Hòa Thượng Khai Sơn

Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Tâm Khai (Gửi ngày 12 tháng 11 năm 2007 lúc 8:43 pm)
Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Tâm Khai (Gửi ngày 12 tháng 11 năm 2007 lúc 8:43 pm)

CỐ HÒA THƯỢNG THƯỢNG TÂM HẠ KHAI – KHAI SƠN DIỆU PHÁP TỰ

I. THÂN THẾ

Hòa Thượng pháp danh Thượng TÂM Hạ KHAI tự PHƯỚC HÒA hiệu GIẢI THOÁT, thế danh Nguyễn Thanh Liêm, sinh năm Tân Tỵ(1941) tại Sài Gòn – Gia Định. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Quý,người Nam Định di cư. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Điểm, người Gia Định. Hòa thượng là con thứ sáu trong một gia đình có đông anh chị em.

Xuất thân trong một gia đình thuần tín Phật giáo,ngay từ thuở nhỏ, Hòa Thượng đã muốn quy y cửa Phật. Năm lên bảy tuổi, Hòa Thượng đã trốn gia đình đi xuất gia nhưng ba mẹ vì thương con còn nhỏ dại nên bắt về lại gia đình.

II. THỜI KỲ XUẤT GIA HỌC ĐẠO

Năm 14 tuổi (1954), Hòa Thượng xin phép cha mẹ xuất gia. Được sự đồng ý của gia đình, Hòa Thượng về tại chùa Long Hòa tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, nơi chốn Tổ Thiên Thai, xuất gia với Hòa Thượng Bổn sư là cố HT. Thích Pháp Hiển. Sau 3 năm miệt mài công quả, không nề hà công việc nặng nhọc, lại chịu khó học hỏi, Hòa Thượng được Bổn sư cho phép thọ giới Sa Di. Lúc đó, Hoà Thượng mười bảy tuổi, tức là vào năm 1957. Thọ giới xong, Hòa Thượng đi đến nhiều nơi như : Chùa Hưng Thạnh, Trúc Lâm, Liên Trì, Tập Thành … để tham vấn học hỏi và làm các công tác Phật sự. Đến năm 27 tuổi (1967), Hòa Thượng mới đăng đàn thọ giới Cụ Túc, được Bổn sư cho tên tự là Phước Hòa, hiệu Giải Thoát.

III. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO

Khi còn là một Sa Di, trong cảnh nước mất nhà tan, lại xuất thân tại Tông phong Thiên Thai, một Tông phong yêu nước,Hòa Thượng đã mang hoài bão hiến dâng cuộc đời cho Đạo pháp và Dân tộc. Năm 1963, Hoà thượng đã tham gia các phong trào kêu gọi hòa bình cho đất nước, bị chính quyền đương thời truy đuổi nên phải trốn lên Bình Dương, tại các chùa Tân Hoà và các chùa trong vùng để tiếp tục hoạt động. Các sinh viên yêu nước đã dẫn dắt Hòa Thượng đã tham gia phong trào sinh viên học sinh biểu tình đòi hòa bình khi đang tu ở chùa Tập Thành. Nhiều sinh viên yêu nước đã đề nghị Hòa Thượng tìm cách xây dựng một cơ sở để che chở và giúp đỡ họ trong việc chiến đấu vì sự thanh bình của nước nhà. Lời đề nghị ấy trùng hợp với ý nguyện của phật tử tên là Hai Đầy muốn hiến cúng đất xây chùa. Có đất rồi, Hòa Thượng đã bắt đầu xây dựng ngôi chùa.Vì ban đầu muốn có đất để thành lập chùa, Hoà thượng đã phát nguyện tụng kinh Diệu Pháp Liên Hoa cầu nguyện cho ý nguyện được sớm thành tựu. Tụng kinh xong, ba ngày sau có người hiến đất, trước sự linh diệu đó nên Hoà thượng đặt tên chùa là Diệu Pháp.

Năm 1964 – 1965 Hòa Thượng luôn là người đi đầu trong các phong trào phản đối chiến tranh của sinh viên học sinh và đồng bào Phật tử chống lại những việc làm sai trái của chế độ cũ. Đã nhiều lần Hòa Thượng bị cảnh sát chế độ cũ bắt giam và đưa ra xét xử.

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Hòa Thượng tham gia tiểu bang Phật giáo của Mặt Trận Dân Tộc và Ban Liên Lạc Phật Giáo Sài Gòn – Gia Định.

Đến năm 1987, Hòa Thượng giữ chức Chánh Đại Diện Phật Giáo Quận Bình Thạnh. Đầu năm 1992, Hòa Thượng xây dựng “Mái Ấm Tình Người” để cưu mang những người già neo đơn không nơi nương tựa tại chùa Diệu Pháp. Cơ sở này đến nay vẫn duy trì và thường xuyên có trên 60 cụ.

Những năm sau đó, Hòa Thượng liên tục tổ chức các cuộc cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt Bất cứ ở đâu, từ các căn cứ địa Cách mạng hẻo lánh, hay miền đồng bằng sông nước lầy lội, nơi nào có khó khăn nơi đó có hình bóng của Hòa Thượng.

Vào năm 1996, Hoà thượng trở lại tỉnh Bình Dương, thăm lại những nơi hoạt động cũ, những Phật tử tại chùa Tân Hoà hiến cúng ngôi chùa này. Lúc đó ngôi chùa đã đổ nát, không còn chỗ để tụng kinh, Hoà thượng đã trùng kiến lại, xây dựng mở mang thêm cho trang nghiêm, để đáp ứng các Phật sự thường ngày. Chùa Tân Hoà đã hồi sinh từ đây.

Suốt cuộc đời hành Đạo, Hoà thượng luôn lấy phương châm “ Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật” làm lẽ sống của mình.Ghi nhận sự đóng góp cho Phật giáo của Hòa Thượng, năm 1997 Hòa Thượng được tấn phong Giáo phẩm Thượng Tọa và được bầu vào Ủy Viên Dự Khuyết Thành Hội Phật GiáoTP.HCM. Đầu năm 1999 Hòa Thượng được đề cử giữ chức Phó ban Hướng dẫn nam nữ cư sĩ phật tử của Trung ương Giáo hội.

IV. NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG

Những ngày bị bắt bớ, do chịu sự tra tấn đau đớn thân xác nhiều lần trong nhà tù của chế độ cũ, đã để lại những di chứng trên thân thể. Về sau, Hòa Thượng thường bị những vết thương cũ hành hạ. Những năm cuối cùng, Hòa Thượng mang nhiều bệnh nan y và thường phải nhập viện để đi điều trị, thế nhưng không khi nào Hoà Thượng nghĩ đến bản thân, mà vẫn luôn tham gia các công tác từ thiện. Đến đầu năm 2001, bệnh Hoà thượng trở nên trầm trọng, các bệnh cũ tái phát. Mặc dù được sự chăm sóc chu đáo của bộ phận Y, Bác sĩ và hàng đệ tử xuất gia cũng như tại gia, bệnh tình vẫn không thuyên giảm.

Vào ngày mồng 2 tháng 6 năm Tân Tỵ, Hòa Thượng thâu thần tịch diệt, hưởng thọ 61 tuổi Đời, 47 tuổi Đạo, 34 hạ lạp. Ghi nhận những đóng góp của Hòa Thượng cho Giáo Hội, TWGH đã truy phong Giáo Phẩm HÒA THƯỢNG trong tang lễ của Hòa Thượng. Nhục thân Hoà Thượng được nhập bảo tháp tại chùa Tân Hoà, xã Tân Đông Hiệp, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Hôm nay, đã bốn năm trôi qua, kể từ ngày khuất bóng Hoà Thượng, hàng đệ tử xuất gia cũng như tại gia vẫn thương tiếc không nguôi, luôn hướng về những ân đức của Bổn sư mình, và nguyện phát huy những Phật sự đang dở dang của ân sư. Chúng ta hãy dành tất cả lòng tâm thành để hướng về một bậc xuất gia chân chính đã suốt đời hy sinh cho Đạo pháp và Dân tộc. Nguyện cầu Hoà Thượng sớm hội nhập cõi Ta Bà để tiếp tục hoá độ chúng sanh.

Nam mô A Di Đà Phật