ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO TẠI HUNGARY

0
123

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14

Do đã hết chỗ, Ban tổ chức quyết định sẽ tường thuật các buổi thuyết giảngtrên website của họ. Tuy nhiên, do điều kiện kỹ thuật, trong cùng mộtthời điểm chỉ tối đa 10 ngàn người có điều kiện lắng nghe các bài giảngtrực tuyến và giao lưu tương tác với chương trình, nên việc theo dõitrên website cũng cần phải đăng ký trước.

Thiện cảm với đại diện của Phật giáo

Mặcdù được tổ chức thành những chủ đề riêng cho các tín đồ Phật giáo vànhững người có sự quan tâm đến tôn giáo này, nhưng Ban tổ chức nhấnmạnh rằng những lời dạy, khuyến cáo của Đức Đạt Lai Lạt Ma là dành chotất cả mọi người. Những ai mở lòng để tiếp nhận cơ hội và sức mạnhtrong việc tìm hiểu bản thân và thế giới một cách sâu sắc, đều có thểđặt cuộc sống của mình trên một cơ sở mới.

Chính sự cởi mở đó – không đòi hỏi cử tọa phải là Phậttử – đã đem lại sức quyến rũ lớn cho người Hungary đến với các buổithuyết giảng, vì họ tin rằng có thể thực hành những giáo lý của vị ĐạtLai Lạt Ma theo cách riêng của mình, mà không phải từ bỏ những tínngưỡng, đức tin tôn giáo cá nhân.

Mặt khác, những ai đã có dịp đọc các trước tác của Ngàinhư “Cốt tủy của hạnh phúc”, “Chữa lành cơn thịnh nộ”, “Biển của TríHuệ”…, được chuyển ngữ rộng rãi sang tiếng Hungary, đều muốn chiêmnghiệm sức hút đặc biệt của vị “thánh nhân” này, người đã từng có mặttại Hungary nhiều năm trước chuyến công du chính thức.

Cạnh đó, những hồi ký của Ngài như “Tự do trong lưuđày” cũng được độc giả Hungary rất yêu mến  và gần gũi, như minh chứngcho nỗ lực đấu tranh bất bạo động bền bỉ cho nền tự do của Tây Tạng, “trên tinh thần khoan dung và tôn trọng lẫn nhau để bảo vệ lịch sử và tài sản văn hóa của con người” (lý giải của Ủy ban Hòa bình Nobel năm 1989).

Truyền thống Phật giáo lâu đời

Đángngạc nhiên là một xứ sở xa xôi tại Đông Âu như Hungary là một quốc giacó truyền thống lâu đời về đạo Phật, đặc biệt là Phật giáo Tây Tạng.Một số cư sĩ Phật giáo cho rằng do có nguồn gốc xuất xứ từ Phương Đôngnên các giá trị văn hóa Phương Đông, trong đó có Phật giáo, luôn tồntại một cách vô hình trong tâm thức người dân Hungary.

Sự hấp dẫn và phát triển của Phật giáo tại Hungary cũngđược nhiều người lý giải là bởi khi tiếp cận với Phật pháp, ngườiHungary luôn có cảm giác như họ đang nghe những giáo lý quen thuộc, đãtừng được biết tới.

Khởi điểm và đặt nền móng cho Phật giáo Tây Tạng tạiHungary, phải kể đến sự nghiệp nghiên cứu Tây Tạng và Phật pháp củaKőrösi Csoma Sándor, một học giả sinh vào cuối thế kỷ 18.


Họcgiả Hungary Kőrösi Csoma Sándor, người đặt nền móng cho sự nghiên cứuPhật giáo, ngôn ngữ và văn hóa Tây Tạng tại Châu Âu và Hungary

Trongnhững chuyến hành hương về Phương Đông, đặc biệt là sang Tây Tạng đểtìm thủy tổ của dân tộc Hungary, ông đã chấp bút cuốn tự điển Tây Tạng- Anh đầu tiên (năm 1834), tổng hợp những nguyên tắc ngữ pháp của ngônngữ Tây Tạng và như thế, Kőrösi Csoma Sándor được coi là người đã sánglập bộ môn khoa học nghiên cứu về Tây Tạng.

Có học vấn uyên bác, đọc thông viết thạo 20 thứ tiếng,trong quá trình dịch thuật kinh sách và truyền bá ngôn ngữ Tây Tạng,Kőrösi Csoma đã đồng thời giới thiệu những khái niệm căn bản của Phậtgiáo Tây Tạng tại Hungary và Châu Âu đương thời.

Nhờ sự nghiệp truyền bá đó, vào ngày 22-2-1933, tại Đạihọc Phật giáo Taisho (Tokyo), ông đã được “tấn phong” Bồ tát (ông làngười Châu Âu đầu tiên được danh hiệu đó), mặc dù suốt đời ông vẫn giữniềm tin vào đạo Tin Lành và chỉ khiêm nhường coi mình là một “môn đệ Phương Tây” của Phật giáo.

Được đánh giá là người đ㠓mở trái tim Phương Tây trước giáo lý nhà Phật”,Kőrösi Csoma Sándor trở thành một biểu tượng tại Hungary như người kếthợp giữa tinh thần dân tộc, nguồn cội và Phật giáo. Có thể coi ông làngười đặt những cột mốc đầu tiên cho sự xuất hiện của các nhóm tìm hiểuPhật giáo tại Hungary từ cuối thể kỷ 19.

Hoạt động Phật giáo phong phú

Mộtphần nhờ sự nghiệp chói lọi và không thể phủ nhận của Kőrösi CsomaSándor mà trong những thập niên dưới thể chế cộng sản tại Hungary, khitất cả các tôn giáo đều bị Nhà nước hạn chế và quản lý ngặt nghèo, thìđạo Phật vẫn có đất sống.

Năm 1952, đúng vào thời kỳ đen tối nhất của các giáohội ở Hungary, với sự ủng hộ của một vị Lạt Ma người Đức, tại Budapestđã thành lập một hội Phật giáo theo nhánh Đại thừa mang tên Sứ mệnhPhật giáo (Buddhista Misszió), đứng đầu là một cư sĩ Hungary tên làHetényi Ernő (1912-1999).

Đồng thời, vào năm 1956, Hetényi Ernő – người sau nàytrở thành một Lạt Ma – cũng thành lập tại Berlin và Budapest một ViệnNghiên cứu Phật giáo Quốc tế mang tên Học viện Phật giáo Kőrösi CsomaSándor.

Trong những thập niên sau đó, dưới sự quản lý của CụcTôn giáo Quốc gia, Sứ mệnh Phật giáo là tổ chức Phật giáo duy nhất đượcchính thức cho phép hoạt động tại Hungary và còn có những sinh hoạtmang tính quốc tế.


Tháp tưởng niệm học giả Kőrösi Csoma Sándor tại Vũng Tàu

Chínhtổ chức này, vào năm 1972, đã cho xây dựng một ngôi chùa tháp tưởngniệm Kőrösi Csoma Sándor tại Vũng Tàu, Việt Nam, theo đề xướng của cưsĩ Rudolf Petri (1915-1980), giảng viên Học viện Phật giáo Kőrösi CsomaSándor (Budapest). (*)

Và, mặc dù không được phép chính thức ấn hành sách vở,nhưng dưới hình thức “samizdat” (tự xuất bản), nhiều kinh sách in rêneôđã được Giáo hội này lan truyền trong giới Phật tử và những người tìmhiểu Phật giáo Hungary.

Cuối thập niên 80 và nhất là sau khi Hungary thay đổithể chế chính trị, xuất hiện rất nhiều cơ sở Phật giáo (đa phần theonhánh Tây Tạng và Ấn Độ) vì theo luật định, chỉ cần một nhóm 100 ngườicùng đức tin là đủ để thành lập một giáo hội được tòa án chính thứccông nhận.

Hungary đã có trường Cao đẳng Phật học thành lập từ năm1992 thu hút nhiều thanh niên, trí thức, với chương trình giảng dạy vềgiáo lý, Đông Phương học và Hán học có nhiều điểm đặc sắc được coi làđộc nhất vô nhị tại Châu Âu.


Stupa Hòa bình tại Zalaszántó

Hungarycũng có có tới 7 tòa stupa (tháp bà), trong đó, stupa ở vùng Zalaszántóđược coi là thánh đường Phật giáo lớn nhất Châu Âu, và cũng là nơi duynhất tại Châu Âu được giữ một phần xá lợi của Đức Phật Tổ.

Tọa lạc trên một quả đồi cao 316m, tòa tháp này cao36m, bề ngang 24m, được gọi bằng cái tên stupa Hòa bình, do đích thânĐức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 cắt băng khánh thành vào ngày 17-6-1993 nhưmột “biểu tượng của hòa bình, hạnh phúc và giác ngộ”.

Từhai thập niên nay, với sự xuất hiện của một số cộng đồng Á Đông tạiHungary, Phật giáo tại nước này có thêm những nét mới. Cộng đồng ngườiHoa đã có hai ngôi chùa và Giáo hội Phật giáo riêng tại Budapest, nơiquy tụ cả những Phật tử Hungary và Việt Nam.

Trong tương lai không xa, cộng đồng Việt Nam cũng dự tính sẽ có ngôi chùa cho riêng mình: sự ra đờicủa Hội Phật tử Việt Nam tại Hungary vào mùa hè năm ngoái, cũng nhưhoạt động một số nhóm Phật tử khác cho thấy đời sống tâm linh ngày càngđóng vai trò lớn trong sinh hoạt văn hóa và tinh thần của bà con Việttại đây. (**)

(*) Sau nhiều năm không được chăm sóc, hiện tại tòa tháp bà đã bị hư hại nhiềuvà tọa lạc trong một khu hoang vu, bị các hộ dân địa phương lấn chiếmbất hợp pháp thành nơi nuôi lợn, chó… Các thành viên thuộc đoànHungary tham dự Lễ hội Ẩm thực Quốc tế (World Food Festival, tổ chứcvào cuối tháng 7-2010 ở Vũng Tàu) đã phải rất khó khăn mới tìm được đếntòa tháp để đặt hoa tưởng niệm vị học giả lớn.

Trongnăm nay, nhân kỷ niệm 60 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam- Hungary, một kế hoạch trùng tu stupa đã được ĐSQ Hungary tại Việt Namvà Quỹ Văn hóa Vì văn hóa Hungary – Việt Nam dự tính thực hiện.

(**) Bản tin đã trích đăng tại RFI.

Hoàng Nguyễn, từ Budapest

(nhipcauthegioi)