Chúa là không cần thiết cho cuộc đại thiết kế vũ trụ?

0
162
Cá vàng trong bể hình cầu sẽ nhìn thế giới một cách bị méo mó.

Hawking& Mlodinow vừa công bố cuốn sách “The grand Design” (Cuộc đại thiết kế) trong đó các tác giả nêu lên nhiều quan điểm gây nên một làn sóngphản ứng gay gắt từ phía các nhà khoa học, triết học và thần học. Tuynhiên số người tán thưởng, ca tụng, khen ngợi đến cuồng nhiệt cũngkhông phải là ít. Cuốn sách nhanh chóng trở thành một cuốn best-seller.Sau đây là những thông tin chung quanh cuốn sách-hiện tượng này.  


Lược sử thời gian

Hơn20 năm trước Stephen Hawking đã viết cuốn best-seller  Lược sử thờigian [1]  (Hình 1) để giải thích vũ trụ từ đâu đến và sẽ đi đâu. Songcuốn sách này chưa trả lời những câu hỏi sau: Tại sao tồn tại vũtrụ-tại sao có điều gì đó thay vì không có điều gì cả (why is theresomething rather than nothing); Vì sao chúng ta tồn tại?; Tại sao cácđịnh luật lại như thế?; Vũ trụ có cần một đấng sáng tạo hay không?

Chúa là không cần thiết cho cuộc đại thiết kế vũ trụ? Chúa là không cần thiết cho cuộc đại thiết kế vũ trụ?
StephenHawking,  nhà vật lý lý thuyết lỗi lạc, tác giả lý thuyết bức xạ lỗ đen(còn gọi là bức xạ Hawking) và Leonard Mlodinow, nhà vật lý lý thuyết,Viện Công nghệ California tác giả nhiều sách đã xuất bản.


Bảnthân Einstein cũng mơ ước xây dựng một lý thuyết thống nhất (TOE-Theoryof Everything, Lý thuyết của tất cả), một đại thiết kế của vũ trụ. Songtrong thời của Einstein điều này không thực hiện được vì nhiều tươngtác chưa được biết đến.

Cuốn Lược sử thời gianđã phác hoạ một số điều cơ bản. Theo Hawking hiện nay sự xuất hiện lýthuyết M và nhiều dữ liệu quan sát từ OBE,WMAP đã dẫn chúng ta đến gầnhơn bao giờ hết một TOE.

Chúa là không cần thiết cho cuộc đại thiết kế vũ trụ?
  Lược sử thời gian
Chúa là không cần thiết cho cuộc đại thiết kế vũ trụ?
The grand Design (Cuộc Đại thiết kế)


Lýthuyết M dẫn đến sự tồn tại của đa vũ trụ, đa vũ trụ đã tự tạo một cáchtự phát từ “chân không” (nothing) và mỗi vũ trụ có những định luậtriêng. Chúng ta xuất hiện trong một vũ trụ từ những thăng giáng nguyênthuỷ của chân không. 

Trongcuốn Lược sử thời gian, Stephen Hawking viết: nếu chúng ta tìm ra mộtlý thuyết hoàn chỉnh đó sẽ là một thành tựu lớn của trí tuệ nhân loại –và như thế chúng ta sẽ biết được ý đồ của Chúa.

The grand design 

Năm2010 Stephen Hawking cùng với Leonard Mlodinow (Viện Công nghệCalifornia) công bố cuốn sách The Grand Design (Cuộc đại thiết kế)[2](Hình 2), nhằm trả lời những câu hỏi còn lại sau Lược sử thời gian,cuốn sách cũng nhanh chóng trở thành best-seller như cuốn Lược sử thờigian 20 năm trước đây.

Trong cuốn The Grand Design, hai tác giả trên đã đưa ra những quan điểm gây nhiều tranh cãi: 

* Triết học đã chết vì không đều bước được với khoa học đặc biệt với vật lý học.

*Vũ trụ hình thành không cần đến Chúa. Quan điểm này của Hawking &Mlodinow có phần khác so với quan điểm phát biểu trong Lược sử thờigian. Nếu muốn có thể gọi các định luật vật lý là “Chúa” song không tồntại một Chúa bằng xương thịt mà chúng ta có thể gặp và đặt các câu hỏi.Lý thuyết M lên ngôi ứng viên số một của một lý thuyết tối hậu.

Những cơ sở lý thuyết của cuốn The Grand Design

1/Theo Hawking & Mlodinow một lý thuyết thống nhất là vô định. Haitác giả đã đưa ra nguyên lý hiện thực-phụ thuộc mô hình(model-dependent realism) [3].

Các nhà vật lý lâu nay tưởng rằng họ đang xây dựng một lý thuyết cho tất cả nhưng cuối cùng kết quả lại dẫn đến nhiều lý thuyết.

Hiệnnay tồn tại một ứng viên nặng ký là LTD (Lý thuyết dây) song trong LTDcó  đến 5 cách mô tả, mỗi cách mô tả chỉ hoạt động cho một số tìnhhuống hạn chế. Một mạng liên thông toán học (network of mathematicalconnections) đã nối liền 5 lý thuyết trên thành một lý thuyết gọi là lýthuyết M. 

Trong[3], Stephen và Leonard Mlodinow đưa ra lý luận chúng tỏ rằng một lýthuyết tối hậu không dẫn đến một tập duy nhất các phương trình. Mỗi lýthuyết đều dựa trên một mô hình thực tại (model of reality) của mình,và không thể nói thực tại nào là thực hơn thực tại kia.

Cáchđây vài năm hội đồng thành phố Monza, Bắc Italy đã ra một lệnh kỳ quặclà cấm giam giữ cá vàng trong những bể hình cầu  (Hình 3). Lý do: thậtlà độc ác nếu vì qua những lọ với hình dáng như thế,  cách nhìn thếgiới của cá vàng sẽ bị méo mó. Câu chuyện cá vàng sẽ dẫn chúng ta đếnmột câu hỏi triết học: bằng cách nào chúng ta biết được thực tại màchúng ta quan sát là thực? 

Nhữnggì cá vàng thấy được khác với những gì chúng ta thấy, song liệu thựctại của cá vàng có kém hơn thực tại của chúng ta hay không? Chúng tasuốt đời luôn quan sát thế giới qua những lăng kính làm méo mó thực tại.

Trongvật lý câu hỏi này không phải là một câu hỏi hàn lâm. Qua nhiều thập kỷchúng ta cố gắng tìm một lý thuyết cho tất cả song cuối cùng lại đi đếnmột tập các lý thuyết liên thông với nhau, mỗi lý thuyết mô tả một thựctại riêng như trường hợp cá vàng nhìn thế giới qua bể chứa. Đa số chúngta tin rằng có một thực tại khách quan mà khoa học chúng ta tạo nênphản ảnh thực tế đó. Khoa học cổ điển dựa trên niềm tin rằng thế giớikhách quan tồn tại với những tính chất xác định và độc lập đối vớingười quan sát. Trong triết học điều đó gọi là hiện thực (realism).


Songtrong những năm 1960 người ta đã nêu lên vấn đề: nhận thức thực tại phụthuộc vào thức hệ (mind) của chúng ta. Quan điểm này mang các tên: phảnhiện thực (antirealism), công cụ chủ nghĩa (instrumentalism) hoặc duytâm (idealism). Trong khuôn khổ các học thuyết đó thể giới như chúng tabiết đều được xây dựng bởi thức hệ của chúng ta sau khi nặn hình các dữliệu bên ngoài nhờ cấu trúc diễn đoán của bộ não. Quả thật chúng takhông thể nào tách rời người quan sát là chúng ta với nhận thức củachúng ta về thế giới bên ngoài. Chúng ta thu nhận được thế giới bênngoài nhờ các hạt như electron, photon. Các hạt này lại tuân theo cơhọc lượng tử chứ không điều khiển bởi vật lý cổ điển. Trong cơ họclượng tử hạt không có toạ độ và vận tốc xác định đến lúc có một quansát viên thực hành phép đo. Theo vật lý cổ điển thì quá khứ là chuỗicác sự kiện xác định, theo lý thuyết lượng tử thì quá khứ cũng nhưtương lai đều không xác định mà là tồn tại dưới dạng một phổ các khảnăng (spectrum of possibilities). Thậm chí toàn bộ vũ trụ cũng không cómột lịch sử duy nhất. Như vậy lý thuyết lượng tử áp đặt một thực tạihoàn toàn khác thực tại của lý thuyết cổ điển, mặc dầu lý thuyết cổđiển dường như phù hợp với trực giác của chúng ta và giúp chúng ta xâynhà cửa, cầu cống.

Hawking & Mlodinow đưara nguyên lý hiện thực-phụ thuộc mô hình (model-dependent realism). Vậybức tranh thế giới là một mô hình (với bản chất là toán học). Theo quanđiểm này thì vô nghĩa khi đưa ra câu hỏi mô hình này có thực hay khôngmà chỉ có ý nghĩa khi đặt câu hỏi mô hình này có phù hợp với các quansát thực tại hay không. Nếu hai mô hình đều phù hợp với quan sát thựctại thì không thể nói mô hình nào là thực hơn mô hình kia! Ta có thểdùng mô hình này hay mô hình kia tuỳ theo tình huống.

Vìánh sáng bị khúc xạ khi đi từ không khí qua nước cho nên một vật màchúng ta thấy có chuyển động thẳng thì đối với con cá vàng trong bể vậtđó có một quỹ đạo cong. Cá vàng có thể tìm ra các định luật chuyển độngvà các định luật này phải phức tạp hơn các định luật của chúng ta. 

Mộtví dụ cụ thể hơn là học thuyết Ptolemy (học thuyết địa tâm) và họcthuyết Copernicus (học thuyết nhật tâm). Đối chiếu với trường hợp cávàng chúng ta có thể nói rằng có thể dùng học thuyết này hoặc họcthuyết kia vì chúng ta có thể giải thích mọi quan sát trên bầu trời khigiả định Trái đất đứng yên hay Mặt trời đứng yên. Tuy nhiên ưu điểm củahọc thuyết Copernicus là các phương trình chuyển động trong học thuyếtnày là đơn giản hơn trong hệ quy chiếu trong đó Mặt trời đứng yên.

Lý thuyết M

Trongcuộc truy tìm một lý thuyết thống nhất chưa có một lý thuyết nào gâynhiều  tranh cãi và đem lại nhiều hy vọng như LTD (Lý thuyết dây). LTDdược đưa ra vào những năm 1970 nhằm thống nhất 4 loại tương tác, tíchhợp lượng tử và hấp dẫn thành một. Trong LTD thực thể cơ bản là một dâyvi mô một chiều, sự va động của dây tạo nên các hạt cơ bản (Hình 4).

Cácnhà vật lý đã phát hiện một điểm yếu của LTD là nó chứa đến 5 lýthuyết. Đối với ai mong muốn xây dựng một lý thuyết thống nhất duy nhấtthì điều này gây nên một tình trạng bối rối thực sự. Vào giữa những năm1990 họ tìm thấy rằng 5 lý thuyết khác nhau này và cả lý thuyết gọi làsiêu hấp dẫn nối liền liên thông với nhau bởi những phép đối ngẫu(duality), và đấy là một loại từ điển toán học chuyển các lý thuyết qualại nhau. Mỗi lý thuyết chỉ mô tả đúng hiện tượng trong một phạm vi cácđiều kiện-ví dụ ở một vùng năng lượng nào đó. 

Chúa là không cần thiết cho cuộc đại thiết kế vũ trụ?
Bên trái thực thể cơ bản là một điểm 0- chiều chuyển động trongkhông thời gian, bên phải thực thể cơ bản là một dây 1- chiều như mộtcái vòng chuyển động trong không thời gian.


Cácnhà LTD bây giờ hiểu rằng  5 lý thuyết riêng lẻ đó chỉ là những xấp xỉ(approximation) của một lý thuyết cơ bản hơn gọi là lý thuyết M (chữ Mcó nhiều cách hiểu: Mother, Master, Magic, Miracle, Mystery,Membrane,…) (Hình 5)  và như vậy một lý thuyết duy nhất mô tả thếgiới là không phù hợp mà muốn mô tả thế giới chúng ta phải áp dụngnhiều lý thuyết khác nhau trong những tình huống khác nhau. Như vậy lýthuyết M không phải là một lý thuyết theo nghĩa thông thường mà là mộtmạng liên thông toán học các lý thuyết. Điều này tương tự như việc sửdụng một bản đồ. Muốn biểu diễn toàn bộ Trái đất trên một mặt phẳngchúng ta cần một tập bản đồ, mỗi bản đồ sẽ bao trùm một vùng hữu hạn.Tương tự như vậy các lý thuyết trong gia đìnhcủa lý thuyết M nhìn ngoài là những lý thuyết khác nhau song đều là cácphiên bản của một lý thuyết mẹ, ở chỗ giao thoa chúng mô tả cùng mộthiện tượng song không một lý thuyết nào hoạt động chính xác trong mọitình huống.

Chúa là không cần thiết cho cuộc đại thiết kế vũ trụ?
Năm loại LTD chỉ là năm biểu diễn của một lý thuyết lớn là lý thuyết M


Mỗikhi chúng ta phát triển một mô hình nào đó thì chúng ta thấy mô hình đócó kết quả và gán cho mô hình đó là thực tại. Nhưng lý thuyết M giốngnhư trong ví dụ cá vàng cho thấy rằng một tình huống có thể mô hình hoátheo nhiều cách khác nhau tuỳ theo các cách nhận thức khác nhau.

Mỗilý thuyết có phiên bản thực tại của riêng minh, song theo quan điểmthực tại –phụ thuộc mô hình thì sự đa dạng thực tại đó là chấp nhậnđược và không thực tại nào là thực hơn thực tại kia! Đây không phải làsự mong đợi truyền thống của các nhà vật lý về một lý thuyết của thiênnhiên và cũng không phải ý tưởng thường nhật của chúng ta đối với thựctại. Song vũ trụ là thế.

Lý thuyết M có lờigiải cho phép sự tồn tại của 10500 vũ trụ khác nhau, do các không giannội tại (vốn là những đa tạp Calabi-Yau, Hình 6) có thể compắc hoá theonhiều cách, và mỗi vũ trụ có những định luật riêng của mình . Theo lýthuyết M đa vũ trụ được tạo thành từ “chân không” (nothing). Hawking&Mlodinow cho rằng vì tồn tại một định luật như định luật hấp dẫnthì vũ trụ có thể tự tạo ra từ điều không có gì cả (nothing). Vậy khôngcần đến Chúa. Sự tạo tự phát là lý do vì sao có một điều gì đó thay vì không có gì cả. Khi Hawking & Mlodinow nói đến “chân không” họ hàmý đó là chân không trong lý thuyết trường.

Hawking & Mlodinow cho rằng lý thuyết M là ứng viên của lý thuyết thống nhất tối hậu mà Einstein hằng mơ ước.

Chúngta nằm trong một vũ trụ của đa vũ trụ. Các định luật tự nhiên cần thiếtcho sự sống đã xuất hiện một cách ngẫu nhiên (nguyên lý vịnhân-anthropic principle).

Các phản biện

A/ Những  ý kiến biện minh cho cuốn sách

Đểtóm lược ý kiến của những người ủng hộ cuốn sách The grand Design còngì hơn là trình bày ở đây suy nghĩ của chính Leonard Mlodinow (sùng đạoDo thái), đồng tác giả của cuốn sách. Ông  cho rằng các độc giả quá bịkích động bởi những bài viết trên các báo (như London Times). Thực tếHawking và ông chỉ muốn trình bày một ý đồ thân thiện xuất phát từ khoahọc để nói rằng vũ trụ có thể hình thành một cách tự phát mà không cầucứu đến Chúa.

Sean Carroll, một đồng nghiệpthân thiết của Mlodinow đã viết trên Wall Street Journal: cuốn sách nàykhông phải là một dự án nghiên cứu mà là một sự biểu lộ niềm tin mãnhliệt rằng khoa học là vũ khí tốt nhất để giải thích nguồn gốc của vũtrụ. Cho nên cuốn sách thể hiện một ý tưởng đáng tôn trọng hơn là đángcông kích (tuy nhiên Sean Caroll cũng  nói thêm rằng Hawking thíchnhững điều dễ gây ấn tượng, những điều này làm cho cuốn sách trở thànhbest-seller của  Amazone chỉ sau vài ngày tung ra thị trường ngày9/tháng 9/2010).

Sean Carroll cho rằng nhiềunhà vật lý và vũ trụ học đều là những người vô thần giáo, song không ítngười tin điều ngược lại nghĩa là tin vào Chúa, con người vốn là sinhvật phức tạp.

B/ Những ý kiến phản bác lại cuốn sách

Cuốnsách The Grand Design của Hawking & Mlodinow đã gây nên nhiều ýkiến phản bác gay gắt từ phía các nhà khoa học, triết học và thần học.Sau đây là những thông tin tóm tắt về những ý kiến đó.

1/Cơ sở lý thuyết của cuốn sách là lý thuyết M. Lý thuyết M theo Hawking& Mlodinow là một mạng liên thông toán học nối liền nhiều phiên bảncủa lý thuyết dây qua các phép đối ngẫu. Song lý thuyết M đang tronggiai đoạn phát triển và đang chờ đợi một cuộc cách mạng thứ ba cho nênlý thuyết M không thể là ứng viên cho một lý thuyết tối hậu được.

LeeSmolin, nhà vật lý Viện Perimeter, Canada đã công bố cuốn sách “Thetrouble with Physics – Điều không ổn với Vật lý” nêu lên những điểm yếucủa LTD, một lý thuyết chưa được kiểm nghiệm bởi bất cứ một thực tiễnkhách quan nào[4]. Lee Smolin cho rằng 30 năm xây dựng LTD chỉ dẫn đếngần như một số không! Đến thời điểm này LTD không đưa ra được bất kỳmột tiên đoán nào có thể kiểm nghiệm được trong thực nghiệm hiện nay vàthậm chí trong một tương lai đến. Trước năm 1994 (thời kỳ trước đó đượcgọi là cuộc cách mạng thứ nhất của LTD) người ta đã đưa siêu đối xứng(xem chú thích [5]) vào LTD (do đó LTD còn được gọi là Lý thuyết Siêudây-LTSD) và tìm ra được 5 loại LTD, khác nhau chủ yếu vì các nhóm đốixứng toán học: loại I, loại II A, loại II B, loại hỗn hợp HO và loạihỗn hợp HE (xem chú thích [6]).

Để có sự liênkết về mặt toán học, số chiều không thời gian trong LTD phải lên đến10. Các kiểu compắc hoá dẫn đến 10500 phương án, số phương án này cònlớn hơn cả số nguyên tử trong toàn vũ trụ! Điều này dẫn đến một phongcảnh [7] (danh từ của Leonard Susskin) có đồi núi với 10500 thung lũngứng với chân không.

Vậy khó lòng tìm được mộtthí nghiệm mà kết quả lại không giải thích được bởi một trong cácphương án đó, như thế thì không  phủ nhận được LTD. Và ngược lại cũngvì vậy mà LTD không nói lên được điều gì, như thế cũng khó lòng chấpnhận nó.

Năm 1995 (bắt đầu thời kỳ được gọi làcuộc cách mạng thứ hai của LTD) Edward Witten, Viện nghiên cứu các vấnđề hiện đại Princeton, chứng minh rằng 5 loại LTD thực ra chỉ là nămbiểu diễn của một lý thuyết M trong 11 chiều. 

Chúa là không cần thiết cho cuộc đại thiết kế vũ trụ?
Sáu chiều dư (extra dimension) trong LTD compắc hoá thành những đatạp Calabi-Yau, mỗi cách compắc hoá dẫn đến một vũ trụ với hạt vàtrường khác nhau.


Lý thuyếtM không phải là lý thuyết tối hậu. Dựa trên một lý thuyết như vậy để điđến một đại thiết kế của vũ trụ quả là một điều không hợp lý nếu khôngnói là phi lý. 

Nếumuốn mở một cuộc đối thoại giữa khoa học và tôn giáo thì Hawking &Mlodinow đã rơi vào siêu hình khi chọn lý thuyết M làm vũ khí. 

2/ Như chúng ta biết trong vật lý có hai giả thuyết:

Giả thuyết hiện thực (realism): hạt có một tính chất khách quan trước khi ta thực hiện phép đo tính chất đó,

Giảthuyết định xứ  (locality): phép đo trên hạt thứ nhất không ảnh hưởngđến kết quả phép đo trên hạt thứ hai, mặc dầu chúng cách xa nhau.

Hiện tượng ảnh hưởng của phép đo thực hiện trên một hạt này đối với hạt cách xa là một  hiện tượng “phi định xứ” (non-locality).

Bấtđẳng thức Bell nói rằng: Không có một lý thuyết định xứ với biến số ẩn (local hidden variables theory) nào có thể cung cấp được các tiên đoán(predictions) của Cơ học lượng tử.

Nhà vật lýgiải Nobel 2003 Anthony Leggett đã tìm ra một hệ các bất đẳng thức(tương tự như bất đẳng thức Bell) đối với các phép đo các mối liên quancủa hai hạt photon nói trên cho những lý thuyết không định xứ song vẫndựa trên hiện thực luận. 

Thínghiệm thực hiện năm 2007 của Anton Zeilinger (và nhiều người khác)[8]lại loại trừ một lớp lý thuyết không định xứ song theo hiện thực luậnvì vi phạm hệ bất đẳng thức  Anthony Leggett. Vậy hy sinh định xứ luậnkhông đủ cứu vãn hiện thực luận. 

Nóicách khác các thí nghiệm đều dẫn đến kết quả phủ nhận hiện thực luậnlẫn định xứ luận. Cơ học lý thuyết không phù hợp với định xứ -hiện thực. 

Khôngđịnh xứ là phát hiện sâu sắc của vật lý hiện đại. Đâu là mối liên quangiữa không định xứ với lý thuyết M? Các tác giả Hawking & Mlodinowđã lặng im về vấn đề này và đây là một khuyết điểm nghiêm trọng.

3/Tôn giáo và khoa học đều có chung một mục đích: tìm hiểu vũ trụ. Khoahọc tìm hiểu bằng duy lý, tôn giáo bằng tâm linh. Newton nói rằng: khoahọc cho chúng ta hiểu cách hành xử của vũ trụ nhưng không trả lời đượccâu hỏi về sự sáng tạo nên vũ tru. Hấp dẫn giải thích được chuyển độngcủa các hành tinh song không trả lời được câu hỏi ai đã làm cho cáchành tinh chuyển động “Gravity explains the motions of the planets, butit cannot explain who set the planets in motion” .

4/Các tác giả Hawking & Mlodinow đã đi ngược lại với Godel. Godelkhẳng định không có lý thuyết nào của vũ trụ là hoàn chỉnh, trong khiđó Hawking & Mlodinow cho rằng lý thuyết M là ứng viên số một củamột lý thuyết tối hậu của trí tuệ con người.  

5/Hawking & Mlodinow đã sử dụng một lý thuyết chưa hề có một kiểmchứng thực nghiệm là lý thuyết M, như vậy thực tế hai tác giả tuy chốngtriết học, tuyên bố triết học đã chết nhưng thực tế lại đang triết lý(philosophize) về một cuộc đại thiết kế vũ trụ. Như vậy triết học khôngchết mà đang là một phương tiện tư duy (mà chính Hawking & Mlodinowđang sử dụng) cần thiết để am hiểu vũ trụ.

Đọcsuốt cuốn sách người ta có cảm tưởng như Hawking & Mlodinow lạimuốn chứng minh ngược lại điều họ muốn chứng minh: tồn tại một nhà đạithiết kế vũ trụ.

7/ Hawking & Mlodinow muốn xây dựng một lý thuyết của tất cả (everything) song không định nghĩa tất cả là những điều gì?

8/Khoa học và triết học là hai môn học bổ sung cho nhau vì khoa học khôngbao giờ giải quyết tận cùng những lỗ hổng bất khả tri của nhân loại(Gregory Chaitin) .

9/ Khái niệm “chân không”(nothing) mà Hawking và Mlodinow sử dụng theo các nhà thần học cònhuyền bí hơn cả khái niệm Chúa trong những tư tưởng tín ngưỡng nhất.Tổng Giám mục Lee Rayfield nói: Khoa học không bao giờ chứng minh đượcsự tồn tại cũng như sự không tồn tại của Chúa, và để giải thích vũ trụsự tồn tại của Chúa tạo nhiều ưu thế hơn. 

10/Về nguyên lý thực tại- phụ thuộc mô hình các tác giả đã bỏ qua một điểmthiết yếu. Mô hình được tạo ra bởi thức hệ (mind) của người quan sát,song thức hệ cũng là một thực tại như người quan sát. Theo RogerPenrose thức hệ cũng phải được tính đến như một tính chất của ngườiquan sát và thức hệ thể hiện ở mức lượng tử với nguyên tử và quark.Hawking & Mlodinow đã bỏ qua điều này. Cho nên nguyên lý thực tại-phụ thuộc mô hình vẫn còn chứa nhiều điều chưa rõ.

Kết luận 

Cuốnsách The Grand Design của Hawking & Mlodinow là một best-seller,điều đó nói rằng cuốn sách có chứa những hạt nhân duy lý cho nên đượcnhiều người tán thưởng. Cuốn sách được viết bởi một nhà vật lý lýthuyết hàng đầu đương đại và một đồng tác giả cũng là nhà vật lý lýthuyết, tác giả của nhiều sách đã xuất bản.

Tuynhiên theo ý kiến nhiều nhà khoa học, triết học và thần học, cuốn sáchchứa nhiều mâu thuẫn và điều cơ bản nhất là dựa trên cơ sở lý thuyết M[9] là một lý thuyết chưa được kiểm nghiệm bao giờ cho nên cuốn sáchkhông đạt được mục đích giải thích cuộc đại thiết kế của vũ trụ trên cơsở khoa học như ý đồ của các tác giả. Vì thế các tác giả đã phản đốitriết học trong khi thực tế đang “triết lý” trong suốt cuốn sách và chorằng Chúa không cần thiết cho cuộc đại thiết kế vũ trụ nhưng các lý lẽcơ bản họ sử dụng còn siêu hình hơn cả khái niệm về Chúa.  

Cónhiều cơ sở để khẳng định  rằng một lý thuyết thống nhất (TOE) khôngbao giờ tồn tại do đó  cuộc đối thoại giữa khoa học, triết học và thầnhọc không bao giờ chấm dứt [10]. 
——————-
Tài liệu tham khảo
[1]Stephen Hawking,  A brief history of time, Lược sử thời gian , bản dịchcủa Cao Chi, Phạm Văn Thiều tái bản lần thứ 10, NXB Trẻ, 2006. 
[2]Stephen Hawking & Leonard Mlodinow, The (elusive) theory of Everything, Scientific American. tháng 10/2010
[3] Stephen Hawking, Leonard Mlodinow, The Grand Design, Bantam,2010, Kindle Edition
[4] Hélène Le Meur, Costas Bachas, Franck Daninos, Peter Galison, La Recherche, No 411, tháng 9/2007
[5] Siêu đối xứng= đối xứng nối liền các hạt có spin nguyên (boson) với những hạt có spin bán nguyên (fermion).
[6] HO, HE , chữ H (heterotic) có nghĩa là lai, hỗn hợp, các chữ O và E  là ký hiệu của những nhóm trong  toán học.
[7] Raphael Bousso, Joseph Polchinski, The string theory landscape, Scientific American, tháng 9/2004
[8] Simon Groblacher, Tomasz Paterek, Rainer Kaltenbaek, Caslav Brukner,Marek Zukowski, Markus Aspelmeyer & Anton Zeilinger, Nature 446,871-875 (19 April 2007) 
[9]Có tác giả còn cho rằng Hawking hy vọng lý thuyết M không mâu thuẫn vớilý thuyết  bức xạ của Hawking mà Hawking lại hy vọng vào bức xạ Hawkingđể được giải Nobel cho nên Hawking quá đề cao lý thuyết M.
[10] Cao Chi, Tồn tại chăng một lý thuyết của tất cả, Kỷ yếu Max Planck, NXB Tri thức, 2009.

(Tác giả: Cao Chi // Tạp chí Tia Sáng)