Hiệu ứng thoả hiệp (1)

0
134

Trong tâm lý học xã hội, ảnh hưởng của đa số được nghiên cứu với hiệuứng nổi tiếng là hiện tượng thoả hiệp. Dưới góc độ tâm lý học, hiệntượng thoả hiệp thể hiện mối quan hệ giữa quan điểm của cá nhân và quanđiểm của nhóm (hay những người khác). Hiện tượng này thường xuất hiệntrong hoàn cảnh có mâu thuẫn giữa ý kiến cá nhân và ý kiến của đa sốtrong nhóm, và trong quá trình giải quyết mâu thuẫn đó, cá nhân có xuhướng hướng ý kiến hay hành vi vủa mình theo quan điểm của đa số. Trongnghiên cứu hiện tượng thoả hiệp, các nhà tâm học thường gắn hiện tượngnày với áp lực nhóm. Việc cá nhân tiếp nhận hay không tiếp nhận quanđiểm của nhóm nói lên mức độ cá nhân chấp nhận áp lực của nhóm.

Thí nghiệm của Ash.

Ash là người đầu tiên nghiên cứu hiện tượng thoả hiệp. Thực nghiệm sau đây của ông được tiến hành vào năm 1951.

Trong thực nghiệm của mình, Ash đề nghị một nhóm sinh viên (gồm 7 đến 9người) xác định độ dài của những đoạn thẳng mà người ta cho họ xem. Cácđoạn thẳng này được trình bày trên hai bức vẽ. Trong bức thứ nhất (đượcgiơ lên bằng tay trái) có vẽ một đoạn thẳng. Trong bức vẽ thứ hai (ởtay phải) – vẽ 3 đoạn thẳng, trong đó chỉ có một đoạn thẳng có độ dàibằng độ dài đoạn thẳng ở bức vẽ bên tay trái. Các nghiệm thể được đềnghị xác định xem đoạn thẳng nào ở bức vẽ bên tay phải có độ dài bằngđoạn thẳng ở bức vẽ bên tay trái.

Trong bước 1, thực nghiệm được tiến hành riêng rẽ với từng nghiệm thể.Kết quả thu được cho thấy tất cả các nghiệm thể đều thực hiện tốt bàitập. Họ đều chỉ đúng đoạn thẳng ở bức vẽ bên tay phải có độ dài bằng độdài của đoạn thẳng ở bức vẽ bên tay trái.

Trong bước 2, các nghiệm thể tham gia thực nghiệm theo nhóm. Ash tiếnhành thực nghiệm như sau: Trước khi tiến hành thực nghiệm, người làmthực nghiệm (nghiệm viên) đã thoả thuận trước với tất cả các nghiệm thể(trừ một người – được gọi là chủ thể ngây thơ) để họ cố tình trả lờisai khi nghiệm viên giơ các bức vẽ lên. Chủ thể ngây thơ là người trảlời cuối cùng. Mục đích của thực nghiệm nhằm xác định xem “chủ thể ngâythơ” có giữ ý kiến đúng của mình không (đã xác định ở bước 1), hay anhta thay đổi ý kiến, nghiêng về ý kiến của các thành viên khác do cảmthấy áp lực của nhóm.

Trong thực nghiệm của Ash, 37% số “chủ thể ngây thơ” đã đưa ra các câu trả lời sai (họ đã thay đổi ý kiếnđúng ban đầu của mình). Như vậy hành vi thoả hiệp đã xuất hiện.

Trong phỏng vấn sau thực nghiệm với từng nghiệm thể, Ash thấy rằng, tấtcả các “chủ thể ngây thơ” đều khẳng định rằng ý kiến của đa số đã có áplực rất mạnh đối với họ, rằng chống lại ý kiến đó là rất khó khăn vì họluôn cảm thấy dường như ý kiến của họ là sai.

Sau này nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học xã hội đã phê bình thực nghiệmcủa Ash. Các ý kiến phê bình tập trung vào mấy khía cạnh sau đây: thứnhất là nghiên cứu của Ash không phải là một nghiên cứu áp lực nhóm lêncá nhân mà là nghiên cứu, trong đó một tập hợp các cá nhân tạm thờiliên kết lại với nhau khi cùng thực hiện một công việc như nhau. Hailà, hoàn cảnh thực nghiệm ít có ý nghĩa đối với các nghiệm thể, màtrong tâm lý học xã hội, đây là một khía cạnh rất đáng quan tâm. Ba là,trong thực nghiệm không tồn tại một hoạt động chung. Tuy vậy, thựcnghiệm của Ash vẫn có ý nghĩa rất lớn, nó đã phác hoạ một hiện tượng cóthực, tương đối phổ biến trong cuộc sống.

Hoa Lê (VTLH)