Cõi âm và khả năng ngoại cảm

0
113

Việccác nhà ngoại cảm tìm được hài cốt của những người chết nhờ tiếp xúcvới người “cõi âm” được báo chí công bố gần đây là điều có thật và rấtđáng trân trọng. Thực ra, khả năng ngoại cảm của con người được biếtđến từ thời xa xưa. Các nước trên thế giới, từ lâu, đã nghiên cứu vàứng dụng ngoại cảm vào nhiều lĩnh vực của đời sống, trong đó có cả quânsự.

Và các nhà khoa học Việt Nam, từ khoảng 15 năm nay, đã bắtđầu nghiên cứu một cách nghiêm túc về các hiện tượng đặc biệt của conngười, trong đó có ngoại cảm. Tiên phong trong lĩnh vực này là các cơquan như Liên hiệp Khoa học Công nghệ tin học ứng dụng, Viện Khoa họcHình sự Bộ Công an, Trung tâm Bảo trợ Văn hóa truyền thống và Bộ mônCận tâm lý Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người.

Trước hết,Phật giáo không hề có quan niệm về một dạng sống được gọi là “cõi âm”.Thế giới quan của Phật giáo là vô lượng vô biên thế giới, hằng hà sa sốthế giới, trong đó có thế giới Ta bà gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắcgiới. Hai cõi Sắc và Vô sắc là cõi giới của thiền định. Cõi Dục gồm lụcđạo là các loài Trời, A tu la, Người, Ngạ quỷ, Súc sanh và Địa ngục.Cõi âm hoặc âm phủ chỉ là quan niệm dân gian dùng để chỉ thế giới củangười chết đối lập với cõi người sống (cõi dương).

Đối với cácbậc chân sư Phật giáo đã chứng đạo, khả năng đặc biệt của các nhà ngoạicảm là chuyện bình thường, không có gì xa lạ cả. Những thiền sư, nhờ tutập thiền định mà thành tựu Tam minh và Lục thông. Trong đó, khả năngcủa các nhà ngoại cảm hiện nay có thể xem như là một phần nhỏ của Thiênnhãn thông (năng lực thấy rõ mọi thứ, không ngăn ngại), Thiên nhĩ thông(năng lực nghe được tất cả các dạng âm thanh) và Tha tâm thông (nănglực biết được tâm ý của người cùng các chúng sanh khác).

Chỉ cóđiều, các hành giả Phật giáo hiếm khi tuyên bố về thần thông, bởi thầnthông thường thành tựu trước trí tuệ (chứng đắc Tứ thiền đã có năng lựccủa Ngũ thông, trừ Lậu tận thông) và chấp thủ hay lạm dụng vào thầnthông sẽ chướng ngại giải thoát tối hậu. Vì vậy, các hành giả Phật giáokhi có sở đắc về thần thông thì đa phần thường im lặng. Đối với giớikhoa học, Thiếu tướng Chu Phác, Chủ nhiệm Bộ môn Cận tâm lý Trung tâmNghiên cứu tiềm năng con người, khá am tường Phật giáo khi nhận định:“Việc ‘thấy’ của các nhà ngoại cảm xét dưới góc độ khoa học hiện đạithực ra là hiện tượng Thiên nhãn thông, một trong mười lợi ích củathiền định”.

Sau khi chết, thần thức thường trải qua giai đoạntrung gian, chuyển tiếp trước khi tái sanh. Khoảng thời gian cho giaiđoạn mang thân trung ấm này tối đa là 49 ngày, ngoại trừ hai trường hợpcực thiện và cực ác thì tái sanh ngay lập tức vào cõi Trời hay cõi Địangục. Tuy nhiên, còn có trường hợp đặc biệt của thân trung ấm do chếtđột ngột (đột tử) và chết một cách oan ức thì thần thức hoặc “khôngbiết” mình đã chết, hoặc do oán hận ngút ngàn mà cận tử nghiệp bámchặt, chấp thủ kiên cố vào trạng huống “hiện tại”, được gọi là các “oanhồn”, cần phải khai thị (giải nghiệp) mới có thể chuyển kiếp, tái sanh.

Ngoài các thân trung ấm, những “oan hồn”, các nhà ngoại cảm còntiếp xúc được với những chúng sanh trong loài Ngạ quỷ. Nhà ngoại cảmBích Hằng đã nói rất chính xác: “Thế giới người âm rất đa dạng, phongphú, chia thành nhiều giai tầng”. Chúng sanh loài Ngạ quỷ chiếm nhiềunhất so với các loài khác trong lục đạo. Những đối tượng mà con ngườigọi là “ma, quỷ, thần linh nói chung…” đều thuộc “những giai tầng” củaloài Ngạ quỷ này.

Như vậy, “cõi âm” mà các nhà ngoại cảm tiếpxúc được bao gồm các chúng sanh đang ở giai đoạn thân trung ấm, các“oan hồn” và loài Ngạ quỷ. Nhà ngoại cảm Bích Hằng cũng nói rõ là “tôichưa thấy địa ngục của người cõi âm bao giờ”, bởi chỉ những người tạocác ác nghiệp và các bậc Đại Bồ tát có đầy đủ thần lực mới vào được địangục mà thôi.

Hiện nay, các nhà ngoại cảm thường tìm kiếm hài cốt theo hai hướng.

Khuynh hướng thứ nhấtlà các nhà ngoại cảm “thấy” được hài cốt, vẽ lại sơ đồ chi tiết khu vựcấy và hướng dẫn thân nhân tìm kiếm. Trường hợp này nhà ngoại cảm chỉ sửdụng khả năng “thiên nhãn thông” của mình để tìm kiếm và phát hiện hàicốt mà không cần trợ giúp của “chủ nhân” chính hài cốt ấy. Bởi hầu hếtnhững hài cốt này chỉ là phần thân xác vật chất đơn thuần (địađại-đất), còn thần thức đã theo nghiệp tái sanh.

Tuy nhiên, vìcác nhà ngoại cảm chưa thành tựu Đại định (tam muội) nên năng lực“thấy” của họ thường chập chờn. Tùy thuộc vào cấp độ định tâm hay trạngthái tâm của họ khi làm việc mà “thấy mờ hoặc tỏ” khác nhau, phải điềuchỉnh nhiều lần mới tìm ra vị trí chính xác của hài cốt. Năng lực thấyrõ không có gì ngăn ngại này của các nhà ngoại cảm còn được vận dụng đểtìm kiếm khoáng sản, thăm dò lòng đất (ngành mỏ-địa chất), khả năngkhám, chữa bệnh (ngành y khoa) v.v… hiện đang được nhiều quốc gia trênthế giới nghiên cứu, khai thác và ứng dụng.

Khuynh hướng thứ haithì ngược lại, nhà ngoại cảm tiếp xúc với người “cõi âm” và họ chỉ chonhà ngoại cảm thấy hài cốt của chính họ hoặc những người khác. Trườnghợp này, sự trợ giúp của người “cõi âm” vô cùng cần thiết, do đó nhàngoại cảm và thân nhân phải có lòng thành. Vì người “cõi âm” biết đượctâm ý của chúng ta cho nên nếu lòng không trong sáng, tâm không thànhkhẩn, làm việc vì danh lợi thì sẽ thất bại. Những chúng sanh mang thântrung ấm, những “oan hồn” và loài ngạ quỷ đều có thể tiếp xúc được vớinhà ngoại cảm để truyền thông những thông tin cần thiết.

Ở đây,trường hợp đặc biệt cần lưu tâm là các “oan hồn”. Như đã nói nhữngngười chết “bất đắc kỳ tử”, chết trong oán hận tột cùng rất khó táisanh. Mặc dù phần lớn các luận sư Phật giáo đều cho rằng thời gianthích hợp cho tái sanh của thân trung ấm thường tối đa là 49 ngày nhưng“oan hồn” là một ngoại lệ. Theo luận sư Pháp Cứu (Dharmatrata), tác giảTạp A tỳ đàm tâm luận (Samyutara Abhidharmahridaya) thì thân trung ấmtồn tại không hạn chế thời gian nếu nhân duyên chưa đủ để đầu thai (xemthêm Đại cương luận Câu xá, tác giả Thích Thiện Siêu, NXB Tôn Giáo,2000, tr.109).

Kế thừa quan điểm này, về sau vị chân sư Phậtgiáo Tây Tạng Sogyal Rinpoche, bằng tuệ giác chứng ngộ của mình, trongTạng thư sống chết (Thích nữ Trí Hải dịch) khẳng định: “Toàn thể trungấm tái sanh kéo dài trung bình 49 ngày, và ít nhất là một tuần. Nhưngcũng còn tùy, giống như hiện tại có người sống tới trăm tuổi, trong khikẻ khác chết non. Một số lại còn bị kẹt trong thế giới trung gian đểthành ma quỷ (18- Bardo tái sanh)” hay “Những người đã có cái chết kinhkhủng hay đột ngột rất cần được giúp đỡ. Những nạn nhân của ám sát, tựsát, tai nạn, chiến tranh, thường rất dễ rơi vào sợ hãi đau đớn, hoặc ởmãi trong kinh nghiệm khủng khiếp về cái chết của họ, do đó không thểtiến đến giai đoạn tái sanh (19- Giúp đỡ sau khi chết)”. Vì những lý dotrên, có những trường hợp tuy đã chết rất lâu nhưng vẫn chưa được táisanh.

Phần lớn những người “cõi âm” mà nhà ngoại cảm tiếp xúc,mô tả hình dáng, tính cách của họ đúng như dáng vẻ, tâm trạng lúc chếtđều ở trong trường hợp này. Chính việc thần thức “ở mãi trong kinhnghiệm khủng khiếp về cái chết”, “bị kẹt trong thế giới trung gian”(lời của Sogyal Rinpoche), sự chấp thủ kiên cố, bám chặt vào trạnghuống “hiện tại” trước khi chết đã tạo ra một dạng sống gọi là “oanhồn”. Do đó, Phật giáo thường lập đàn tràng Giải oan bạt độ và Chẩn tếâm linh cô hồn. Giải oan là tháo gỡ sự chấp thủ, khai thị cho “oan hồn”hiểu giáo pháp mà buông xả, tỉnh ngộ để tái sanh. Chẩn tế là ban phátthực phẩm cho loài ngạ quỷ được no đủ, đồng thời khuyến hóa họ hồi tâmhướng thiện để sớm chuyển nghiệp, siêu thăng.

Như vậy, thế giới“cõi âm” vô cùng đa dạng và phức tạp, những nhà ngoại cảm nhờ có nhânduyên đặc biệt nên tiếp xúc được với họ, giúp họ truyền thông với conngười. “Thông điệp” của người “cõi âm” cũng không ngoài tình thương, sựtrân trọng, quan tâm lẫn nhau và đề cao các giá trị đạo đức, tâm linh.Chính những tâm tư của người “cõi âm”, nhất là các “oan hồn” đã gópphần tạo nên khí vận quốc gia, hồn thiêng sông núi. Do đó, việc cầunguyện cho âm siêu dương thái theo pháp thức Phật giáo là điều cần làm.

Ngàynay, các nhà khoa học đang nỗ lực khám phá hiện tượng ngoại cảm theohướng trường sinh học hay năng lượng sinh học. Tuy nhiên, nếu chỉ thiênvề nghiên cứu “vật chất” thì sẽ khó tiếp cận trọn vẹn vấn đề, bởi “sắctức thị không, không tức thị sắc” (Tâm kinh). Đó là chưa kể đến hoạtdụng của tâm thức A lại da bao trùm khắp cả pháp giới, siêu việt cả tâmlẫn vật, theo Duy thức học, chỉ có tu tập thiền định mới có thể khai mởvà thành tựu kho tàng tuệ giác này.


Hiện tượng ngoại cảm: Thần bí và khoa học
(Bình Nguyên)

Có đến trên 60% các cuộc tìm kiếm thành công và hơn 10.000 hài cốt liệt sĩ đã tìm thấy nhờ các nhà ngoại cảm…

Nhữngcâu chuyện về việc đi tìm mộ của các nhà ngoại cảm như: chị Phan ThịBích Hằng, chị Vũ Minh Nghĩa, anh Nguyễn Văn Nhã, hay anh Phạm VănMẫn… đã giúp một số giađình đã tìm thấy hài cốt của người thân là cóthật. Họ đã mang lại niềm hạnh phúc không gì sánh nổi cho nhiều giađình. Nhưng đi cùng với thành công của các nhà ngoại cảm là hiện tượnglan truyền mạnh mẽ những quan điểm thần bí và duy tâm.

Từ trướcđến nay, người đời thường cho rằng, việc các nhà ngoại cảm đi tìm mộhay chữa bệnh kiểu… “bắt ma” là mê tín dị đoan. Tuy nhiên, hiện nay,khoa học đã chứng minh, những người có khả năng ngoại cảm có thể chữabệnh và thực tế là hoàn toàn khoa học và vô cùng vi diệu. Nguyên nhânsâu xa của bệnh tật có nguồn gốc từ sự hoạt động của trường năng lượngsinh học. Mỗi tế bào trên cơ thể đều có một đám mây điện từ bao quanhvà các dòng hào quang tuôn chảy theo hệ thống. Khi đám mây điện từ ởkhu vực nào yếu, hoạt động lộn xộn và các dòng hào quang lệch lạc, tắcnghẽn thì khu vực đó sẽ sinh ra bệnh tật. Nhà ngoại cảm, với khả năngthấu thị và nhìn thấy dòng chảy của trường năng lượng sinh học, họ sẽbiết ngay người đối diện bị bệnh gì và biết cách chữa trị phù hợp.

GS.Trần Phương là một nha khoa học duy vật biện chứng. Ông đã chứng kiếntận mắt suốt quá trình chị Phan Thị Bích Hằng đi tìm và thấy mộ em gáiông và dường như đã thay đổi cách nhìn về ngoại cảm. Tiếp cận sự kỳdiệu này từ góc nhìn của khoa học, GS. Trần Phương nhận định rằng, nếucó “linh hồn” thì “linh hồn” phải tồn tại dưới một dạng vật chất nàođó, có hình thù, có khả năng phát ra tiếng nói. Đã là một dạng vật chấtthì vật lý học, hóa học, y học, sinh học với những phương tiện quanghọc và điện tử tinh vi, hẳn sẽ có ngày tìm ra. Những “linh hồn” ngườichết vẫn thể hiện cảm xúc vui, buồn, quan tâm, ước muốn, thậm chí cảgiận dữ, vẫn nhớ và kể lại những việc đã qua, kẻ cả những việc xảy rasau khi thể xác đã chết, vẫn theo dõi, đánh giá được những việc màngười sống đang làm. Như vậy thì “linh hồn” không phải là những vật thểvô tri vô giác, mà là những vật thể sống, có tình cảm và tư duy.

Còn nhà nghiên cứu, Đại tá Đỗ Kiên Cường,Phân viện phó Phân viẹn Vật lý Y sinh học đã nghiên cứu hiện tượng tìmmộ bằng ngoại cảm dưới góc độ phân tích “Bức xạ tàn dư”. Vì bức xạ tàndư được lưu giữ trong cấu trúc của nước. Nước là khởi đầu của sự sốngdựa trên cácbon có trên trái đất. Nước có cấu trúc khá chặt chẽ, đó làcấu trúc fractal bội ba. Bức xạ tàn dư có thể được niêm cất trong nướccủa một cấu trúc vật chất nào đó như cây cối, đất đá trong các côngtrường xây dựng… Càng gần nơi trôn cất người chết, bức xạ niêm cấtcàng mạnh nên nhà ngoại cảm “đọc ý nghĩ người chết” càng rõ khi đến gầnkhu vực có hài cốt là vì thế.

Đại tá Cường cũng giải thích hiệntượng ma quỷ, linh hồn… qua việc phân tích Bức xạ tàn dư. Nếu như tacoi hiện tượng đó là có thật thì một câu hỏi mà khoa học đặt ra: Đâu làcơ sở vật chất cho hiện tượng kỳ lạ đó? Điều này cần phải lý giải từvấn đề bức xạ tàn dư, cái tồn tại sau khi chết, như vật mang một sốthông tin cá nhân về người đã khuất.

Hai công trình nghiên cứucủa bác sĩ Raymond A Moody, người Mỹ, có tên Đời sống sau này (Lifeafter life). Ông đã dày tâm nghiên cứu 150 người trên khắp thế giới, đủcác sắc tộc, đã từng chết lâm sàng. Người sắp chết, đến phút cuối cùngnghe thấy bác sĩ, hoặc những người xung quanh tuyên bố rằng mình đãchết, nghe thấy những tiếng ồn ào khó chịu, thấy bản thân mình bị lưuđộng rất nhanh qua một đường hầm dài den tối. Sau đó bỗng thấy mình ởngoài xác thân, nhưng vẫn còn ở ngay quanh đó, trông thấy rõ xác thânmình và mình như một người ngoài đứng xem… Bác sĩ Moody kết luận: Tấtcả những người đã trải qua kinh nghiệm về cái chết đều nhận thấy rằngchết không phải là hết, chết không đáng sợ mà là đáng mừng, chết khôngphải là khổ mà lại là sung sướng, có cảm tưởng như về nhà. Tuy nhiên,điều may mắn là không ai trong số họ nghĩ đến việc đi tìm cái chết, màđều quan niệm rằng phải làm tròn phận sự ở đời trước khi chết.


Đi tìm lời giải của những nhà ngoại cảm Việt Nam
(Phạm Ngọc Dương)

Hầuhết các nhà ngoại cảm ở nước ta có được khả năng kỳ lạ là do một biếncố trong đời. Ly kỳ nhất phải kể đến câu chuyện của nhà ngoại cảm PhanThị Bích Hằng, cô đã có được khả năng phi thường sau một lần bị chó dạicắn suýt chết…

Theo ông Vũ Thế Khanh, Tổng Giám đốc Liên hiệpKhoa học công nghệ tin học ứng dụng, ở Việt Nam hiện có gần 100 ngườicó khả năng đặc biệt, trong đó chỉ có hơn chục người có khả năng tìm mộthực sự xuất sắc. Còn con số lừa bịp để trục lợi, hoặc hoang tưởng mìnhcó khả năng đặc biệt thì phải đến hàng ngàn.

Chính vì thế, ôngcũng cảnh báo rằng, tất cả những người chưa được các nhà khoa học cũngnhư những cơ quan có chức năng thẩm định, đánh giá bằng các đề tàinghiên cứu cụ thể thì không thể tin tưởng được.

Qua các cuộcnghiên cứu, đánh giá, các nhà khoa học tổng kết được 4 con đường dẫnđến khả năng ngoại cảm: Thứ nhất là bẩm sinh, tức sinh ra đã có khảnăng ngoại cảm. Thứ hai, sau những trận ốm thập tử nhất sinh bỗng pháthiện ra khả năng này. Thứ ba, các thiền sư tu hành lâu năm, đắc đạo.Thứ tư, do được đào tạo.

Theo ông Khanh, trường hợp trở thànhnhà ngoại cảm do bẩm sinh là rất hiếm, do tu hành đắc đạo thì có nhiều,song đối với các nhà tu hành, ngồi một chỗ biết chuyện thiên hạ chỉ làmột bậc nhỏ trên con đường đến cõi niết bàn.

Các thiền sư chuyêntâm tu hành, không màng đến thế sự, tiếng tăm, danh phận và rũ bỏ hếtviệc đời nên họ không bao giờ công bố khả năng của mình. Họ muốn giữtâm tịnh để tiếp tục tu hành khổ hạnh, do vậy, người đời thường khôngbiết được khả năng của họ.

Người tiêu biểu về khả năng tu hànhrồi trở thành nhà ngoại cảm là anh Nguyễn Văn Nhã. Anh Nhã hiện đangsống ở TP Hồ Chí Minh. Anh thường ít khi tiếp xúc, gặp mặt người tìmmộ. Những ai muốn tìm được hài cốt người thân thường gọi điện hỏi anh,anh sẽ chỉ dẫn qua điện thoại.

Anh Nhã làm thế là vì không muốnmang tiếng kiếm tiền từ việc chỉ dẫn người đời đi tìm mộ. Chính vì thế,nhiều gia đình tìm thấy mộ thân nhân qua sự chỉ dẫn của anh, muốn tìmanh hậu tạ nhưng không biết anh ở đâu, hỏi địa chỉ thì anh không cho,thậm chí mang quà đến anh cũng không nhận.

Đã có cả ngàn ngườitìm được mộ nhờ sự chỉ dẫn của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Nhã, song vẫnkhông biết mặt mũi nhà ngoại cảm này như thế nào. Việc có khả năngngoại cảm do đào tạo bài bản chính là nét độc đáo ở Việt Nam mà các nhàkhoa học đang chuyên tâm nghiên cứu, áp dụng.

Đã có một số ngườisẵn có khả năng đặc biệt, lại được các nhà khoa học rèn luyện nên trởthành nhà ngoại cảm có khả năng tìm mộ cũng như nhiều khả năng có íchkhác, tuy nhiên, những người này còn đang trong giai đoạn nghiên cứunên các nhà khoa học chưa cung cấp thông tin.

Hầu hết các nhàngoại cảm ở nước ta có được khả năng kỳ lạ là do một biến cố trong đời.Có người bị điện cao thế giật (ông Nguyễn Văn Chiều), có người qua trậnsốt hoặc trận ốm thập tử nhất sinh thì trở thành nhà ngoại cảm.

Trongsố những người trải qua biến cố thành nhà ngoại cảm thì ly kỳ nhất phảikể đến Phan Thị Bích Hằng. Con đường trở thành nhà ngoại cảm của BíchHằng vô cùng gian nan, kỳ lạ và nhiều nước mắt.

Phan Thị BíchHằng sinh ra và lớn lên ở một ngôi làng nghèo thuộc xã Khánh Hòa, YênKhánh, Ninh Bình. Năm 1990, khi 17 tuổi, vừa thi đại học về, Hằng cùngmột cô bạn gái đang đi trên đường bỗng có một con chó nhảy xổ ra cắn.Hằng bị cắn vào chân trái, cô bạn gái bị cắn vào tay trái.

Cũngnhư người dân ở các vùng nông thôn, Hằng và cô bạn cảm thấy chuyện bịchó cắn rất bình thường, rồi quên ngay sau đó. Vài ngày sau khi bị chócắn, Hằng nhận được giấy báo đỗ đại học.

Khoảng một tháng sau,cô bạn đột nhiên không nói được nữa, hàm răng cứng lại. Nghĩ là bị đaurăng, Hằng đưa cô bạn đi khám. Bác sĩ nha khoa kiểm tra và khẳng địnhkhông phải do đau răng. Hai người lại đèo nhau đến Bệnh viện Quân y 5Ninh Bình.

Sau khi khám xét, bác sĩ bảo bạn gái của Hằng cótriệu chứng của người bị bệnh dại. Tưởng như đất dưới chân sụt xuống,tử thần đã nắm tay mình dắt đi, Hằng nói như người mất hồn: “Đúng nhưvậy. Cháu và cô bạn đều bị một con chó cắn”. Sau hôm đó, Hằng cũng hônmê bất tỉnh. Cô bạn thân thì đã qua đời.

Gia đình đưa cô đi chữatrị nhiều nơi, bằng cả Đông y lẫn Tây y, song các bác sĩ, thầy lang đềulắc đầu, bởi bệnh này từ xưa đến nay không ai chữa khỏi. Khi đến nhàmột ông thầy lang, ông này bảo người con trai ra nghĩa địa lấy một mảnhván mà người ta vừa bốc lên hôm trước, rồi bào chế với vài vị thuốc. Đểgiành giật giữa sự sống và cái chết, gia đình Hằng liền cho cô uốngngay vị thuốc khủng khiếp này.

Sau khi uống thuốc, ông thầy langbảo với bố mẹ Hằng: Sau 3 tiếng đồng hồ cháu sẽ cảm thấy nóng khắpngười, lên cơn sốt mê man, nói sảng, thậm chí lên cơn điên cắn xé. Nếu3 ngày sau cháu hết cơn thì cháu sống được còn nếu lên cơn trở lại thìcháu không sống được nữa. Tôi rất muốn cứu cháu nhưng khả năng của tôichỉ có vậy.

Đúng như lời ông thầy lang nói, 9h tối Hằng lên cơncắn xé điên cuồng, đến 11h đêm mới thiếp đi. Ngày thứ nhất, ngày thứhai không thấy triệu chứng gì. Ngày thứ ba, khi cùng người anh trai củacô bạn gái đã mất ra mộ thắp hương thì đột nhiên Hằng cảm thấy có mộtluồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Hằng liền nói: “Anh đưa nhanh em về,em sắp lên cơn điên rồi”. Từ đấy, Hằng không còn biết gì nữa.

Đến1h sáng hôm sau, gia đình không còn hy vọng bởi Hằng đã hoàn toàn tắtthở. Bình thường, những người trẻ tuổi như Hằng ở quê được khâm liệmrất nhanh rồi đem chôn, không tổ chức lễ tang, kèn trống.

Thếnhưng, có một ông cụ dạy chữ nho ở làng rất giỏi tử vi vào nhà Hằng,sau một hồi tính toán, ông bảo: “Thứ nhất, chưa qua giờ Thìn không đượckhâm liệm cháu; thứ hai, cứ để nó nằm như thế, không được thắp hương”.

Lúcđó, một ông bác sĩ nói: “Tốt nhất đậy mặt cháu lại, để gia đình đichuẩn bị cho cháu, tại sao cụ lại nói vậy”. Ông cụ đó nói tiếp: “Cácanh thì có cả một nền y học hiện đại, còn tôi chỉ là tàn hương nướcthánh, nhưng tôi khẳng định nó không chết”.

Nghe cụ già và bácsĩ tranh cãi, gia đình Hằng rất hoang mang, không biết xử trí thế nào.Thế nhưng, ai đi mua gỗ đóng quan tài cứ đi, ai ngồi chờ xem lời ông cụlinh ứng thế nào thì cứ chờ.

Hồi khắc khoải chờ chết, Hằng cóhỏi bố (bố Hằng là quân nhân): “Vì sao những vị lãnh đạo khi chết ngườita lại bắn 7 loạt đại bác”, bố Hằng trả lời: “Để linh hồn mau siêuthoát”. Nghe bố nói vậy, Hằng liền bảo: “Khi con mất bố bắn cho con bảyphát đạn để con mau siêu thoát trở về với gia đình mình”.

7hsáng hôm đó bố Hằng mới về đến nhà. Trông thấy đứa con gái tội nghiệptắt thở nằm đó ông không kìm được nước mắt. Nhớ lời hứa với đứa congái, ông lôi súng ngắn ra bắn. Tiếng súng nổ làm Hằng bật tỉnh dậy vàphản xạ đầu tiên là lao ra phía tiếng súng gọi “Bố ơi!”.

Hằngđạp phải những chiếc vỏ đạn và ngã rất mạnh xuống sân. Mọi người liềnkhiêng cô vào trong nhà. Sau khoảng nửa tiếng, Hằng tỉnh lại hoàn toàn.Khi đó, một cảm giác rất kỳ lạ đến với cô. Thân thể dường như mất trọnglượng, như đang bay và nhìn mọi người như ở một thế giới khác.

Theolời Hằng, trong thời gian 30 phút bất tỉnh do trượt ngã đập đầu xuốngsân, cô thấy bà nội và bà ngoại (cả hai đều đã mất) gọi cô. Hằng thấymình đang đi qua một cây cầu bắc qua con sông lớn với mây mờ sương khóibao phủ. Phía bên kia cầu, bà ngoại cùng rất nhiều người đứng vẫy tay,bà nội thì đứng bên bờ này kéo lại.

Cố vùng vẫy, Hằng tuột khỏitay bà. Đúng lúc đó thì tiếng súng làm Hằng giật mình tỉnh dậy. Mọingười đều vui mừng khôn xiết, coi việc Hằng sống lại là chuyện thần kỳ.

Vàitháng sau, khi khỏe mạnh hẳn, Hằng thường đi lung tung, không có địnhhướng. Điều kỳ dị là nhìn mặt mọi người Hằng có thể biết được họ cònsống lâu hay sắp chết. Một số người đang khỏe mạnh song lại cứ như cóai đó nói với cô rằng họ sắp chết, thế là cô tìm họ nói cho họ biếtrằng họ sắp chết.

Không ít lần cô bị ăn đòn vì… độc mồm, độcmiệng. Ngày đó, trong làng có ông Vũ Văn Trác, 50 tuổi, rất khỏe mạnhvà quý mến Hằng. Ngày Hằng còn bé, có cái bánh, cái kẹo ông đều dànhcho.

Một hôm, gặp ông Trác đi làm đồng về, Hằng bảo: “Ông ơi,chắc là ông sắp mất rồi. Ông đừng đi làm nữa cho khổ!”. Nghe Hằng nóithế, ông Trác cầm cái roi trâu quát: “À, tưởng là con cô giáo mà taokhông dám đánh à? Bố mày có là đại tá thì hôm nay tao cũng phải cho màymột trận”.

Khi ông Trác cầm roi trâu đuổi, Hằng còn vừa chạy vừaquay lại bảo: “Ông sẽ chết thật mà”. Ông Trác tức sôi máu đánh Hằng mộttrận, cô đau phát khóc, nhưng vừa khóc vừa khẳng định vài ngày nữa ôngsẽ chết.

Hôm ấy những người chứng kiến được bữa cười ra nướcmắt. Nhưng rồi, vài ngày sau loa truyền thanh xã thông báo ông Trácchết thật. Thông tin ấy làm cả làng sợ hãi.

Tiếp sau ông Trác làông Bùi Văn Trai, Chủ nhiệm HTX thêu xuất khẩu xã Khánh Hòa. Ông Trailà bạn rất thân của mẹ Hằng. Hôm đó, giữa hội trường UBND xã, rất nhiềungười chứng kiến, Hằng nói: “Đến tháng giêng là chú chết đấy, có baonhiêu hợp đồng xuất khẩu chú bàn giao hết đi, nếu không đến lúc ấy lạikhông kịp”.

Ông Trai bực mình nói với bố mẹ Hằng rằng: “Anh chịphải về dạy bảo con, chứ cứ để nó huyên thuyên như thế là không được”.Không ngờ, đầu tháng giêng ông Trai chết thật. Sau chuyện đó cả làngbảo Hằng bị ma ám, nói ai chết là người ấy chết. Người ta cứ nhìn thấyHằng là tránh xa.

Mọi người trong gia đình Hằng đều đau khổ. MẹHằng là giáo viên dạy giỏi nhiều năm, các phụ huynh đều rất tin tưởngkhi con cái họ học lớp bà chủ nhiệm, nhưng biết chuyện của Hằng thì đềuxin cho con chuyển lớp.

Hằng ra sức thuyết phục mọi người rằngcô không bị thần kinh, những chuyện đó là do cô nhìn thấy, nhưng khôngai tin. Cha mẹ Hằng đưa cô đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác khámthần kinh, rồi đưa đi gặp hết “cậu nọ, cô kia” cúng bái.

Mặc dùkhi đó Hằng có khả năng phán đoán được tình trạng sức khỏe, thậm chí cảsuy nghĩ của người khác, song Hằng đau khổ đến nỗi chỉ mong quên hếtkhả năng ấy đi.

Theo lời kể của Hằng, một ngày, trong cơn tuyệtvọng, Hằng ao ước được “nhìn thấy” bà nội và bà ngoại, những người côrất yêu quý. Thế rồi, kỳ lạ thay, vào ngày giỗ bà nội, Hằng “nhìn thấy”bà nội (bà chết khi Hằng 10 tuổi) về, bế theo một đứa trẻ và dắt theomột đứa nữa.

Hằng nói chuyện với bà, rồi kể cho mọi người nghe.Ông nội nghe Hằng nói liền kể rằng đó là hai đứa con của ông đã mất lúc8 tháng và 3 tuổi. Lúc này, mọi người mới kinh hoàng nhận ra rằng, Hằngcó khả năng đặc biệt.

Ngôi làng Hằng đang sống có ngôi chùa Dầurất cổ. Khi nhà Trần đánh tan Chiêm Thành, bà Huyền Trân Công Chúakhông về Thăng Long mà vào tu ở ngôi chùa này. Sau này gia tộc họ Trầncũng về đây ở, rồi chết đi thì chôn luôn ở quanh chùa.

Một lần,Hằng vào nhà ông chú ruột chơi rồi bảo rằng, trong vườn nhà chú có bóngngười. Nhà chú Hằng ai cũng mắc bệnh kỳ lạ, teo một bên chân, ngoẹo mộtbên đầu về bên phải, nên ông rất tin lời Hằng nói.

Thế là haichú cháu đào bới thử mảnh vườn. Không ngờ thấy một lớp ngói đã mục, rồiđến một lớp đất đỏ. Gạt lớp đất đỏ ra thì thấy lớp quách bằng hợp chấtgồm vỏ hến, vôi, mật. Phá lớp này ra thì thấy cỗ quan tài chạm trổ rấtđẹp bằng gỗ ngọc am. Bật nắp quan tài thấy xác ướp người đàn ông. Saunày, các nhà sử học xác định ngôi mộ có tuổi 700 năm.

Chính giađình Hằng cũng để thất lạc mộ cụ 4 đời. Nhiều lần, bố Hằng nhờ đồng độivề đào bới mà không thấy. Đúng ngày giỗ cụ, Hằng thử đi tìm. Không ngờ,Hằng “nhìn” thấy mộ cụ nằm trên đường đi. Hằng liền rủ mấy người anh rađường đào.

Mấy anh bảo vệ xã nhìn thấy thì bảo: “Chết dở thật.Con ông bộ đội rỗi việc đi phá đường”. Hằng khẳng định dưới lòng đườngcó mộ thì mấy anh bảo vệ bảo: “Thế thì đem cuốc xẻng ra đào thử xem condở hơi này nó nói có đúng không!”.

Khi đào sâu gần 2m thì xuấthiện một tấm gỗ có khảm chữ Hán. Hằng liền đem rửa mảnh gỗ đi rồi mangcho ông nội đã 80 tuổi đọc. Ông nội Hằng đọc thấy hai dòng chữ ở haimặt tấm gỗ là “Âm thủy quy nguyên” và “Vinh quy bái tổ” thì lăn rakhóc. Bao nhiêu năm nay đã nhiều đêm ông không nhắm mắt được vì đã đểthất lạc mộ tổ.

Lúc này, mọi người không còn nghi ngờ gì về khảnăng đặc biệt của Hằng nữa. Nhưng bố Hằng, là một cán bộ được rèn luyệntrong môi trường quân ngũ, tính tình cứng rắn, chỉ tin vào khoa học nênvẫn chưa tin vào khả năng của Hằng.

Ông bỏ cả việc cơ quan để ởnhà trông Hằng, đuổi hết những người tìm đến “cầu thánh, cầu thần”. Đểchứng minh với bố rằng cô không bị thần kinh, không bị hoang tưởng dichứng chó dại cắn, cô xin bố cho đi thi đại học và hứa chắc chắn sẽ thiđỗ.

Để bố tâm phục khẩu phục, Hằng quay ngoắt sang ôn thi khốiA, ĐH Kinh tế quốc dân, cho dù năm trước cô thi khối C. Chỉ có 15 ngàyôn thi, kể từ khi xin bố, vậy mà Hằng đã thi đỗ với số điểm khá cao, 24điểm.

Khi đó, Hằng đã là cộng tác viên của Viện Khoa học thể dục- thể thao. Một số cán bộ có tâm huyết của Bộ VH-TT đã đi theo Hằng đểnghiên cứu rất tỉ mỉ về khả năng tìm mộ. Hằng đã nhờ những vị cán bộnày cho người về giúp cô khảo sát lại di tích lịch sử chùa Dầu quê côcó từ đời nhà Trần.

Hằng về, “nói chuyện” với những người xâychùa, tất nhiên là đã chết cách đây 700 năm, trong đó có cả nhũ mẫu củaHuyền Trân Công Chúa, là bà Phan Thị Vinh. Người xưa đã kể tỉ mỉ choHằng biết tòa sen như thế nào, bát hương ra sao, có bao nhiêu sắc phongtừ các đời vua…

Những gì Hằng thu thập đều được các cơ quanquản lý văn hóa xác nhận đúng. Với những tài liệu, hiện vật thu thậpđược, Phòng văn hóa đã trình lên tỉnh, tỉnh trình lên bộ và sau đó chùaDầu được công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

Những gì Phan ThịBích Hằng làm được cho đời thực sự trân trọng, không lý lẽ gì có thểbác bỏ. Đã có hàng ngàn gia đình tìm lại được người thân, đã có cả ngànhài cốt liệt sĩ được trở về đất mẹ sau bao nhiêu năm nằm nơi rừng sâunúi thẳm, mà nhiều đồng đội, người thân đi tìm không thấy.

Thậmchí, qua Bích Hằng, lịch sử đã phải viết thêm những trang hào hùng vềtrận đánh khốc liệt ở cánh rừng K'Nác, huyện K'Bang, tỉnh Gia Lai. Nơiđây, dòng Đắk Lốp đã nhấn chìm 400 thi thể chiến sĩ và cả những chiếncông của họ nếu không có nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng vượt rừng,lội suối tìm hài cốt của họ để đồng đội đưa về nghĩa trang liệt sĩ,mang lại niềm an ủi cho các gia đình.

Giác Ngộ
(chungta)