Bến mẹ

0
150

– Đừng ra xa nữa, coi chừng… hỏng cẳng chết trôi con ơi!
Nhớngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sôngBồ. Hai phần đời người đi qua. Mẹ tôi không còn nữa. Bến Dấu Hàn trênkhúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đ㠓cũ”.

Tôivề thăm lại, chỉ còn thấy cỏ lùng, cỏ lát mọc um tùm. Thế nhưng tiếngvọng của Mẹ – bất cứ bà Mẹ nào trên trái đất – cũng đều là lời kinh ghinhớ suốt đời cho những đứa con. Gã Đất Lành (Gable Goodearth), nhà tâmlý giáo dục Ireland, đã làm một cuộc thăm dò suốt 12 năm với gần 1026tử tù trên khắp thế giới đã tìm thấy rằng, có hơn 810 người tù kêutiếng cuối cùng là “Mẹ”, “Mẹ ơi!”, “Con thương Mẹ”, “Mẹ tha thứ chocon!” trước giây phút bị hành quyết.
Tử tù! Những tâm hồn bạo tàn, oan khiên, chai đá nhất cũng chỉ còn Mẹ là dòng tinh huyết cuối đời trước khi nhắm mắt buông tay.

Viễnkhách, kẻ tha hương thường liên tưởng quê hương với Mẹ. Ngày còn Mẹ,mỗi lần về thăm quê có nghĩa là về thăm làng. Ngày vắng Mẹ, đứa conphương xa về thăm đất nước; đâu cũng là Tổ quốc, làng cũ vẫn như xưanhưng tôi vẫn cảm thấy hình như thiếu một chút chất men nồng đượm củaquê nhà. Có lẽ vì quê hương là quê mẹ. Ngày vắng mẹ rồi, lòng mẹ trảidài khắp mọi miền đất nước nên đâu cũng là…, mà cũng không là, trọn vẹnmột quê hương!
Tiếng vọng lời dặn dò của Mẹ “coi chừng hỏng cẳng” cứmãi theo tôi mà lớn, mà già, mà phấn đấu với đời, mà hiện hình với ngàytháng.
“Hỏng cẳng” với mẹ tôi là gặp vùngnước sâu trên sông, chân không đứng được trên đất sẽ bị uống nước, chếttrôi. Hỏng cẳng giữa đời là chơi vơi không có chỗ đứng cho mình, cuộcsống sẽ bị chao đảo, mất chỗ dựa. Nhưng hỏng cẳng trong chính mình mớiquả thật là bi kịch của đời sống.


Thờimới lớn, ngay cả khi biết bơi khá giỏi, đủ sức bơi ngang bơi dọc trênsông Bồ, sông Hương tôi vẫn còn lo… hỏng cẳng. Trong dòng nước tuy đãquen, nhưng khi bơi trên những tầng rong rêu xanh lè vờn qua, vờn lạidưới đáy sông, tôi vẫn cảm thấy rờn rợn khi tưởng tượng đến thế giới bíẩn bên dưới. Có chăng những âm binh, ma rà, quái vật sẵn sàng kéo tôivề một thế giới khác. Lòng sông cũng như lòng người. Khi thấy được thìchẳng phải là điều đang thấy; khi giẫm chân lên hay sờ mó được thì nóbiến tướng vô hình hay thiên hình vạn trạng.
Vào đời, tôi muốn cầutoàn nên lại càng thường xuyên bị… hỏng cẳng. Trễ là hỏng chân: Trễgiờ, trễ hẹn. Thiếu là hỏng cẳng: Thiếu thông tin, thiếu chính xác,thiếu của, thiếu người, thiếu tin tưởng. Mất là hỏng sạch: Mất công,mất thì giờ, mất việc, mất bạc, mất vui, mất sướng… đều là những khoảngtrống làm hỏng chân, hỏng cẳng bất cứ khi nào.

Thằng Bờm còn cócái quạt mo để đổi. Thằng Cuội còn có gốc cây đa để ngồi. Người trầngian lên tới vua, quan, công, hầu, khanh, tướng… sau một đời đi qua,rồi cũng tan loãng như mây trên đỉnh núi. Bơ vơ. Bèo bọt. Không một chỗnương thân. Tại sao tôi không có cái bến nào để tới, để dựa, để khỏihỏng chân? Có dừng lại một chút với cơm áo, gia đình, cuộc sống thìliền theo sau là cả một chuỗi hỏng chân như kéo dài bất tận.
Mọi vậtvà mọi việc đổi thay như chong chóng mà tôi thì không tìm thấy một bếnbờ nào để dựa hay ít nhất cũng có thể trú chân cho khỏi hỏng cẳng. Cóchăng một nơi vượt ra ngoài mọi lý luận, định kiến và hoài nghi. Chỗdựa cuối cùng không bao giờ đổi thay với cảnh, với tình, với người, vớivật… làm ta hỏng cẳng là Lòng Mẹ. Nhưng chiều nay về làng cũ sau 25 nămsống lang bạt nơi quê người, Lòng Mẹ nơi xóm nghèo một thuở bỗng điđâu. Gió Nồm cho Mẹ “dên” lúa vẫn về. Tiếng cu cườm gáy buồn và xa vẫnvọng tới. Nắng vàng tươi trẻ sớm maivẫn già đi với màu chiều sẫm lại. Nơi quê Mẹ, đi đâu cũng có tình Mẹmang theo. Tôi không cởi áo quần, nhông nhông nhảy xuống hụp lặn dướisông Bồ hồn nhiên như xưa nhưng cái cảm giác “hỏng cẳng” chợt ùa đến.Tôi nhìn dòng sông quê hương vẫn còn rong rêu chờn vờn bên dưới. Tầmnhìn xa xôi bị ngắt quãng vì nhà cửa lác đác mọc lên bên ruộng lúa mộtthời xa tít tắp. Dư âm tiếng Mẹ thuở nào không còn đồng vọng. Đời cótươi thì có phai; tình có ấm lên thì có nguội. Vẫn biết thế nhưng tìnhcảm tự nhiên con nhớ Mẹ, thương Mẹ vượt ra ngoài biên giới chật hẹp củasự hợp lý và vô lý thường tình. Tôi muốn được gối ngủ trên phản gỗ haygiường tre có bàn tay phe phẩy cái quạt mo cau già của Mẹ. Tôi muốn rabến Dấu Hàn để tắm nhưng có ai tắm được hai lần trên cùng một dòngsông. Sông Bồ còn đó, nhưng Mẹ không còn và bến xưa đã lấp.


Tráitim của Mẹ dẫu là uyên nguyên, là kim cương, là vĩnh cữu vẹn toàn,nhưng cũng phải đổi thay. Ngày Mẹ không còn nữa, dẫu lòng Mẹ có bao latrời biển thì cũng chỉ còn là một ý niệm đẹp. Dẫu có về Bến Mẹ thì vẫnbị lạc hướng vì không biết bến ấy nơi đâu.
Bến Mẹ, bờ xa tìm đâu cho thấy…

Cólần được xem một trò chơi cổ của xóm Ấn Độ, tôi nghe chùm âm thanh reolên từng đợt từ miệng của đám trẻ: “Pa-ra-mi-ta! Ba la mật đa?!”.
Kháiniệm gốc của tiếng reo “Paramita” có nghĩa là “được rồi” hay “tới bến”.Cái “tới bến” đó đôi khi chẳng có gì to lớn hay kỳ vĩ mà đơn giản nhưhơi thở. Chỉ cần một hơi thở ra và thở vào lại được cũng là đ㠓tớibến” rồi. Bởi vì mỗi giây phút đi qua trên quả đất nầy đều có hàng trămđứa trẻ sinh ra mà không thở vào được và có hàng nghìn con bệnh thở hắtra rồi xuôi tay nín luôn, không còn được một hơi thở vào khi sự sống đãmất. Vì thế, một đứa trẻ kiễng chân, nín thở để ném được viên bi của nóvào mục tiêu trong cuộc chơi thi đua cũng kể là… tới bến rồi. Có nhữngbến bờ không thấy được vì sự rung động nhẹ như sương ném xuống hồ. Hồvẫn vắng lặng với tình cảm và tâm linh. Cái bến vô hình đầu tiên ấy là“Bến Mẹ”.

Bến Mẹ là bến yêu thương tròn đầy nhất giữa cuộc sốngêm đềm và gai góc nầy. Nhưng rồi, Mẹ già, Mẹ cũng phải rũ áo ra đi. BếnMẹ chỉ còn trong tâm tưởng của con! Mẹ về với những người muôn năm cũ.
Mùa Vu Lan, khi thu về, là mùa của Mẹ Việt. Bóng dáng bà mẹ phương Đông không là mùa Xuân hoa phấn, mùa Hè rực rỡnhư bà mẹ Mỹ châu hay mùa Đông cằn cỗi úa tàn như bà mẹ Phi châu. MẹViệt là mùa Thu: Nắng thời xuân xanh của Mẹ đã nhạt màu vì gieo neonuôi con. Thu quyến rũ vì Thu mong manh. Trời thu cao rộng và sâu thẳm.Mẹ mong manh vì nhân dáng Mẹ đã vàng phai; nhưng lòng mẹ càng xanh mướtmênh mông và sâu lắng vô cùng.
VuLan về khi cả thế giới đang vào Thu. Đi từ phương Đông về phương Tâymười lăm năm trước, lòng tôi đã từng ấm hoài khi còn Mẹ; nhưng năm nay,tôi cũng bay theo hướng mặt trời mà chỉ thấy màu nắng cũ buồn thiu khiMẹ không còn.

Đâu đó, từ trong tâm thức, tôi nghe tiếng vọng“Bát nhã ba la mật đa – Prajna Paramita…”, một tuyên ngôn của đại trítuệ chinh phục chính mình. Làm sao chinh phục được những xao động ngaychính trong lòng tôi; bắt thời gian của ngày xưa còn mẹ và hôm nay mẹkhông còn dừng lại thành một điểm. Và nếu thời gian chỉ còn một điểmkhông có ngày xưa và bây giờ thì Mẹ nơi đâu? Vui, buồn; thương, ghét…không thể diễn ra cùng lúc mà phải có trình tự trước sau. Cho dẫu hítvào và thở ra hay viên bi rời tay đứa trẻ lăn vào lỗ thì cũng cần độngtĩnh của thời gian và không gian.
TuyênNgôn Chinh Phục Chính Mình có giải quyết được gì trong dòng biến hiệnkhông ngừng? Khi Bồ Tát Quán Tự Tại – là Avalokitesvara, là Như Lai, làTánh Phật, là Người Thật trong mỗi chúng ta – chinh phục được chínhmình và về lại hoàn toàn tuyệt đối trọn vẹn với chân tính của mình thìchẳng cần gì cả. Cần gì mắt mới thấy; cần gì tai mới nghe; cần gì mũiđể ngửi; cần gì lưỡi để nếm; cần gì thân để cho hay nhận; cần gì ý đểsuy nghĩ về ta… một khi ta đã là ta. Cái Ta chân nhân, trong suốt, rỗnglặng không còn cưu mang hai bờ đối nghịch. Không sinh thì có gì để màdiệt; không dơ thì đâu cần sạch; không tăng thì còn gì để mà giảm… nênmọi giá trị nhìn ngắm, cân đo, lớn nhỏ, đẹp xấu, thương giận cũng khôngcòn.

ChiềuVu Lan, bao người thổn thức buồn thương vì mất Mẹ. Người ta bỗng hóabuồn vui vì tưởng tượng và khách thể hóa bóng mẹ, hồn mẹ với đóa hoahồng. Cảm xúc thuần túy như rượu ngon, chẳng phá được nỗi buồn vì nỗibuồn như bóng đêm âm u. Chỉ có trí tuệ tuyệt vời mới tìm về được Mẹ.Trí tuệ bát nhã giúp người con đại hiếu Mục Kiền Liên tìm ra được mẹMục Liên Thanh Đề đang chịu đựng khổ đau dưới chín tầng địa ngục. Tuygặp được mẹ rồi nhưng vẫn còn một vọng niệm ta và mẹ nên cơm hóa thànhthan.Chỉ khi nào Mẹ có trong ta, ta có trong Mẹ; ta không tìm Mẹ, Mẹkhông tìm ta mới gặp được Mẹ.Chỉ khi nào Mục Kiền Liên đứng trước cửađịa ngục A Tỳ mà thấy hết những linh hồn đau khổ bằng cái tâm của Phật- Bồ Tát mười phương; không phân biệt ta, người khắp cả chín tầng địangục thì lửa từ bi trí tuệ mới dập tắt được lửa tham ái vô minh. Dẫu cóđệ nhất thần thông nhưng còn chấp ng㠖 chỉ biết khóc cho mẹ mình – thìthần thông ấy cũng sẽ trở thành vô dụng. Bài học Mục Kiền Liên là bàihọc nhân sinh, rằng, dẫu có tu đến bậc “thánh tăng” trước đôi mắt trầnnhỏ bé của người đời mà vẫn còn cố chấp, ngã mạn, tham ái lợi quyền thìvẫn phải còn quay cuồng trong vòng ngũ thú: Tài ba cho lắm cũng đành bótay khi cơm đến gần mẹ, cháy đỏ thành than vì lửa mông muội, vô minhphát ra từ chính tâm hồn mình. Khi nỗi suy tư về Mẹ gặp nỗi suy tư vềta dấy lên, hòa quyện vào nhau, phá tan thành quách thì hai bến bờ đốiđãi cũng không còn. Tiếng chuông, Bến Mẹ, chỉ còn rỗng lặng hưkhông.Lửa cháy ngất trời hay mây trắng phiêu du trôi đi và chuyển hóangay trong lòng ta chỉ bằng một niệm…

Ta gặp Mẹ.
Khi cả tỷ,tỷ người nói lao xao mà cũng chẳng có ai nói với ai lời nào hết vì mỗingười đang tự nói với chính mình. Mỗi người tự chinh phục mình, dắtmình về Bến Mẹ. Gate, gate, paragate, parasamgate… Bồ đề tát bà ha! Đi,đi, đi cho tới bờ tới bến. Không huơ tay, kiễng chân; chẳng phải bướcđi đâu cả mà giữ cho tâm hoàn toàn rỗng lặng, nuốt hết lời, hóa thânthành “tuyên ngôn chinh phục chính mình” với tâm không thành trí tuệnên mới gọi là Tâm Kinh. Bát Nhã Tâm Kinh. Bến Mẹ đây rồi. Hạnh ngộ Mẹơi!

                                                                                 Nguồn:tapchisonghuong