Khi sư ông xả thân làm tín đồ thơ!

0
117

Phàm trần chưa rõ vàng thau
Chân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm.

                                VẠN HẠNH Thiền sư

Đãyên vị toạ thiền mà mắt còn lem lém liếc về cõi tục, đã đem thân nươngcửa Phật những tưởng được cởi trói nào ngờ lại đem rợ chằng vào thân!Thật là đa đoan, đa mang, Phạm Đại đức rõ là một ông sư phá giới!
– Khoác cái áo “thiền sư ỡm ờ” đó liệu Phạm có vụng đường tu, hay trễ tràng kinh kệ?
– Thưa không!

Lànhà sư, Phạm Thiên Thư đã dốc toàn tâm tu hành. Nhưng Phạm không phảilà một tu sĩ khổ hạnh ép xác khắc kỷ phục lễ, Phạm tu theo lối riêng.Lúc Phạm trì tụng:
Tay nào nghiêng nón thơ che
Tay nào lần chuỗi Bồ đề xanh xao

Nến khuya lửa hắt hiu vàng
Trang kinh lác đác đôi hàng nhạn sa
Ý nào hoá hiện ngàn hoa
Chữ nào ẩn nguyệt trên tà áo ni.

                                                (Động hoa vàng)
Lúc Phạm hồi tưởng:
Mặt trời đỏ thẫm bên cồn
Dòng chim bay quẩy hoàng hôn qua đèo
Em ngồi bên suối cheo leo
Lơ thơ tóc biếc còn neo ráng vàng
                                                (10)
Lúc Phạm trằn trọc:
Thoảng tiếng mưa rơi đậu trước thềm
Mùa thu gõ guốc gió qua êm
Chừng như cánh mộng cô hàng xóm
Nở với hoa quỳnh lúc nửa đêm.

                                                (Mộng hoa)

Lúc Phạm vui: “Sông xanh xanh nhé một dòng – mùa xuân cắp rổ ra đồng với hoa” (Động Hoa Vàng). Lúc Phạm buồn chán: “Dài thân nằm ngẫm vô thường – Nghiêng vò đổ cái chán chường vào say” (47). Lúc Phạm nhớ thương: “Năm sau em bỏ đi rồi – Ta về ngồi lắng mưa rơi giậu buồn” (Động Hoa Vàng). Lúc Phạm yêu: “Trong hồn thơ, em là tượng biếc – Ngồi tung hoa xuống cõi mênh mông” (Tượng biếc). Phạm băn khoăn trước lẽ nhiệm màu Phật pháp:
Bước vào hỏi Đấng chí tôn
Bạch thầy: “Cái lẽ sinh tồn là đâu”
Hỏi chi Người cũng lắc đầu
Xuyên câu hỏi lại thành xâu bồ đề
.
                                                (27)
…và Phạm đã phát hiện ra cái hư vô siêu hình:
Soi mình thấy cái chơi vơi
Lượn bay như một cánh giơi mù lòa
Vào rừng đập vỡ cái ta
Hiện nguyên hình một đóa hoa đại quỳ.
                                                (84)

Trời!Phật tử mà lên chùa chắc chết mê chết mệt ông nhà thơ này ngâm thơ hơnlà lắng nghe sư thầy Tuệ Không thuyết pháp? Đạo Phật đã thấm vào trongmáu của Phạm, người thở ra là hơi thiền đạo. Thật đúng cốt cách của mộtthi sĩ hào hoa hơn là một đệ tử của Phật.

Vào trước và sau thậpkỷ 70 của thế kỷ trước, Phạm Thiên Thư xuất hiện trên bầu trời thi caPhật giáo miền Nam như một ngôi sao sáng.
Lấy các giáo lý của đạoPhật làm nền tảng tư tưởng, thế giới thơ ca của Phạm khai triển xoayquanh cái gốc này. Phạm mang khát vọng dấn thân với ý tưởng táo bạomuốn Việt hoá, thi hoá, trẻ hoá đạo Phật. Phạm đã cả gan viết lại kinhPhật bằng ngôn ngữ của thi ca và người đã tỏ ra khá tinh tế, lịch lãmtrung thành với nguyên bản ý kinh.

Bài kệ chính yếu của Kinh Kim cương, Phật dạy: “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai“(dịch nghĩa: Nếu đem sắc tướng để mong nhìn thấy ta, hoặc đem âm thanhđể nhận biết ta thì người ấy đã lạc đường, không thể nào gặp được NhưLai).
Phạm Thiên Thư đã thi hoá với hình tượng như sau:
Dùng thân vàng thấy Phật
Dùng khánh ngọc cầu ta
Người đó lạc tà đạo
Đũa ngọc gắp sao tà
                        (Kính Ngọc)

Với cung cách đó, Phạm Thiên Thư đã cất công nỗ lực hết mình soạn lại Kinh Kim Cương thành Kinh Ngọc; Kinh Hiền Ngu thành Kinh Hiền, Kinh Hiếu; Kinh Pháp Cú thành Kinh Thơ.Với hàng chục ngàn câu thơ lục bát khá nhuần nhuyễn chở nặng những ngụngôn, truyền thuyết, huyền thoại, giáo huấn, với một bút pháp biến hoá,Phạm đã Việt hoá biến đức Thích Ca Mầu Ni thành đức Phật của Việt Nam,Ấn Phật thành Việt Phật. Những sai sót không thể không tránh khỏi khiPhạm Thiên Thư đã không nhìn nhận Kinh Phật như một văn bản để tụngniệm mà nhìn nó dưới góc độ một tác phẩm thi ca. Tôn giáo thường đemmình đồng hoá mọi người, còn Phạm làm thơ là tìm cách phân thân mình rathành một người khác để ngắm nghía mình rõ hơn. Muốn chở được đạo -Phạm nghĩ – phải nhờ con thuyền nghệ thuật mới thấm sâu được vào lòngngười.
Nếu một sư ông chỉ chắm chúi miệt mài với kinh kệ thì ta đâucó một thi nhân. Phạm Thiên Thư vốn thực con nhà nòi – nòi tình. Cáigiống đa tình này là giòng giống chung của những ai nặng nghiệp bútnghiên.

Tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư là một thứ tình đầuđời của các trẻ mới lớn, đương choai. Nó như đoá sen trinh trắng nởgiữa cuộc thế mong manh, chật hẹp, luôn tiếc nuối, ngầm đau, mất mát.Nhà thơ chỉ nhìn thấy “dáng em nho nhỏ – trong cõi xa vời“.Giai nhân của Phạm mỏng manh như cái bóng, những em Ngọ, em Ngọc làmbằng hương hoa, không da thịt phàm trần. Người yêu của Phạm không cónhững em nào đẹp quyến rũ, mê tơi, bốc lửa. Người yêu của Phạm là nhữngthục nữ yểu điệu, mềm mại như tơ, tha thướt như liễu, ảo như sương, khócận kề được. Tấm thân các nàng sinh ra không phải là để hưởng lạc ái ânmà chỉ để tôn thờ. Phạm đã thành tâm tu hành dưới bóng mát của ngườiđẹp bằng một thứ tình chay tịnh tinh khiết. Tiếng nói yêu đương củaPhạm cất lên thủ thỉ từ trong các hoài niệm hồi chưa vào chùa: sáng rụtrè rước em này, chiều len lén đón đưa em nọ, những cuộc hò hẹn ấp úngtrước cổng trường, cổng chùa, bên gác chuông, những ánh mắt thơ ngâyhồn bướm mơ tiên đưa tình qua cửa Phật. Ta cứ luôn thấy trái tim thắmđỏ của nhà thơ đập phập phồng, rối rít một nỗi em em dưới lần áo nâusồng. Với tấm chân tình đằm thắm, trong cõi phù sinh, thế cũng đủ cholòng người diệu vợi chơi vơi. Phạm yêu là để thấm thía cái bọt bèo củakiếp người.

Việc một tu sĩ Phật giáo làm thơ tình nghe ra cũng ngồ ngộ thiệt nhưng đó là  mộtviệc hợp lẽ tự nhiên. Thực ra, chuyện này Phạm bị oan. Mà thôi… tôicần chi phải nói ra. Cứ để Phạm mang cái nghi án trái ngang này chothêm phần sương khói ảo huyền. Có điều cần phải hiểu về Phạm: ta khôngthể nào tìm thấy sắc dục, vật dục trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó hoàntoàn thánh thiện. Phạm Thiên Thư không thể đắc đạo nhưng bạn đọc vuimừng có được một chàng Phạm Thái tài hoa mới.
Em nằm dưới mộ bi
Buồn không trăng đầu dẫy
Nhớ xưa em dậy thì
Bâng khuâng nhìn trăng lên
                                    (Trăng mộ)

Pháp Loa nói: “Khẩu thuyết xuất gia, tâm hành thế nghiệp…“(Miệng nói xuất gia nhưng tâm theo chuyện thế tục…). Với Phạm ThiênThư, chuyện thế tục là chuyện văn chương ngàn năm thiên cổ sự.

Trong thâm tâm Phạm Thiên Thư rất kính trọng thiên tài Nguyễn Du với tập đại thành Truyện Kiều. Chính thi tài của Nguyễn đã cho phép người mượn một chuyện lá cải của Trung Hoa để giãi bày chữ tiếttrong tâm sự u uẩn của mình mà làm nên danh tác, nhưng Phạm không phụcvà chấp nhận Nguyễn đã vay mượn quá nhiều từ đề tài, cốt truyện, vănliệu, địa điểm, thời gian, điển cố…. Tinh thần dân tộc cực đoan đó đãdẫn tới việc Phạm dám táo gan viết Hậu Kiều  với tên mới Đoạn trường vô thanh (Niềm đau không tiếng) nối điêu vào kiệt tác của một thiên tài! Dưới ánh sáng của Kinh Kim cương, Phạm viết Hậu Kiều  làđể thấm đậm tư tưởng của đạo Phật cùng ý thức Việt hoá, thoát ly hẳnnhững ảnh hưởng ngoại lai trong việc tiếp thu di sản văn hoá của chaông. Đoạn trường vô thanh đề cao dân tộc, thiên nhiên và lao động, coi như cội nguồn của thân – tâm giúpcon người vượt thoát, phục sinh khỏi mọi bế tắc tư tưởng để sống khỏemạnh, an hòa và tiến hóa, giải thoát khỏi tai ách vận nghiệp quá khứ, Đoạn trường vô thanh gồm 27 chương, 3.296 câu lục bát, dài hơn Tân thanh 42câu. Mỗi chương được trình bày như một bức tranh về đời sống nàng Kiều.Tác giả đã xoá bỏ mọi điển tích từ chương Hán, thay thế bằng hình ảnh,anh hùng điển cố, lịch sử thuần túy Việt Nam: Trần Hưng Đạo chỉ kiếmxuống sông Hoá thề diệt giặc thay cho Kinh Kha, Từ Thức cởi áo từ quanthay cho Lưu Thần Nguyễn Triệu, tâm trạng Mai An Tiêm bị đày thay choChiêu Quân cống Hồ và Tô Vũ bị cầm tù xa cố quốc, sông Thương thay chosông Tiền Đường, những Tiên Dung – Chử Đồng Tử, Tản Viên, Thánh Gióng,Bạch Vân… cũng không bỏ sót. Phạm Thiên Thư đã thổi một luồng gió mátca dao dân ca, tục ngữ dân tộc vào tác phẩm. Các phong tục tập quánđược khai thác triệt để.

Cho thơ hoà với mênh mang
Cho mênh mang đọng hạt đàn vô thanh

Đoạn trường vô thanh là truyện thơ hư cấu nghệ thuật nối tiếp Đoạn trường tân thanh  củaNguyễn Du từ sau ngày Kim – Kiều tái hợp. Bản cáo trạng cuối cùng nàycủa thi hào Nguyễn Du được nhà thơ Phạm Thiên Thư đẩy tới cao tràotrong tiếng kêu thương lặng chìm, không tiếng. Hậu Kiều cóthêm một số nhân vật mới: Tiểu Nguyện là con gái Thúy Vân và Kim Trọng;Trần Nguyện Mai là chiến hữu của Từ Hải tại Giao Châu; Hồ Ông là dòngdõi Hồ Quý Ly lưu lạc bên Tàu thời Minh, thầy học của Kim Trọng, VươngQuan và Thuý Kiều, người chủ trương học phái “tri hoà hành hoá“(biết nên hòa, làm nến hóa) đặc biệt từ dân tộc Việt; Ẩn Lan là con gáiHồ Ông, người yêu đầu đời của Vương Quan; thầy Văn Chương là nhà sưsáng lập phái “Thi tông” dùng thi ca khai mở Phật tánh, thầydạy Đạo cho Thuý Kiều; Ngô Khôi là học trò của Hồ Ông sau này (thời HồÔng ở ẩn). Tác giả đã dời địa điểm của truyện về đất Phong Châu, nướcĐại Ngu. Những địa danh: Đá trắng, Mai Sưu, Đa Cóc, Yên Mô, Đền Mẫu…đều thuộc vùng Chí Linh, Hải Dương – nơi Phạm Thiên Thư lớn lên thờithơ ấu và niên thiếu tại điền trang của gia đình (1943 – 1951).

Với Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du đã thi hoá Thanh Tâm Tài Nhân, diễn bày số phận Thuý Kiều trong một xã hội thối nát, thì với Đoạn trường vô thanh,Phạm Thiên Thư diễn bày cái tâm thức trưởng thành của Thuý Kiều như đoáhoa ngát hương trong vũng lầy xã hội phong kiến. Hai quyển Kiều cóchỗ nhất quán là cuộc đời, ý thức vượt lên định đoạt thân phận conngười, đòi quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc. Nhân vật trung tâm,người anh hùng, “người vác thập tự trong cuộc đoạn trường” của Hậu Kiềuvẫn chính là nàng Kiều tuyệt tài, tuyệt sắc, đa tình và đức hạnh chứkhông phải ai khác. Nàng đã giở sang trang đời khác với cuộc sống mớisang trọng và bình yên. Chỉ vì lòng tự trọng, tự tôn người tình xưa,Kiều đã chủ động đổi tình cầm sắt ra cầm kỳ. Đườngđường là một quý bà – bạn thân của quan huyện Kim danh giá, nhưng tuổithanh xuân mới chẵn 30 của nàng đã chết trong cảnh sống độc thân vò võ.Thân tâm Kiều vẫn đầy giông bão nội tâm. Đã xa rồi cảnh tượng hãi hùng “Canh khuya, thân gái dặm trường“,đời đã hửng sáng, nhưng Kiều vẫn bị ám ảnh vẩn vơ bởi tài mệnh tươngđố, duyên nghiệp nhân quả, tình là dây oan, cùng những tín ngưỡng dịđoan đè nặng lên số kiếp. Viết Hậu Kiều, Phạm Thiên Thư vẫnphải thủ vai một nhà tư tưởng và người nghệ sĩ với trái tim nhân hậuthăm sóc nốt phần đời còn lại cho nàng. Đó là cách nhà thơ muốn giảivận nghiệp dân tộc. Qua những biến động ghê gớm của cá nhân lịch sử,chúng ta đi tìm cái chúng ta đã mất. Không như Nguyễn Du, Phạm ThiênThư không trà trộn các ngôn ngữ triết thuyết khác nhau Nho Phật Lãochen lấn vào. Kiều vẫn bị hành hạ tâm linh. Phạm buộc để cho Kiều tiếptục nghĩ suy về lẽ hưng phế của cuộc thế, trời đất với ý hướng tích cực:

Xét trong trời đất vô cùng
Biển dâu sắp đặt lạ lùng cao xanh
Bao nhiêu cung điện tan tành
Xô đi dựng lại dưới vành trăng tươi
Thăng hoa cuộc sống con người
Phế hưng trải rộng lẽ trời tự nhiên.

                                    (Chải tóc thu phong)

Kiềuthật cả nghĩ. Nàng luôn băn khoăn lục vấn, triết luận kiếm tìm nguyênnhân nào đã đẩy con người vào vực thẳm. Tai họa nghiệt ngã đâu có trừriêng ai:
Hay rồi một trận gió mưa
Bùn đen kia hẳn không chừa đài hương
                                     (Khói mờ ngoài sông)
Trong cái hỗn độn đó, kiếp người thật mong manh, ngắn ngủi, vô nghĩa:
Đời người như cánh hoa lay
Trần gian thơm một đôi ngày lại thôi
                                    (Chải tóc thu phong)
Thật là mung lung, rối rít:
Trách lòng tự đúc nên khuôn
Trách người chia những vai tuồng thấp cao
Vui buồn trong giấc chiêm bao
Rồi đem vọng tưởng khép vào tâm can.

                                    (Tẩy nước cành dương)

Tinh thần bấn loạn, con người chuốc vào thân những “vọng tưởng“để tự hành tội mình. Chỉ từ khi thấm nhuần triết lý sống của thầy họcHồ Ông, Kiều mới cảm thấy tịnh tâm, thanh thản hơn, sao cho trong trùngvây của ý thức tư tưởng phải vượt lên để không sống uổng những ngàythừa còn lại:
Thường khuyên: mình đã loạn mình
Cái tâm khiến lụy cái hình lao đao.
Truyền đời xây tiếp tâm lao
Càng giăng bẫy quỷ, càng nhào khe ma

                                    (Khói mờ ngoài sông)

Suynghĩ của Kiều trên đường quy cố hương thật đáng lưu ý. Những câu hỏiđau đáu nhói buốt xuyên qua tâm trí nàng về cõi thế mù loà này vẫn tiếptục dày vò nàng:
Cõi người chất ngất hờn oan
Cuộc cờ bày xoá mấy bàn đua tranh
Ném ra xe ngựa tung hoành
Thu về còn lại một vành trăng suông

                                    (Mây thu cuộn vàng)

Giải pháp chữ tâm mà Nguyễn Du đặt ra cuối Truyện Kiềucòn được Phạm Thiên Thư tán thành và khai triển tiếp nối. Bước chuyểnbiến trong nhận thức nàng Kiều tuy có chậm chạp, như lời dạy bảo củanhà sư chùa Văn Chương “Con người cứ mãi xa nguồn – đày mình giữa những chán chường quẩn quanh“,nhưng cuối cùng cũng tới đích. Thuý Kiều về quê, núi non vùng trung duChí Linh đã giúp nàng ngộ được cái chân lý cao quý, cái hạnh phúc xavời mang mang nội tại trong tâm từng giúp nàng tự chỉnh trong tha hoáđau khổ:
Mặc ai tìm kiến Tây Thiên
Riêng ta biến cái não phiền thành hoa.
Hoài công sớm tối ê a
Chi bằng hái cúc ươm trà ngẫm thu

                                    (Bao năm tơ tưởng)

Thiênnhiên và lẽ biến dịch sẽ làm nhiệm vụ thanh hoá con người. Phải chăngcái nôi thiên nhiên, quan hệ nhân văn đã tạo nên tâm đức Kiều từ lúcchào đời, từ màu xanh thôn mạc đến những tín ngưỡng dân gian từng ámthị vào tâm thức?; vượt khỏi những hệ lụy, định kiến tôn giáo đưa Kiềugắn bó sâu xa với đất nước ông cha, mang lại cho nàng niềm vui, sứcsống và sự ổn định tâm hồn?
Cho thơ hoà với trăng sao
Cho trăng sao hoà chiêm bao cõi người
Khí thiêng sông núi nên lời
Cỏ cây giam kín một đời tinh anh

                                    (Tìm động hoa vàng)

Nét đặc sắc trong Hậu Kiềulà những lần Kiều đánh đàn. Mỗi lần nàng so đây là mỗi khác. Tuỳ tâmtrạng buồn vui mà âm thanh biến ảo dưới ngọn bút kỳ tài của thi nhân.
Trongđoạn đoàn viên, sau khi dở ngón đàn tuyệt diệu đánh cho Kim Trọng nghe,nàng thề sẽ cuốn dây từ đấy, nhưng rồi nó như một nghiệp dĩ, một côngcụ giải buồn khó từ bỏ được. Đây là lúc thanh vắng, Kiều độc cầm:
Giờ Kiều lại nối âm thanh
Thử đem sương gió tựu thành cung dây
Tiếng đàn rã liễu rời mây
Ngón tay dã hạc vờn bay dặt dìu
Hai hàng lau lách đìu hiu
Đồi phong lá gọi bóng chiều xác xao
                                    (So dây gợn sóng)

Lúc đó, chàng Kim đến, nghe lén, đề nghị đổi âm sắc, đàn lại chuyển cung vui:
Hồn xanh xanh ngắt da trời
Hoa thu não ruột rung mười ngón son
Nửa cung ngơ ngác trăng non
Nửa cung nắng quái sông còn vàng phai
                                    (So dây gợn sóng)
Nghe tiếng đàn của kỹ nữ bây giờ ở huyện đường do Kim Trọng chiêu đãi, Hồ Tôn Hiến hồi tưởng ngón đàn của người “giết chồng, cứu nước” trong ngày tàn binh lửa hồi nào “Tay Kiều lướt mấy đường tơ – năm cung còn đến bây giờ vọng vang“:
Bốn dây như điếng như tê
Nỉ non oán động, não nề sầu câm
Bây giờ vẫn thoảng dư âm
Tiếng đàn than lặng khóc thầm bấy nay

                                    (Những đêm tàn rượu)

Nhờ tiếng đàn của Thuý Kiều mà Hồ Tôn Hiến giải thoát được khỏi con mắt ám ảnh của Từ Hải khi chết:
Tưởng chừng chim hợp mây tan
Đậu về reo hát hiên ngoài triền miên
Hồ nghe nhẹ bẫng ưu phiền
Dây đàn ấm mạch suối thiêng tỉnh người
Mắt Từ như cánh hạc trời
Bay lên mất hút ở nơi vô cùng

                                    (Dậy sống Tiền Đường)

Và đây là tiếng đàn tri kỷ Kiều vọng tưởng Từ Hải:
Cây đàn trên ngựa phân vân
Bốn dây tay chợt buông ngân tiếng hờn
Tiếng chi thác đổ mây vờn
Chừng nghe kiếm gẫy xanh rờn lửa reo
Tiếng chi suối lệ tuôn theo
Chừng nghe sương tụ, gió heo hút đời.

                                    (Vương mấy tơ đồng)

Thăm mộ Từ Hải, trong ký ức Kiều, hình bóng đấng trượng phu hiện lên ngang tàng, lãng mạn “Tưởng chàng bẻ kiếm dựng râu – Nốc nghiêng bát rượu, trên đầu cài trăng“. Tiếng đàn đồng vọng lập tức vang lên trong lòng cố nhân:
Tiếng ngân chìm đắm mơ màng
Một dây to nhỏ hồn man mác trời
Buông chi tiếng nhặt tiếng rơi
Trong u ẩn gió nghe tơi tả lòng

                                    (Chải tóc thu phong)

Kiềuhồi tưởng buổi tối đánh đàn cho Kim Trọng và sư thầy Văn Chương nghe.Nhà sư trợ điện giúp Kiều tỉnh thức khỏi nghiệp đàn, hoà tâm cảm vàothiên nhiên đại Đạo:
Mây ùn mười ngón lâng lâng
Viền trăng hư ảo trên tầng khói xây
Đất dồn nhựa mạnh ngất ngây
Ánh trăng đọng xuống mấy dây lặng chìm.

                                    (Tơ thiêng nhập hóa)

Tại sao con người lại ngu ngốc đem lòng giam vào hữu thanh? Trong phút chốc bừng tỉnh, Kiều đã hoàn toàn giác ngộ:
Diệu hành là tiếng không ta
Không âm thanh ấy mới là âm thanh
                                    (Vương mấy tơ đồng)

Tiếng đàn trong Hậu Kiềuquả là cả một nghệ thuật thiền, một công án thiền. Lắng nghe những âmsắc Kiều gảy, mỗi người tự mở ra cho mình một chân trời riêng.

Trong lần hành hương về Tiên Điền mới đây, Phạm Thiên Thư đã ngoại cảm bên mộ Người:
Nguyễn Du đâu phải nhìn không ra
Đem chuyện Tàu thi hóa tiếng ta
Hẳn muốn chứng minh cho học giới
Tiếng mình dư sức tỏa hương hoa
                                    (Năm 2000 đọc lại Nguyễn Du)

Phạm đã tỏ ra thông cảm và nhìn nhận đúng bản chất của văn hoá vay mượn. Nếu ham chuộng thái quá thì “nô dịch đưa voi đạp mộ nhà“. Theo Phạm, Nguyễn đã không còn “Rút hay người thêm để hay ta” mà còn tiến xa hơn “tỉnh thức dòng nô dịch – Kinh viện hơn Tàu mới dễ xoay“; rõ ràng là “Cụ không thuần túy làm văn nghệ – Hay đẹp dùng như dấy nghĩa binh“. Hẳn “nho ta” đã nhận thức ra nguyên lý “Tự chủ đầu tiên phải giữ hồn – Có cố tâm mới vững biên cương“.

Bámchắc vào cơ sở tiếng Việt thuần tuý giàu và đẹp, không hề vay mượn,ngôn ngữ của Phạm Thiên Thư được chắt lọc tinh túy nên đẹp óng ả, gợitình.
Chất tạo hình trong thơ có họa của Phạm Thiên Thư kháphong phú, điêu luyện. Những vật vô tri đã bộc lộ được tính linh conngười. Hình sắc, ánh sáng, bố cục, không gian, thời gian trong bút phápuyển chuyển và linh hoạt của Phạm Thiên Thư đã vẻ ra được những bức tâmcảnh điêu nghệ. Đây là khoảnh khắc Kiều bâng khuâng hồi tưởng “Tiểu khê cỏ vẫn xanh gầy – Mùa thu chết đuối bóng mây giữa dòng” (Kiều ngồi ven suối). Một nét phác thảo dung nhan: “Người buồn lãng đãng sương mù – Gió tai tái lạnh về ru nét mày” (Mây thu cuộn vàng). Cảnh bồn chồn trên đường hồi hương: “Cỏ cây thấp thoáng qua màn – Dập dồn vó ngựa gõ khan mặt đường” (Mây thu cuộn vàng). Cảnh Kiều trở lại viếng sư thầy ân nhân Giác Duyên “Non xưa am vắng u hoài – Cây trơ sắc nhớ, cỏ dài ngọn trông” (Tẩy nước cành dương). Tả nhớ mong đợi chờ “Tóc nàng dài sợi hoàng hôn – Cò bay dằng dặc cô thôn gọi chiều” (Bao năm tơ tưởng). Tả tâm trạng hoang mang, rối loạn: “Tỉnh ra thương phận lạc loài – Tưởng hoa còn rụng trên vai liễu mềm” (Lắng tiếng chim vang). Tả bàn chân đi nặng ưu tư giữa chiến trường xưa: “Rã rời từng bước rêu nhung – Hài gieo giữa cõi vô cùng hoang mang” (Chải tóc thu phong), lúc lại rưng rưng “Bước chân nẫu nhớ mùi quê – Đất truyền nhựa mạnh, mừng tê tái mừng” (Bao năm tơ tưởng). Những chấm phá liên tưởng sắc nét: “Chim nào hót giữa lùm mai – Chừng như thoảng tiếng thở dài trên yên” (Chải tóc thu phong), “Sườn non nửa mảnh trăng nhô – Cong thành một nét mơ hồ mi ai” (Chải tóc thu phong), “Cho sầu thêm võ hoa dong – Tỳ bà đẫm một nét cong trăng vàng” (Năm cung trường lệ)…

Phạmđã miêu tả vẻ đẹp của ngoại cảnh để đi sâu vào thế giới tâm hồn nhânvật. Tác giả bài trí thiên nhiên rất có trọng tâm, phép đậm nhạt liềulượng dùng có chủ ý. Tính cách nhân vật được xây dựng trên nhiều nền vẻcủa thiên nhiên. Cái này làm nổi cái kia, cái kia tôn cái nọ. Phạm đãsử dụng thành thạo và nhuần nhuyễn thể thơ lục bát như cây thiết bổngtrong tay Tôn Hành Giả. Tài dùng chữ của Phạm có chỗ đạt đến trình độ”hoá công”.
Cây cầu lửng giữa trăng sao
Phải chăng cửa ngõ đi vào huyền căn
Tiếng tơ kết kén ôm tằm
Biết đâu hoa bướm trăm năm một lần
.
Phạm có những đoạn thơ quỷ khốc thần sầu:
Lên non trẻ hái hoa vàng
Còn reo nhặt được kiếm han rỉ cùn
Đêm về bần bật kiếm run
Mồ hồi thép toát hiện hồn ba quân
.
                                    (Mây thu cuộn vàng)
bên những câu thơ thanh tao, dung dị:
Tàng hoa trắng cội phù vân
Tiếng chim khuyên rụng trong ngần như sương
Bao năm vẫn một mùi hương
Trước sau thơm đến dị thường trong ta
Phải chăng hoa của quê nhà
Thơm trong hoài niệm mới là mãi tươi.
                                    (Lắng tiếng chim vang)

Bútpháp tả cảnh, tả tình của Phạm Thiên Thư khá là cổ điển, rất Nguyễn Du.Ngôn ngữ thi ca của Phạm Đại đức đã làm cho chúng ta khó mà nhận rađược vết hàn nối giữa hai tác phẩm Truyện Kiều Hậu Kiều:
Sông dài cởi yếm hoàng hôn
Bầy chim ngủ đậu bên cồn lại bay
Gió về đưa ngọn sóng say
Tiếng ca mục tử cuối ngày gọi trâu
Bãi xa cỏ tím rầu rầu
Mái đình rêu vọng trống chầu nhịp mưa
                                    (Ai để hoa dung)
Bè ai thả vó ven đê
Nửa ngâm ráng đỏ, nửa kề mây xanh.

                                    (Chải tóc thu phong)
Mênh mang hoa trải gấm phơi
Hoa lay tưởng ngọn bút trời phê văn

                                    (Lòng như khối ngọc)
bên những âm hưởng trữ tình trong trẻo, thắm khỏe, mộc mạc của ca dao nơi tâm trạng Vương bà nhớ quê xa:
Quê nhà dù cất mái tranh
Mà trong thân tộc, mà quanh bạn bè
Hiền hòa khóm trúc bờ tre
Vẳng nghe tiếng Cuốc sang hè gọi khan.
                                    (Khói mờ ngoài sông)
Thật đúng là “Tưởng ngày hoa lạc long đong – Niềm quê sợ cả nỗi mong vụng thầm“.

Trung thành với phong cách ngôn ngữ Truyện Kiềucủa Nguyễn Du, Phạm Thiên Thư đã vượt qua bút pháp ước lệ tượng trưngcủa chủ nghĩa cổ điển, khai triển tứ thơ nhẹ tự sự, nặng trữ tình trongnhững màn độc thoại nội tâm sâu sắc tình tiết, lớp lang. Đọc Đoạn trường vô thanh, bạn độc sẽ hỏi: đây là tiểu thuyết bằng thơ? hay khúc ngâm? Rõ ràng nghiêng về khúc ngâm. Da thịt Hậu Kiềuthì hồng hào tươi tốt, nhưng xương cốt của nó lại mềm yếu. Bằng cách đểcho các nhân vật hồi ức, Phạm Thiên Thư đã tô đậm thêm những chỗ cònthiết sót và mờ nhạt của Truyện Kiều Nguyễn Du. Nghệ thuật biểu hiện linh hoạt và ngôn ngữ cẩm tú của Đoạn trường vô thanh có khá nhiều câu, đoạn, chương hay nghiêng ngửa với Đoạn trường tân thanh. Hai quyển Kiều có giá trị bổ sung nâng đỡ làm đẹp cho nhau, chứ không phải loại trừ nhau như có người lầm tưởng.

Những chương, đoạn: Về cuộc du sơn (Bức thứ 3: Ruổi rong nhật nguyệt, từ câu 45 đến 114); So dây sóng gợn (Bức thứ 5, từ câu 199-266); Thăm lại am Giác Duyên (Bức thứ 8: Tẩy nước cành dương, từ câu 645-752); Năm cung trường lệ (Bức thứ 9, từ câu 753-782); Vương Quan thương nhớ Ẩn Lan (Bức thứ 16: Ai để hoa dung, từ câu 1756-1816), Vương Bà nhớ quê (Bức thứ 18: Khói mờ ngoài sông, từ câu 1967-1980); Kiều thăm mộ Từ Hải (Bức thứ 20: Chải tóc thu phong, từ câu 2.299-2.334); Thúy Kiều trở lại cố hương (Bức thứ 22: Mây thu cuộn vàng, từ câu 2.719-2.770); Kiều thăm mả Đạm Tiên (Bức thứ 25: Kiều ngồi bên suối, từ câu 3.065-3.144)… có thể xem là những tuyệt bút.

Trong bốn người viết nối Truyện Kiều,nhà thơ Phạm Thiên Thư là người xuất chúng thành công hơn cả. PhạmThiên Thư đã đem hết can đảm, tài năng, tấm lòng khóc thương Tố Như vĩđại bằng cách tạo tác ra được một lâu đài thơ tráng lệ, tỏ rõ là mộtmôn đệ âm tri kỷ của Người. Hẳn Nguyễn tiền bối cũng được ngậm cười nơichín suối.
Đoạn trường sổ gói tên hoa
Xưa là giọt lệ nay là hạt châu.
Hạt châu
lấnh lánh – đuốc tuệ tỏa sáng soi đường cho ta tìm về với những giá trị thiêng liêng giữa cội nguồn dân tộc.

Đoạn trường vô thanh chiếmgiải Nhất thơ (bộ môn trường thiên) năm 1973 do cụ Á Nam Trần Tuấn Khảilàm chánh chủ khảo. Tác phẩm đã được in đi in lại nhiều lần ở trong vàngoài nước
Kìa đường dân tộc mong tìm mở
Đây khách tâm hồn khó nín thinh
Vận mới khơi thêm dòng nhiệt huyết
Điệu xưa tô lại nét thâm tình
Đoạn trường – ai đã qua cầu ấy
Lắng thử Vô thanh tiếp Hữu thanh.

                                    (Cảm đề – Á Nam Trần Tuấn Khải)

Saungày miền Nam giải phóng 30-4-1975, Phạm Thiên Thư chuyển sang hoạtđộng y học. Là người sáng lập và là chủ trường phái chữa bệnh bộ mônĐiện công Phathata hay thể dục thân tâm, Phạm không quên mình là nhàthơ, đã sáng tác một số thơ vui vho người bệnh thư giãn thần kinh, phụchồi sức khỏe. Đưa tiếu lâm vào lâm sàng cũng là cách phát huy tinh thần”nụ cười bằng mười thang thuốc“. Trong dưỡng sinh, đa số họcviên già, mang nhiều chứng bệnh mãn tính, nhất là chứng buồn. Thơ vuiđã làm các cụ bớt căng thẳng, ăn ngủ dễ hơn. Phạm đã chọn thể thất ngôntứ tuyệt với ngôn ngữ dung tục, ngộ nghĩnh, đề cập đến những vấn đề gầngũi đời thường:

Áo tắm dùng khi xuống pít-sin
Cốt che đại khái chỗ ưa nhìn
Chỉ riêng phải mặc thi hoa hậu
Trình rõ eo đùi, kiểm chứng “dzin”
                                    (Áo Tắm)
Hoặc cũng có bài nặng chất thơ:
Mùa thu qua nhà thăm giậu cúc
Em nghiêng hái hoa, xanh áo lục
Mùa đông qua nhà hỏi cội mai
Sao đẹp như em chồng vẫn “đục”
                                    (Cúc)
Có khi lại khai triển một nhân vật tiểu thuyết hay giai thoại:
Kim mơ thấy chàng là chú rể
Vào nhà Vương ông rất oai vệ
Kiều nhi chúm chím cười như hoa
Mà sao long lanh đôi ngấn lệ.

                                    (Chú rể)

Ngoài bộ Tiếu liệu pháp, Phạm Thiên Thư còn viết Huyền ngôn. Những lời huyền diệu này giống như danh ngôn, chở nặng những thông điệp tư tưởng.
Huyền ngôn củaPhạm Thiên Thư đọc rất thú. Có thể nói đó là những áng thơ văn xuôituyệt mỹ. Tôi nhớ có lần Phạm Thiên Thư bàn về thơ, khá xác đáng trongtrường hợp của người: “Thơ hay phải dày kinh nghiệm, phải chiếm cảmquan, phải san trí tuệ, phải để trong tâm, phải trầm trong nhạc, phảinạp trong tình, tụ hình nơi khoảng trống, để sống với tất cả“.

Tổquốc của các tu sĩ là tu viện. Phạm tuy thân ở trong chùa những tâm lạiở ngoài chùa. Nhà sư bồ tát này lo cả việc đạo lẫn việc đời, chuyên chúchu toàn cả hai. Toàn bộ thi phẩm của Phạm Thiên Thư nhuốm sắc thái đặcbiệt khác người vừa đạo vừa đời, sắc bất dị không, không tức thị sắc và rất Việt Nam.

Từ việc thi hoá những bộ kinh cốt tùy của đạo Phật, Việt hoá thiền qua 10 bài Đạo ca (nhạc PD) đến việc nối điêu vào Truyện Kiều, viết Huyền ngôn, Sử thi, từ điển cười Tiếu liệu pháp, khai sáng môn Điện công Phathata…tiếp tục biểu dương tinh thần y dược dân tộc, cái đầu của Phạm ThiênThư thật đáng sợ. Ý thức tự tôn dân tộc cao cả và thái quá của Phạm làđộng lực thúc đẩy nhà thơ sáng tác. Tinh thần tiến công khoa học, vượtngười xưa là một thái độ đáng nể trọng. Phạm Thiên Thư chỉ vụt qua bầutrời thơ ca miền Nam như một ánh sao băng. Mới 35 tuổi đời (1975), Phạmđể lại mười vạn câu thơ! Chúng tôi đã tập trung đọc ròng rã một thángnhưng vẫn không hết những cái Phạm đã viết. Người hẳn có tới “mười cánhtay” – một cỗ máy làm thơ khủng khiếp, ào ạt. Kinh Hiền với 12.000 câu viết trong một năm rưỡi; tập thơ Quyên từ độ bỏ thôn Đoài112 bài thơ viết trong 23 ngày. Trong núi thơ đó, cái hay nhiều, cái dởcũng lắm. Chúng tôi thật sự phân vân. Phạm Thiên Thư sáng tác nhiều nhưvậy nhằm mục đích gì? Làm thế cái lượng tránh sao khỏi lại không làm nhảm cái phẩm của mình ra?

                                                                                       Nguồn:tapchisonghuong.com.vn