Đinh Tiên Hoàng bị sử sách gọi nhầm tên?

0
186
Tranh vẽ vua Đinh Tiên Hoàng

Hoàng đế có mái tóc khác thường

Hoàng đế có mái tóc đặc biệt đó là Mai Kỳ Sơn, vị vua thứ 3 và cũng là vị vua cuối cùng của vương triều họ Mai. Theo một số ngọc phả, thần tích như ngọc phả đền Điều Yêu (xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, Hải Phòng) thì do có mái tóc bạc bẩm sinh nên nhân dân thường gọi ông là Bạch Đầu Đế (Hoàng đế đầu bạc).

Bạch Đầu Đế Mai Kỳ Sơn là con thứ 3 của Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan), thân mẫu là Đinh Ngọc Tô. Theo sách “Việt điện u linh” thì ông là con thứ 2, anh em song sinh với Mai Bảo Sơn (thường được gọi là Hoàng tử Cả). Cũng như các anh chị em khác, từ nhỏ Mai Kỳ Sơn đã được cha mẹ gửi gắm các thầy giáo dạy văn, dạy võ, khi trưởng thành họ đều trở thành những người giỏi giang, có chí khí mạnh mẽ.

Trong cuộc vận động, liên kết với các thổ hào khắp các vùng miền trên cả nước để tiến hành khởi nghĩa lật đổ ách đô hộ của nhà Đường, Mai Thúc Loan đã cho xây dựng một số căn cứ quan trọng, trong đó có căn cứ ở vùng duyên hải Đông Bắc, lấy trung tâm chỉ huy ở vùng Điều Yêu. Để tăng cường sự gắn kết, Mai Thúc Loan đã gả con gái Mai Thị Cầu cho Phạm Quỳnh, cho Mai Kỳ Sơn lấy Hoàng Thị Đang nhằm kết thông gia với một số thủ lĩnh địa phương.

Khi giành lại độc lập, dựng lên vương triều Mai, Mai Hắc Đế đã phong cho con gái Mai Thị Cầu làm Ngọc Chân công chúa, Mai Kỳ Sơn là Hoàng tử và cử trấn thủ Điều Yêu.

Sau một thời gian củng cố lực lượng, nhà Đường cho quân xâm lược nhằm tái lập ách đô hộ, mặc dù chiến đấu anh dũng nhưng do chênh lệch về lực lượng nên kinh đô Vạn An bị thất thủ, Mai Hắc Đế tử trận, Mai Thúc Huy lên nối ngôi (Mai Thiếu Đế) rút về căn cứ Hùng Sơn (Hùng Sơn còn gọi là Núi Đụn nay thuộc Nam Đàn, Nghệ An) tiếp tục kháng chiến.

Tháng 10 năm Qúy Hợi (723), sau khi nghe tin căn cứ Hùng Sơn thất thủ, em trai là Mai Thiếu Đế tử trận nên Mai Kỳ Sơn được nhân dân tôn lên làm vua để lãnh đạo cuộc chiến chống giặc Đường ở vùng duyên hải miền Đông Bắc, không lâu sau trong một trận đánh vào cuối năm Qúy Hợi (723), Mai Kỳ Sơn trúng tên độc, tử trận trước trại giặc.

Đinh Tiên Hoàng bị sử sách gọi nhầm tên?

Đinh Tiên Hoàng là vị vua sáng lập triều đại nhà Đinh, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Đánh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn, ông trở thành hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau hơn 1000 năm Bắc thuộc.

Các sách sử chính thống đều chép rằng Đinh Tiên Hoàng, tên húy là Đinh Bộ Lĩnh, sinh năm Giáp Thân (924), quê ở động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình). Tuy nhiên một số nguồn tư liệu khác thì cho hay tên thật của ông là Đinh Hoàn, còn Bộ Lĩnh chỉ là một chức quan mà sứ quân Trần Lãm phong cho khi ông cùng con trai là Đinh Liễn sang nương nhờ lực lượng này ở vùng Bố Hải Khẩu (nay thuộc huyện Kiến Xương, Thái Bình).

Theo dã sử ở vùng đất Hoa Lư thì tên gọi của Đinh Bộ Lĩnh có xuất xứ rất thú vị. Thân phụ ông là Đinh Công Trứ là một vị tướng tham gia cuộc khởi nghĩa đánh quân Nam Hán do Dương Đình Nghệ lãnh đạo năm Tân Mão (931) và được phong làm thứ sử Hoan Châu (thuộc Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay).

Năm Đinh Dậu (937) Dương Đình Nghệ bị con nuôi là Kiều Công Tiễn giết hại để cướp quyền, Đinh Công Trứ cùng nhiều tướng lĩnh khác đem quân theo Ngô Quyền diệt tên phản bội và tham gia trận đánh Bạch Đằng lịch sử năm (938) tiêu diệt toàn bộ chiến thuyền của quân Nam Hán xâm lược.

Khi nhà Ngô thành lập, Đinh Công Trứ tiếp tục giữ chức trấn thủ Hoan Châu, về sau do thuộc hạ bất cẩn làm cháy kho lương nên ông bị cách chức. Buồn phiền, chán cảnh quan trường nên Đinh Công Trứ đưa người vợ đang mang thai của mình cùng một số tùy tùng thân tín khăn gói về quê sinh sống, họ đi bộ hàng tháng trời từ Hoan Châu, khi về đến gần làng thì dừng chân nghỉ dưới chân núi Bái Lĩnh (còn gọi là núi Đính, nay gọi là núi Bái Đính, thuộc xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, Ninh Bình).

Chính bởi chặng đường vất vả đó mà Đinh Công Trứ nói với vợ rằng nếu sinh con trai sẽ đặt tên là Bộ Lĩnh để ghi nhớ chuyến đi bộ gian nan, vất vả và lần nghỉ dưới chân núi Bái Lĩnh khi đặt chân về đến quê nhà.

Lê Thánh Tông buộc dân chúng không được trùng tên

Với những cải cách mạnh mẽ được thực hiện trong thời gian làm vua, Lê Thánh Tông mong muốn xây dựng một nước Đại Việt giàu mạnh, cường thịnh, xã hội ổn định, dân chúng ấm no.

Để quản lý tốt các mặt của đời sống đất nước, nhà vua đã ban hành nhiều quy định quan trọng, đặc biệt là đối với vấn đề nhân khẩu để nắm rõ và quản lý dân chúng trong cả nước. Trong sách “Lê triều quan chế” có đoạn cho biết Lê Thánh Tông đã ra một quy định rất thú vị nhằm tránh sự phức tạp, nhầm lẫn khi thực thi quản lý đối với một cá nhân cụ thể, ở mục “Lệ đổi tên trùng nhau” viết như sau:

“Thánh chỉ về việc đổi những người có tên trùng nhau rằng, khi làm sổ hộ tịch, những người nam cũng như nữ có cùng họ trong một thôn, một trang, một sách, một động của xã đó không được giống tên nhau. Giả dụ như nếu trước có tên là Nguyễn Ái thì phải thêm chữ vào giữa, hoặc cùng tên thì phải đổi ra chữ khác, không được trùng lặp tên nhau và tên gồm hai chữ thì không được dùng hai chữ Nhân, Đức”

Minh Mạng hồi nhỏ từng bị vua cha đánh roi

Minh Mạng tên thật là Nguyễn Phúc Đảm, còn có tên Nguyễn Phúc Kiểu là con trai thứ tư của vua Gia Long, ông nổi tiếng là người thông minh, nhân hậu, quyết đoán, năng động, có tư tưởng cải cách. Tháng giêng năm Canh Thìn (1820), Nguyễn Phúc Đảm lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mạng, trở thành vị hoàng đế thứ 2 của nhà Nguyễn.

Sử sách ghi lại một câu chuyện, khi còn nhỏ Minh Mạng đã bị vua cha phạt đánh bằng roi, không phải do ông lười biếng việc học hay kiêu láo mà bởi ông muốn chịu phạt thay người khác, do từ tâm thương người của mình. Sách Quốc sử di biên viết:

Vua Minh Mạng
Vua Minh Mạng

“Hoàng tử Đảm vốn có lòng độ lượng rộng rãi, lúc bé đọc sách mỏi mệt mà ngủ ngày, có tên thị nhi lấy mực vẽ vào mặt, thình lình vua đến, thị nhi chạy trốn cả. Vua cho hoàng tử soi gương, rồi hỏi sao lại vẽ vào mặt; Hoàng tử nhận tội, vua sai Cẩm y vệ đánh cho 3 roi. Hoàng tử đứng dậy lạy tạ, không khóc.

Các phi tần chạy đến ôm lấy và nói: Ngài vẽ thế nào vào mặt mình được, sao không biện bạch mà lại chịu phạt?

Hoàng tử nói: Ta vẫn biết là thị nhi đùa nghịch, nói rõ thì chúng tất bị tội. Thà ta chịu tội mà khoan tha cho lũ kia, há chả là việc thiện à! Mọi người đều phục hoàng tử là người có độ lượng”.

Vua Đồng Khánh từng dự định sang thăm nước Pháp

Trong lịch sử bang giao của nước ta với nước ngoài, vua Khải Định là người đầu tiên xuất dương sang châu Âu, đến thăm nước Pháp vào năm 1922. Tuy nhiên ít ai biết rằng vua Đồng Khánh cũng đã có kế hoạch sang Pháp nhưng dự định bất thành bởi ông mất vì bạo bệnh ngày 27 tháng 12 năm Mậu Tý (1888), một năm trước khi tiến hành cuộc Tây du.

Trong sách “Khải Định chính yếu sơ tập”, có chép lời dụ của vua Khải Định, con trai vua Đồng Khánh nói về chuyến đi bất thành của cha mình như sau:

“Sự sáng suốt, thân ái và tin cậy của Tiên Hoàng khảo chính khớp với tấm lòng của quý Đại Pháp. Vì thế vào năm Đồng Khánh thứ 3, Mậu Tý, tức năm 1888 theo Tây lịch, Người đã hạ sắc quyết định rằng đến năm Đồng Khánh Kỷ Sửu, tức năm 1889 theo Tây lịch sẽ ngự giá sang triều đình quý Pháp để bày tỏ tình hữu hảo từ xưa giữa hai nước, thể hiện lòng chân thành hết mực tin cậy đối với Đại Pháp, đồng thời nhân đó đi khảo sát các nền chính trị văn minh để khi hồi loan sẽ cùng với chính phủ Bảo hộ mưu tính tiền đồ tiến hóa cho dân nước ta.

Ai đâu có ngờ vận hạn gian truân, chưa kịp đi tới mục đích hoàn toàn thì vào ngày 27 tháng 12 năm Mậu Tý niên hiệu Đồng Khánh thứ 3, tức là ngày 28 tháng 1 năm 1889 theo lịch Tây, Tiên Hoàng khảo Cảnh Tôn Thuần Hoàng đế đã ngự lưng rồng lên làm khách trên trời. Thế là ý nguyện ngự giá sang triều đình nước Đại Pháp biến thành niềm hư ảo mây trời, còn quốc dân đương thời cũng một phen ngao ngán, thất vọng”.

Lê Thái Dũng (bee)