Đám tang đế vương lạ lùng nhất trong lịch sử

0
119
Tháp chứa xá lỵ và tượng Trần Nhân Tông trên núi Yên Tử.

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm,vị vua thứ ba của nhà Trần,  ông ở ngôi 15 năm (1278-1293) sau đónhường ngôi cho con để làm Thái Thượng hoàng 15 năm rồi xuất gia tuhành, sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu đàĐiếu ngự giác Hoàng. Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vuaanh minh trong lịch sử Việt Nam

Trần Nhân Tông mất ngày 3 tháng 11 năm Mậu Thân (1308), sách Đại Việt sử ký toàn thưviết: “Ngày mồng 3, Thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân núi Yên Tử. Bấy giờThượng hoàng xuất gia, tu ở ngọn Tử Tiêu núi Yên Tử, tự hiệu là TrúcLâm đại sĩ. Bà chị là Thiên Thụy ốm nặng, Thượng hoàng xuống núi, tớithăm và bảo: Nếu chị đã đến ngày đến giờ thì cứ đi, thấy âm phủ cóhỏi thì trả lời rằng: Xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm đại sĩ sẽtới ngay!

Nói xong, Thượng hoàng trở về núi, dặn dò người hầu là Pháp Loa cácviệc về sau, rồi bỗng nhiên ngồi mà hóa. Thiên Thụy cũng mất vào hômđó. Pháp Loa thiêu (xác Thượng hoàng) được hơn ba ngàn hạt xá lỵ mangvề chùa Tư Phúc ở kinh sư”.

Đến tháng 9 năm Canh Tuất niên hiệu Hưng Long năm thứ 18 (1310), triềuđình làm lễ an táng vua ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng (thuộc Thái Bìnhngày nay), xá lỵ cất ở bảo tháp am Ngọa Vân; miếu hiệu là Nhân Tông.

Lễ tang của Trần Nhân Tông trở thànhmột sự kiện lạ lùng bậc nhất trong lịch sử. Bấy giờ dân chúng nghe tinđã cùng nhau tụ tập đông nghẹt từ ngoài cho đến cung điện để tiễn đưalinh cữu vị vua anh minh. Dân được vào tận cung điện đã lạ, nhữngchuyện tiếp sau đó càng lạ hơn. Sử cho biết như sau:

“Mùa thu, tháng 9, ngày 16, rước linhcữu thượng hoàng về chôn ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, xá lỵ thì cất ởbảo tháp am Ngọa Vân; miếu hiệu là Nhân Tông, tên thụy là Pháp ThiênSùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ NguyênMinh Duệ Hiếu Hoàng Đế. Đem Khâm Từ Bảo Thánh thái hoàng thái hậu hợptáng ở đấy.

Trước đó, linh cữu Nhân Tông tạm quàn ởđiện Diên Hiền. Khi sắp đưa rước, đã đến giờ rồi mà quan lại và dânchúng còn đứng chật cả cung điện. Tể tướng cầm roi xua đuổi mà vẫnkhông giãn ra được. Vua cho gọi Chi hậu thánh chưởng Trịnh Trọng Tử tớibảo: Linh cữu sắp đưa rồi mà dân chúng đầy nghẽn như vậy thì làm thế nào? Ngươi hãy làm cho họ tránh ra!.

Trọng Tử lập tức đến thềm Thiên Trì,gọi quân Hải khẩu và quân Hổ dực (quân do Trọng Tử trông coi) đến ngồithành hàng trước thềm, sai hát mấy câu điệu Long Ngâm. Mọi người đềukinh ngạc, kéo nhau đến xem, cung điện mới giãn người, bèn rước (linhcữu thượng hoàng) về lăng Quy Đức.

Trọng Tử lo dọc đường thế nào cũng cóchỗ cao thấp quanh co, nếu nghiêm túc im lặng thì sợ có sự nghiênglệch, nếu truyền gọi bảo ban thì lại e ồn ào, bèn đem những lời dặn vềcách đi đứng dàn hàng, phổ vào khúc hát Long Ngâm, sai người hát lên đểbảo nhau. Người thời ấy rất ca ngợi ông. Ý tứ khéo léo của ông đại loạinhư vậy. Vua gọi ông là con nhà trời, vì ông hiểu khắp mọi nghề, lớnnhỏ đều thạo, không việc gì là không biết” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Điệu hát Long ngâm (khúc ngâm về rồng-tức vua) do Trịnh Trọng Tử theo lối cổ vãn đặt ra, đây là một lối hátvãn, giọng bi ai, nghe rất cảm động… Suốt mấy ngày ấy từ Thăng Longđến Long Hưng (Thái Bình), Long Ngâm khúc đã vang lên suốt dọc đường theo linh cữu của vị vua anh minh đến nơi an nghỉ cuối cùng. Sau này“Long ngâm” là bài nhạc dùng trong chùa vào những ngày lễ lớn, cho thấytrong cung đình lúc bấy giờ rất thường sử dụng nhạc mang âm hưởng Phậtgiáo và dân gian.

Qua cảnh tượng này chúng ta thấy rõlòng ái mộ của nhân dân đối với triều đình và đức thân dân của các vuanhà Trần. Sử thần nhà Hậu Lê là Ngô Sĩ Liên có lời bình về sự kiện lạlùng này như sau: “Triều đình cốt phải nghiêm. Rước đưa linh cữu thìcần gì phải đến tể tướng dẹp người, hữu ty dùng kế mới đi được, ấy làbởi nhà Trần khoan hậu thì có thừa mà nghiêm khắc thì không đủ vậy!” (Đại Việt sử ký toàn thư).


Thái Dũng
(baodatviet)