cũng biểu thị các yếutố cấu thành của bản sắc tập thể của chúng ta.

LR: Người ta thường chê các khoa học nhân văn là thâm nhập quá nhiều vào các hệ tư tưởng. Ông nghĩ thế nào về điều này?

LM:Mối quan hệ cùng tồn tại với các hệ tư tưởng chính tri (chủ nghĩa cộnghòa, chủ nghĩa chống giáo quyền, chủ nghĩa xã hội…) là một đặc trưngcủa sự ra đời của các khoa học nhân văn gắn liền với, như đã nói, chínhbản chất của đối tượng của nó. Và sự ra đời này chỉ là gân đây thôi.Những ghế giáo sư đầu tiên về các khoa học nhân văn đã xuất hiện vàothế kỷ XIX và sự tự trị hóa hoàn toàn các khóa học đại học cũng là mộtviệc gần đây. Thí dụ, đối với tâm lý học và xã hội học, sự tự trị nàyso với triết học chỉ mới bắt đầu vào những năm 50, có thể là những năm60. Cùng với việc này, còn có hai việc khác nữa cũng rất hiển nhiên.Thứ nhất là các khoa học khác không hoàn toàn thoát khỏi sự thâm nhậpcủa các hệ tư tưởng, thí dụ như thuyết ưu sinh mà các nghiên cứu lịchsử đã chỉ ra tầm quan trọng của nó trong các khoa học y-sinh củahầu như tất cả các nước phương Tây ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thứ hai là cáckhoa học nhân văn cũng huy động ngày càng nhiều các phương pháp luận vàcác cách kiểm trả giá trị của các nghiên cứu. Những cuộc tranh cãi thậtsự là ở đó: Làm thế nào mà hình thành tốt việc nghiên cứu và làm thếnào mà bảo đảm một sự kiểm tra tốt giá trị của các nghiên cứu? Về ýnghĩa này thì các khoa học nhân văn còn lâu mới có thể là những bảnmẫu. Ta hãy nhớ lại câu chuyện xấu mà “vụ Tessier” (1) đãgợi ra và những câu chuyện khác không qua các phương tiện thông tin đạichúng. Nhưng các khoa học nhân văn đã không ngừng tiến triển từ mấythập kỷ. Những người thực hành các khoa học này biết rõ tình hình đó.Cuối cùng, tôi có nhận xét là cùng những vấn đề như vậy cũng xuất hiệntrong các khoa học gọi là “cứng” như đã được chứng minh bởi “chuyện anhem Bogdanov” (2).

LR: Việc kiểm tra giá trị củacác kết quả mà ông mong muốn có thể thực hiện được tới quy mô như thếnào? Ta có thể nói đến cộng đồng quốc tế các nhà xã hội học hay các nhàsử học giống như ta đã nói đến cộng đồng quốc tế các nhà vật lý hay cácnhà sinh học với các hội học thuật, các đại hội, các tạp chí của họ?

LM: Rõ ràng là không, hoàn toàn không với cùng mức độ như vậy. Lý do đầu tiên luôn luôn vẫn thế: đối tượng có bản chất khác.

Chúng tôi không cạnh tranh về thểchế và tài chính với các nhà nghiên cứu Mỹ hay Nhật để tìm ra một cơchế vật lý hay sinh hoá phổ biến nào đó. Chúng tôi làm việc với cáchiện tượng không phổ biến và tiến hóa mãi mãi. Không một ai không thấyvăn hóa chính trị của Pháp không phải là văn hóa chính trị của Mỹ, cũnggiống như văn hóa chính trị của Marseille không phải là văn hóa chínhtrị của Alsace.

Vả lại trong các hiện tượng văn hóanày mà chúng là đối tượng của chúng tôi, vấn đề ngôn ngữ có ý nghĩa ởchỗ nó gắn bó chặt chẽ với các bản sắc văn hóa đó mà chúng tôi là mộtbộ phận và chúng tôi làm việc với nó. Tại sao chúng ta ai cũng – phảinói tiếng Anh của nước Mỹ ngay từ khi tham gia một hoạt động khoa học?Vì cái gì mà việc đó là sự đạt tới một tính khoa học cao hơn? Cái cầnthiết khi người ta là người Pháp, là có thể đọc tiếng Anh và trình bàysuy nghĩ của mình bằng tiếng Anh, và nếu có thể thì bằng tiếng Tây BanNha.

Nhưng điều ngược lại cũng đúng vìtiếng Pháp cũng là một ngôn ngữ quốc tế, nghĩa là được nói một cách chủyếu ở nhiều nước. Như vậy ý kiến của tôi không phải là một loại chủnghĩa cô lập. Thuyết ngôn ngữ so sánh là một phương pháp cần thiếttrong các khoa học nhân văn. Về phần tôi, tôi tham gia một mạng lướichâu Âu quan trọng và tôi rất hoan nghênh các cuộc trao đổi thườngxuyên đó. Vả lại, với sự vươn lên của châu Âu trong đầu tư cho nghiêncứu, tình hình này sẽ phát triển.

LR : Người ta cũng chê các khoahọc nhân văn là không sử dụng sơ đồ kinh điển quan sát/giả thuyết/ thínghiệm/ lý thuyết được xem là có tính khoa học. Ông nghĩ thế nào vềđiều này?

LM:Đó là mô hình nhận thức luận người ta dạy ở trường học. Còn các côngtrình về xã hội học của khoa học, dựa trên các quan sát, đã chỉ ra rằngmọi việc chẳng phải lúc nào cũng diễn ra như vậy trong cuộc sống hàngngày ở các phòng thí nghiệm… Vả lại, trong các khoa học nhân văn,chúng ta dành một phần thời gian đáng kể để tiến hành các quan sát xâydựng các giả thuyết và thiết lập các lý thuyết.

Đây không phải là sự khác nhau. Cáimà chúng ta chẳng hề biết, đó là thí nghiệm có thể tái lập được dựatrên mô hình thí nghiệm của phòng thí nghiệm. Nhưng lại một lần nữa,điều đáng ngạc nhiên là người ta không hề biết về tính chất phức tạpcủa đối tượng. Con người chông phải là một nguyên tử, cũng không phảilà một tế bào có cùng một sự ứng xử vào mọi lúc và ở mọi nơi. Đó là mộtsinh vật siêu phức tạp có tính chất đặc biệt là không có “bản chất”.Bản chất con người, không để một số nhà di truyền học và sinh học thầnkinh phải phật ý, chính là không có bản chất theo nghĩa một số phậnđược xác định từ trước bởi các thành phần sinh hóa của nó. Đã đànhchúng ta là những cơ thể sống, chúng ta sinh ra và chết, có cáchoocmôn, v.v… Nhưng cùng một cơ thể sống như vậy, nó có thể trở thànhmột tên tra tấn hay một ông thầy tu. Quả là phải sững sờ, khi đọc mộtsố, thấy rằng điều đó không phải cũng rõ ràng như là việc chúng ta cũngcó một cơ thể có các quy tắc sinh lý của nó.

Chúng ta chắc chắn đang và sẽ bibuộc phải, một cách dai dẳng, chiến đấu với những người gọi là “nhàkhoa học” dám chắc rằng họ đã tìm thấy các hoocmôn hay các gen về cáchứng xử này hay cách ứng xử kia. Sai lầm có tính chất cơ sở là đã tinrằng, vì người ta quan sát thấy thân thể phản ứng theo cách này haycách kia vào lúc này hay lúc kia, cái đó cung cấp cho chúng ta “sự giảithích”. Khi tôi đang làm việc, làm tình, bực dọc, nghe nhạc, làm vườn,phải chăng có một số cơ chế nào đó đã hoạt động trong não tôi? Chuyệnquan trọng quá nhỉ ! Cái đó nói với tôi điều gì cho dù đó là về các lýdo khiến tôi làm việc, làm tình, bực dọc, nghe nhạc và làm vườn ? Tôirất tán thành nếu người ta đầu tư hàng tỉ đôla cho nghiên cứu về cácbệnh, nhưng hãy làm ơn tránh cho chúng tôi những mưu toan con trẻ giảithích sự ứng xử của con người bằng sinh học.


(1) Nhàchiêm tinh học Élisabeth Tessier vào năm 2001 được phong tiến sĩ xã hộihọc ở Đại học Paris -V hạng bình (très honorable) cho luận án”Tìnhtrạng nhận thức luận của chiêm tinh học qua tính hai mặt quyến rũ /từbỏ trong các xã hội hậu hiện đại' ; danh hiệu này bị bác bỏ bởi hầu nhưtất cả các nhà xã hội học (Chú thích của Ban biên tập tạp chí LaRecherche).

(2) Nhữngngười dẫn chương trình truyền hình Grichka và Bogdanov đã được phongcác đanh hiệu theo thứ tự, tiến sĩ toán học tháng 6-1999 và tiến sĩ vậtlý lý thuyết tháng 7- 2002 ở Đại học Bourgogne, cả hai đều hạng bình,tuy rằng ý nghĩa và chất lượng các công trình của họ bị Phê phán bởinhiều nhà khoa học (Chú thích của Ban biên tập tạp chí La Recherche).