Câu đối chùa Vân Hồ không phải là sạn””

0
134

 

Nguyên văn câu đối:

Chốn am thiền rộng mở cửa từ sẵn lòng tế độ

Nơi thành thị thiếu gì khách Việt mặc sức vãng lai.

1. Chỉ là câu đối cũ, được viết lại trên vật liệu mới khitrùng tu, mà không phải câu đối mới vừa sáng tác ra để chào mừng đại lễ1000 năm Rồng bay

Qua những tấm ảnh trước và sau khi cổng chùa Vân Hồ được trùng tu,chúng ta sẽ thấy rõ bằng mắt thường, không cần phải mất công dẫn giảithêm, rằng:

– Nội dung cái câu đối mà tác giả Nguyễn Xuân Diện “vô tình phát hiện”ra, thấy trên hai cột trụ (bằng gỗ) của cổng chính chùa Vân Hồ, khôngphải là câu đối mới, nó không phải là thứ vừa được “sáng tác” ra gầnđây!


Cổng chùa cũ


Cổng chùa mới

– Trước khi trùng tu, câu đối ấy đã có sẵn ở hai bên cột trụ (bằnggạch) của cổng chùa Vân Hồ rồi ! Khi đó là chữ Nôm đắp nổi bằng vậtliệu vữa – xi măng,

– Khi trùng tu, người ta chép nguyên xi câu đối cũ để chuyển từ vật liệu vữa – xi măng sang vật liệu gỗ.

– Như vậy, dù vật liệu đã thay đổi, thì trước và sau trùng tu, câu đốichữ Nôm đó không hề thay đổi về nội dung, tức là vẫn giữ đúng từng chữmột!

2. “Cửa từ (bi)” là ngôn ngữ nhà Phật, thì “Khách (đàn) việt” cũng là ngôn ngữ nhà Phật. Thếmới đối nhau! Câu đối chỉ nói chuyện nhà Phật, làm gì có ngầm ý “KháchViệt (Nam)”. Chữ và ý “khách Việt (Nam)” thì làm sao đối lại với chữ vàý “cửa từ (bi)”, quá cọc cạch, râu ông nọ cắm cằm bà kia! Có chăng đóphải là “cửa Tàu” mới đối được với “khách Việt” !  Tức là câu đối phảilà thế này:

Chốn am thiền rộng mở cửa Tàu sẵn lòng tế độ
Nơi thành thị thiếu gì khách Việt mặc sức vãng lai
“.

Còn có một cách “cứu nguy” (không hiệu quả lắm) nữa là: chữ “cửa từ”không phải là “cửa từ (bi)” mà là “cửa Từ (Hải)” thì mới đối nhau! Nếuthế thì vận dụng Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du mà thành ra câu đối thếnày:

“Chốn am thiền rộng mở cửa Từ (Hải) sẵn lòng tế độ
Nơi thành thị thiếu gì khách Việt (Việt Nam, hay Việt Đông) mặc sức vãng lai”

Chung qui là cái sự đọc ra thành “khách Việt (Nam)” của Nguyễn XuânDiện là sai bét! Thế rồi, từ cái sai đến kì lạ như vậy, tác giả lại hôlên rằng: các cơ quan chức năng phải dẹp bỏ cái câu đối ấy của chùa VânHồ đi!

Nếu tác giả xúi người ta dẹp bỏ câu đối đi, thì có khi lại bị phía nhàchùa kiện về tội vu khống cũng nên! Mong tác giả Nguyễn Xuân Diện lầnsau hết sức cẩn trọng, và hãy đừng chống Tàu một cách mù quáng như vậynữa!

3. Vậy “khách việt” ở đây là cái gì?

Trên kia, tôi đã nói qua, rằng “khách việt” ở đó là để đối lại với “cửa từ”, cả hai đều là thuật ngữ nhà Phật.

Nó chính là thuật ngữ “đàn việt” hay “khách đàn việt”, “người đàn việt”của Phật giáo. Đơn giản mà nói, “đàn việt” là người bố thí (thí chủ),người phát tâm công đức cho nhà chùa, người là tín đồ của nhà chùa.

Vậy nên, câu đối ở cổng chùa Vân Hồ chỉ chuyển tải nội dung của Phật giáo mà thôi, là thế này:

Chốn am thiền rộng mở cửa từ sẵn lòng tế độ
Nơi thành thị thiếu gì khách việt mặc sức vãng lai

Có nghĩa là (diễn nôm na):

Đây là am thiền luôn mở rộng cửa từ (bi) sẵn lòng tế độ (chúng sinh)

Ở giữa nơi thành thị, có thiếu gì khách (đàn) việt [thí chủ, người pháttâm công đức, người mộ đạo Phật], mặc sức tới tới lui lui

4. Nhắc lại một lần nữa: “Từ (bi)” đối với “(Đàn) việt”, lối chơi chữ trong phạm vi thuật ngữ Phật giáo

Bây giờ, cần chặt chẽ hơn chút nữa.

Đó là, ở trên, tôi mới ghi là “cửa từ” là để đối với “khách việt”. Tứclà, “cửa” thì đối với “khách”, còn “từ” thì là đối với “việt”.

Đối ở đây rất chỉnh, “cửa” thì mở ra để đón “khách”, và “khách” thì”mặc sức vãng lai” để qua lại cái “cửa” ấy để mà được “tế độ”.

Cho nên, “từ” và “việt” cũng đối nhau rất chỉnh. Hai chữ này cũng làtâm điểm của cả hai vế đối. Nội dung của cả cái câu đối ấy có thể rútgọn vào hai chữ ấy thôi, tức là:

– Vế thứ nhất: được rút gọn vào chữ TỪ BI — rồi, chữ này lại được rút gọn thành TỪ (bỏ chữ BI ở dưới)

– Vế thứ hai:  được rút gọn vào chữ ĐÀN VIỆT — rồi, chữ này lại đượcrút gọn thành VIỆT (bỏ chữ ĐÀN ở trên; sở dĩ lấy chữ VIỆT mà không lấychữ ĐÀN là vì chỗ ấy của vế thứ hai cần phải một âm trắc)

Ý nghĩa căn cốt của cái câu đối ấy là ở chỗ đó. Và cách chơi chữ cũng là ở chỗ đó.

Tôi trộm nghĩ, người viết ra câu đối này hẳn phải là người có kiếnthức Phật học vững, lại có văn tài. Có thể là sư trụ trì của chùa VânHồ trước đây, mà cũng có thể là cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha cũngnên (chùa Quán Sứ, nơi mà cư sĩ Thiều Chửu nhiều năm gắn bó, có mốiquan hệ lâu đời với chùa Vân Hồ), mà biết đâu lại là một nhà sư kháctrên mạn Bắc Giang (tôi sẽ giới thiệu về nhà sư này, một người bạn chíthiết của cư sĩ Thiều Chửu, ở một dịp khác). 

Theo: Blog Giao