Chuyện hy hữu về người đàn ông bị cắt trí nhớ

0
114
Vùng hải mã trong não bộ

Mãi sau khi qua đời cuối năm 2008, danh tính con người phi thường đómới được tiết lộ. Ông là người Henry Gustav Molaison (H.M) sinh năm1926 và cả cuộc đời đã sống ở Hartford, thành phố nhỏ gần Boston, bangConnecticut (Mỹ). Bố H.M là một thợ điện, dòng dõi gia đình địa chủPháp. Henry, ngươi con trai duy nhất lớn lên trở thành chàng trai lựclưỡng, dễ thương và hài hước. Như ghi chép trong hồ sơ lưu trữ thời họcđường, H.M đạt điểm trên trung bình qua các trắc nghiệm chỉ số thôngminh.

Bắt đầu từ một tai nạn nhỏ

Sau thế chiến II công việc làm ăn của gia đình H.M diễn ra tốt đẹp. Sautốt nghiệp trung học, Henry tự kiếm sống bằng chân nhân viên bán vé chorạp chiếu bóng, song khát vọng nối nghiệp cha đã đưa cậu trở thành thợđiện. Cả tuổi ấu thơ và thời niên thiếu của Henry tưởng chừng diễn raêm đềm. Trừ sự cố duy nhất – năm lên bảy tuổi cậu bị một người phóng xeđạp bất ngờ tông vào. Henry bất tỉnh giây lát vì một vài vết thươngtrên đầu và vết rách trên mặt phải khâu 17 mũi.

s
Ảnh Henry Gustav Molaison chụp trước ca phẫu thuật không lâu

Có thể chính tai nạn đó đã trở thành nguyên nhân của những bất hạnh saunày. Lần đầu tiên Henry lên cơn động kinh năm 16 tuổi. Đúng lúc cậuđang lái xe hơi chở gia đình. Thoạt đầu ông bố cứ tưởng con trai nghịchdại, nhưng sau vài ba phút ông biết rằng, thực sự đã xảy ra chuyện bấtổn với con trai. Ông đưa con trai đến bệnh viện. Và từ thời điểm đóHenry không còn cơ hội nào ngồi bên tay lái.

Các cơn động kinh xuất hiện ngày càng dầy. Ở trường học, từ cậu bé đượcmọi người yêu thích, Henry đã trở nên bị bạn bè xa lánh. Vì sợ bất ngờlên con động kinh, người ta đã không cho phép Henry lên bục danh dựnhận bằng tú tài trong ngày bế giảng. Henry đau khổ vì thời điểm đóđang thịnh hành thuyết ưu sinh – hệ tư tưởng chỉ cho phép những cá thểhoàn toàn khỏe mạnh sinh con đẻ cái. Vị bác sĩ địa phương nói thẳng vớiHenry: Anh phải tránh quan hệ tình dục và hãy quên đi chuyện hôn nhân,bởi anh có thể góp phần sinh ra nhiều đứa con bệnh hoạn như mình!

Henry chỉ có thể làm những việc đơn giản, trong đó có thời gian làmnhân viên một cửa hàng bán thảm chùi chân. 26 tuổi, Henry đã là conngười bị tước bỏ mọi triển vọng. Không hiếm thời gian anh bị vài ba cơnđộng kinh mỗi ngày với vài chục giây bất tỉnh. Thời ấy không có loạithuốc nào khả dĩ cải thiện tình hình. Phẫu thuật não được coi là hyvọng cuối cùng.

Một bộ phận não bộ bị cắt bỏ

Bác sĩ phẫu thuật thần kinh William Scoville (Bệnh viện Hartford, khiấy là một trong những cơ sở y tế lớn nhất tại Mỹ) đã quyết định thựchiện ca phẫu thuật mạo hiểm này. Bác sĩ Scoville cũng là dân thành phốHartfod. Ông nổi tiếng ngang tàng, điển trai và đam mê xe thể thao tốcđộ cao. Trong gara nhà ông lúc nào cũng có vài chiếc xe Jaguar sangtrọng và đắt tiền. Thiên hướng ưa mạo hiểm bẩm sinh cũng thể hiện rõnét trong thực tế hành nghề bác sĩ của ông. Trong sự nghiệp của mìnhông đã thực hiện vài trăm ca khoan hộp sọ và trở thành nhân vật nổitiếng thuộc lĩnh vực phẫu thuật não bộ – thời ấy được coi là phươngpháp hiệu quả điều trị bệnh tâm thần phân liệt, bệnh trầm cảm và một sốrối loạn tâm lý khác. Công việc phẫu thuật của bác sĩ Scotville cũnggắn liền với xác suất rủi ro cao. Riêng với trường hợp Henry, bản thânông cũng thừa nhận là một thí nghiệm mạo hiểm, bởi ông sẽ phải cắt bỏbộ phận não bộ khá lớn của bệnh nhân.

Bà mẹ Henry đã ký giấy đồng ý phẫu thuật. Bà đã do dự, nhưng cuối cùngđành phải chấp nhận. Không ai có đủ can đảm giúp bà trong quyết địnhđó. Ông chồng bà đã sụp đổ hoàn toàn.

Ngày 25/8/1953, bác sĩ Scotville đã dùng khoan mở hai lỗ trên hộp sọ đãđược tiêm thuốc tê cục bộ, nhưng bệnh nhân vẫn hoàn toàn tỉnh táo. Tiếptheo, Scotville luồn dụng cụ vào sâu để cắt và lôi ra những mô não bộ.Trong những chi tiết bị cắt bỏ có hai vùng hải m㠖 những cấu trúc nhỏcó hình dáng giống con cá ngựa. Khi ấy người ta vẫn chưa biết vai tròcủa chúng.

Cuối ca phẫu thuật Scotville đã đặt vào não bộ Henry những mảnh kimloại nhỏ. Chỉ nhằm mục đích để đánh dấu những bộ phận nào đã bị cắt bỏ.Và cũng nhằm mục đích tạo điều kiện mô tả chính xác để áp dụng vớinhững bệnh nhân khác khi ca phẫu thuật này thành công mỹ mãn.

Tiếc rằng ngay sau khi rời bỏ dụng cụ phẫu thuật, bác sĩ Scotville đãnhanh chóng nhận ra là có chuyện gì đó bất ổn. Bệnh nhân mất hẳn trínhớ, Henry không thể nhớ, thí dụ, đi lối nào trở về phòng mình đangđiều trị.

Trở về nhà Scotville đã  kể chuyện với vợ: “Em có biết, hôm nay đã xảyra chuyện gì? Anh đã chữa bệnh động kinh cho một người bằng cách cắt bỏtrí nhớ của anh ta. Một sự đánh đổi không tồi!” Dường như khi ấy ông takhông hề cảm thấy lương tâm bị cắn dứt. Trong hồ sơ bệnh án của Henry,Scotville ghi rõ: “Nhờ phẫu thuật tình trạng sức khỏe đã được cải thiện– số cơn động kinh giảm hẳn”. Sau này, vài ba tháng Henry mới bị mộttrận, song trí nhớ đã mất hẳn.

Chỉ nhớ những gì trước thời điểm phẫu thuật

Sau giai đoạn thăng hoa ban đầu, cùng với thời gian Scotville bắt đầulo lắng về sức khỏe của Henry. Một ngày nọ ông đã gọi điện tham khảo ýkiến của bác sĩ Wilderr  Penfield ở  Montreal(Canada), người thời ấyđược coi là một trong những chuyên gia phẫu thuật thần kinh và điều trịbệnh động kinh xuất sắc nhất thế giới. Nhà khoa học nổi tiếng Canadathực sự bàng hoàng khi biết chuyện đồng nghiệp Mỹ cắt bỏ nhiều não bộcủa bệnh nhân như vậy. Đồng thời ông rất quan tâm đến những triệu chứngcủa Henry nên lập tức giao nhiệm vụ cho cộng sự của mình – nữ chuyêngia tâm lý học thần kinh Brenda Milner – trực tiếp tiếp cận bệnh nhân.

Ngay cuộc gặp mặt đầu tiên với Henry, bà Milner đã hết sức ngỡ ngàng.Bà đối diện với con người nhiệt tình, nghe, nhìn, cảm giác bình thường,có năng khiếu khôi hài và phản ứng nhanh nhạy bằng nụ cười hoặc thái độbực tức. Chỉ số IQ của Henry vẫn không hề thay đổi.
Điều bất thường là năng lực nghi nhớ của Henry đã hoàn toàn biết mất.Anh chỉ nhớ được duy nhất những sự kiện xảy ra cho đến ngày 25/8/1953.Giống như dòng chảy thông tin vĩnh viễn dừng lại vào thời điểm đó.

Mọi thông tin mới đều bay khỏi đầu Henry sau vài chục giây. Henry khôngnhận ra những người anh mới trò chuyện cách đó vài ba phút, quên tất cảnhững gì mới làm và mới nói. Có thể đọc báo, tự gập lại, và sau đó vàiphút lại có thể bắt đầu đọc lại như… chưa từng đọc. Việc nhìn ngày báophát hành không giúp ích gì, bởi Henry không có khái niệm về giờ giấc,ngày tháng. Mỗi buổi sáng thức dậy anh đều không biết bản thân đang ởđâu, không thể tự mình tìm đường đến toa lét và trở về phòng ngay trongnhà mình. Anh có thể duy trì thông tin trong trí nhớ cho đến khi tựmình nhắc lại điều đó nhiều lần, song tất cả lập tức trôi tuột khỏi đầungay khi xuất hiện cái gì đó thu hút chú ý.

Bác sĩ Brenda Milner đã đọc kỹ mọi ghi chép về ca phẫu thuật. Không cógì nghi ngờ nữa, nhờ sự cố bất hạnh này mà Scotville đã có một khám pháphi thường: té ra vùng hải mã – địa bàn trước đó chưa ai biết chức năngcủa nó – đã đóng vai trò quyết định duy trì trí nhớ. Rõ ràng nhờ vùnghải mã, mọi dấu vết thông tin đã được ghi lại. Tại họa mà Henry vô tìnhgánh chịu đã trở thành bước ngoặt cho những nghiên cứu về cấu trúc phứctạp của trí nhớ con người.

Từ thời điểm cuộc viếng thăm đầu tiên của Brenda Milner, “sự nghiệpkhoa học” kéo dài trên nửa thế kỷ của bệnh nhân nổi tiếng H.M. được bắtđầu. Bởi nhà khoa học Canada không thể thường xuyên đi lại giữaMontreal và Hartford, nên bà đã giao nhiệm vụ chăm sóc Henry cho nữsinh viên của mình – bác sĩ Suzanne Corkin, khi ấy đang làm việc tạiMassachusetts Institute of Techonology ở Boston. Vâng lời thầy, Corkinđã ở bên Henry và thực hiện đủ dạng trắc nghiệm cho đến ngày Henry trúthơi thở cuối cùng, năm 2008. Trong một bài giảng dành cho sinh viên,bác sĩ Corkin đã khẳng định, bệnh nhân H.M là “mỏ vàng khoa học”.

 (Theo Ngọc Báu – Tri Thức Trẻ/Medic)