Bàn về một luận điểm của H.W. Schumann trong tác phẩm Đức Phật lịch sử

0
139

Gần mười năm trước, lần đầu tiên tiếp cận tác phẩm Đức Phậtlịch sử(1)củaH.W. Schumann qua bản dịch của cô Trần Phương Lan, cảm giác đầu tiên của chúngtôi là sự kính phục về độ uyên bác của tác phẩm cũng như sự dấn thân khoa họccủa bản thân tác giả. Lời giới thiệu tác phẩm của HT.Thích Thiện Châu trong bảndịch tiếng Việt cũng đồng quan điểm này, khi ngài cho rằng: H.W. Schumann đãdày công nghiên cứu và xây dựng hình ảnh của Đấng Giác Ngộ như một người sốngthật trong khung cảnh thật của Ấn Độ cổ đại, với những nhận xét khách quan củamột học giả nghiên cứu có hệ thống rõ ràng theo phương pháp khoa học. Cái nhìncủa học giả H.W. Schumann về Đức Phật có vẻ khác lạ với quan niệm về Đức Phậtcủa Phật tử Việt Nam, nhưng đó chính là điều bổ ích làm tăng giá trị của quyểnsách trong sự đóng góp vào kiến thức Phật học của độc giả cùng Phật tử Việt Nam(2).

Tuy nhiên, saunhiều lần đọc và khi chiêm nghiệm sâu thêm về một số luận điểm táo bạo của tácgiả được đề cập trong tác phẩm, trong tôi xuất hiện một vài trăn trở, quanngại. Đặc biệt, chúng tôi thật sự choáng ngợp khi phát hiện luận điểm của H.W.Schumann liên quan đến vấn đề biết đọc, biết viết của Đức Thế Tôn qua đoạn vănsau: Thái tử Siddhattha có biết đọc hay không, điều này không được chắcchắn. Một truyền thuyết về sau quả có kể chuyện thái tử làm kinh ngạc thầy giáocủa mình vì cách thái tử học thông thạo các mẫu tự Ấn Ðộ rất dễ dàng, nhưngthực ra trong kinh điển Pāli không có dấu hiệu nào cho thấy Đức Phật đã từngbiết đọc biết viết cả(3).

Bằng trực giáckhoa học, chúng tôi cho rằng, luận điểm trên của H.W.Schumann cần phải nghiêmtúc xem xét lại. Với những tư liệu thu nhặt qua quá trình khảo sát kinh, luậttheo văn hệ Pāli; cộng với những thành tựu từ các ngành khảo cổ được thông tinrộng rãi, chúng tôi cố gắng tiếp cận vấn đề với tâm thế lịch sử, khách quan,nhằm làm sáng tỏ những tồn nghi xoay quanh cuộc đời của Đấng Giác Ngộ.

Nền tảng giáo dục của thái tử Siddhartha qua kinh điển vàtư liệu khảo cổ

Thái tử Siddhartha vốn là người siêng năng họchỏi. Cơ sở của quan điểm này có liên quan đến một trong ba mươi hai tướng củabậc đại trượng phu. Theo kinh Trường bộ, Như Lai trước làm người,Ngài siêng năng học hỏi, nghề nghiệp, mọi kỹ thuật, học thuật, oai nghi hayhành động(4). Hơn thế nữa, theo ĐứcPhật, một trong những điềm lành với người cư sĩ tại gia, là phải Học nhiều,nghề nghiệp giỏi/ Khéo huấn luyện học tập(5). Từ hai cơ sở vừa trình bày đã cho thấy, việc chútâm học tập trong mọi lãnh vực xã hội, cũng là điều được Đức Phật quan tâm.

Trên phươngdiện khảo cổ, từ kết quả khai quật ở các khu vực nghệ thuật điêu khắc Gandhara,các nhà khoa học đã phát hiện những tư liệu quan trọng, liên quan đến việc họctập của thái tử Siddhartha.

Thứ nhất, đó làphù điêu mang ký số PM_02736 có niên đại thế kỷ 2-3 A.D. Đây là một phần củabức phù điêu mô tả Thái tử Siddhartha cưỡi một con cừu trưởng thành (ram)đi học với các tùy tùng xung quanh (Ảnh 1)(6).

sach ve gandhara.jpg

Thứ hai, là bứcphù điêu mang ký số PM_02737, có niên đại thế kỷ II-III A.D. Bức phù điêu mô tảthái tử đang ở trong lớp học có thầy dạy, có bảng viết và có cả bình nước. Hìnhảnh thái tử cầm bình nước dùng để rảy nước lên tay dường như là một trong nhữngnghi lễ truyền thống, trong ngày đầu đến lớp. (It may be that pouring waterfrom a water pot onto the hands was one of the tradition of the first day inthe school)(7).

Thứ ba, đó làbức phù điêu mang ký số PM_01939 có niên đại từ thế kỷ II-III A.D. Bức phù điêubị vỡ một phần nhưng có thể thấy rõ Thái tử Siddhartha đang ngồi ở giữa lớphọc, với một tay đang cầm bảng viết (writing tablet) (Ảnh 2) (8).

di hoc.jpg

Theo HajimeNakamura: Một số bức phù điêu phác họa việc học của Ngài vẫn tồn tại, đángchú ý vì bức tranh cho thấy các ngôi trường thời ấy. Chắc hẳn Đức Thích Ca đãnghe giảng bài cùng các bạn học, đám trẻ đều kê các tấm bảng viết lên đầu gối.Học kinh Vệ-đà chỉ cần nhớ thuộc lòng các thánh điển, vì vậy các học cụđể viết đều không cần thiết. Tuy nhiên, sự học của Đức Thích Ca lại có tínhthực tiễn và cần được viết ra. Có lẽ Ngài đã học những điều hoàn toàn khác vềnội dung với việc học Vệ-đà của các Bà-la-môn. Đáng chú ý thêm là các vịsoạn giả Ấn Độ cổ đại đã miêu tả Đức Thích Ca đi đến trường học, thay vì đượcgia sư dạy riêng tại cung vua. Ở đây ta có thể suy đoán, sự truyền bá sự thậtlịch sử xảy ra trước sự thần thánh hóa Đức Phật(9).

Trở lại vớiluận điểm của H.W. Schumann, khi ông ám chỉ một truyền thuyết về sau(10)được xem như các bản kinh hay các tác phẩm viết về cuộc đời Đức Phật, mà nộidung chứa đựng nhiều yếu tố thần thoại. Cơ sở quan điểm này của H.W. Schumanncăn cứ vào kinh Phổ diệu (Lalitavistara) và các kinh văn cùng thểloại.

Khảo sát vềniên đại của những tác phẩm này cho thấy: Lalitavistara (Winternitz, chorằng vào đầu thế kỷ thứ I A.D, nhưng một số quan điểm khẳng định bản kinh nàyxuất hiện rất muộn, thời đại nhà Đường); kinh Thái tử thụy ứng bản khởi (229-280A.D); Buddhacarita, (397-439 A.D); kinh Phổ diệu (265-316 A.D); Phậtbản hạnh tập (559-560); kinh Phương quảng đại trang nghiêm cũng đượcgọi là kinh Thần thông du hý (683 A.D); kinh Quá khứ hiện tại nhânquả (394-468 A.D)… tất cả những tư liệu vừa dẫn có niên đại xuất hiện khámuộn và không có dấu hiệu ảnh hưởng hay liên quan đến những bức phù điêu đượcphát hiện kể trên.

Trong khi đó,những bức phù điêu chuyên chở thông tin liên quan đến việc học của thái tửSiddhartha đều có niên đại rất sớm, từ thế kỷ thứ II-III A.D. Đây là những cơsở đầu tiên để bảo chứng rằng, việc học chữ và viết chữ của thái tử Siddharthalà sự thật được lưu truyền khá sớm và được ghi nhận bởi di vật lịch sử.

Ngôn ngữ và chữ viết trong kinh điển

Thời Phật đã cóngôn ngữ và chữ viết. Đây cũng là sự khẳng định của chính tác giả H.W.Schumann(11).Kinh tạng Nikāya đã cung cấp nhiều bằng chứng, nhiều dấu hiệu liên quanđến vấn đề ngôn ngữ và chữ viết.

1. Vấn đề ngôn ngữ

Trước hết, theotác phẩm Cullagaga, có hai vị Tỳ-kheo xuất thân từ dòng dõi Bà-la-mônmuốn hoán chuyển lời dạy của Đức Phật sang dạng có niêm, luật (Chandaso).Đức Phật không cho phép và ban lời huấn thị: Này các Tỳ-kheo, không nên hoánchuyển lời dạy của chư Phật sang dạng có niêm luật; vị nào hoán chuyển thì phạmtội dukkata (tác ác). Này các Tỳ-kheo, Ta cho phép học tập lời dạy của Đức Phậtbằng tiếng địa phương của chính bản thân (sakāya niruttiyā)(12).

Theo ÉtienneLamotte(13), có sáu bản luật tạng cùng đề cập đếncâu chuyện này, và vấn đề được sự quan tâm thảo luận của đông đảo giới nghiêncứu, xoay quanh hai cụm từ ChandasSakāya niruttiyā.

Từ tư liệu củaÉtienne Lamotte vừa dẫn ở trên cho thấy, với cụm từ Chandas, ngàiBuddhaghosa giải thích rằng, đó là phương thức thể hiện của một dạng ngôn ngữtối ưu, như Vệ-đà chẳng hạn. (Vedam viya sakkatabhāsāya vācanāmaggo).Theo Rhys Davids và Oldenberg, thì đó là một thể Phạm thi (Sanskrit Verse).Theo, J. Filliozat đó là một dạng thi ca của Vệ-đà.

Cũng theo RhysDavids, Oldenberg và Edgerton thì cụm từ sakāya niruttiyā được hiểu làphương ngữ của riêng mình. Theo S. Lévi thì theo cách nói của mình. Và, theoquan điểm của Étienne Lamotte thì từ niruttiyā còn được hiểu không chỉlà một cách thức phát âm mà còn là phương ngữ của vùng miền(14).

Từ những quanđiểm khu biệt của các nhà nghiên cứu Phật học thấy, Đức Phật không cho phépchuyển đổi giáo pháp của Ngài sang dạng có âm điệu trầm bổng như nghi quy trìtụng kinh điển Vệ-đà, đồng thời qua đó Ngài cũng cho phép học trò có thể họchỏi giáo pháp bằng phương ngữ của riêng mình.

Quan điểm nàycũng được tìm thấy trong kinh Vô tránh phân biệt, thuộc tập 3 kinh Trungbộ, theo bản dịch của HT.Thích Minh Châu(15): Ở đây, nàycác Tỳ-kheo, trong nhiều quốc độ, người ta biết (những chữ) Pati… Patta…Vittha… Sarava… Dharopa… Pona… Pisila. Như vậy, như họ biết trong cácquốc độ ấy những chữ là như vậy, như vậy, có người lại làm như vậy, kiên trìchấp thủ, chấp trước và nói: “Chỉ như vậy là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Nhưvậy, này các Tỳ-kheo, là chấp trước địa phương ngữ, là đi quá xa ngôn ngữthường dùng.

Theo bản Anh ngữ của Tỳ-kheo Nanamoli, phân đoạnliên quan đến ngôn ngữ được dẫn từ kinh Arana-vibhanga nhằmmô tả cái bát (bowl), theo Étienne Lamotte, thì đó là khí cụ (utensil),nhưng ở mỗi địa phương có nhiều cách gọi khác nhau như: Pāti, Patta, Vittha,Sarāva, Dhāropa, Pona, Pisila. Căn cứ vào hai nghĩa Pāti và Patta, chúng tôi cóthể khẳng định rằng, đó là cái bát.

Trên một phương diện khác, theo Mahavagga, đểhội chúng Tỳ-kheo trang nghiêm trong nghĩa hiện thực, cụ thể, Đức Phật khôngcho phép xuất gia đối với một số hạng người có căn thân không đầy đủ hoặc bị cốtật, dị hình. Trong ba mươi hai trường hợp không được phép xuất gia, có trườnghợp: không nên cho người bị cáo thị tầm nã xuất gia(16). Điềunày đã chuyên chở một thông tin quan trọng, đó là việc đọc được các bảng cáothị do vương quan ban hành, là điều không quá khó đối với chư Tăng cũng như ĐứcPhật.

Người xuất gialà kẻ vì hạnh phúc của số đông, an lạc cho số đông. Muốn thực hiện được điều đóthì cần phải hội đủ nhiều điều kiện. Một trong những điều kiện đó được Đức Phậtdạy rõ qua kinh Tăng chi: Những Tỳ-kheo nào, này các Tỳ-kheo, tùythuận cả văn và nghĩa, bằng cách nắm giữ đúng đắn các kinh điển và những văn tựthích ứng, thì những Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, chịu trách nhiệm về hạnh phúccho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, hạnh phúc, và an lạc cho chư Thiênvà loài Người(17).

Từ cơ sở kinh,luật vừa dẫn ở trên, đã làm sáng tỏ một vấn đề: trong thời Đức Phật, đã xuấthiện nhiều dạng thức ngôn ngữ và Đức Phật biết rõ cũng như đọc được nhiều dạngthức ngôn ngữ khác nhau. Đây cũng là khẳng định của Étienne Lamotte: Như Laicó thể diễn tả những gì Ngài muốn bằng bất kỳ ngôn ngữ nào(18).

Tựu trung, ngônngữ thường được thể hiện qua hai dạng thức nói và viết, việc nhận biết, amtường nhiều thể loại ngôn ngữ cũng như đọc được các bảng cáo thị, là điều hoàntoàn có cơ sở để khẳng định việc biết đọc của một con người.

 2. Vấn đề chữ viết

Theo nghiên cứucủa Étienne Lamotte, kinh điển được ghi lại bằng văn bản lần đầu tiên do mộtnhóm các vị Tỳ-kheo tại Aluvihara, gần Mātale, vào năm 454 sau khi Đức Phậtnhập Niết-bàn (35-32 B.C)(19); thế nhưng vấnđề chữ viết trước đó đã được đề cập khá nhiều trong kinh và luật tạng.

Thứ nhất, theokinh Trường bộ, vấn đề chữ viết xuất hiện trong cả hai bản kinh Phạmvõng và kinh Sa môn quả. Theo kinh, trong những thú vui giải trí màngười đệ tử xuất gia của Phật không tham gia có trò chơi đoán chữ viết thiếutrên không hay trên lưng(20).

Thứ hai, theo kinh Tăng chi, khi đề cập đếnthái độ của ba hạng người xuất hiện trên cuộc đời, Đức Phật đã liên hệ đến chữviết. Theo Đức Phật, hạng người dễ phẫn nộ và sự phẫn nộ được nuôi giữ lâu dàiđược gọi là hạng người như chữ được viết trên đá. Người dễ phẫn nộ và phẫn nộkhông lâu dài được gọi là hạng người như viết chữ trên đất. Hạng cuối cùng, dùbị nói một cách thô lỗ, cộc cằn, ác độc… nhưng tâm tư của người đó luôn hòa ái,thân thiện, hoan hỷ…thì được gọi là hạng người như viết chữ trên nước(21).

Thứ ba, trongkinh Phật tự thuyết, trong một vài cuộc hội họp, tán gẫu, các Tỳ-kheotranh cãi nhau về sự tối ưu trong nghề nghiệp của con người. Trong những nghềđược đưa ra tranh luận, thì có Tỳ-kheo cho rằng nghề in ấn là nghề tốithượng, hoặc là nghề viết bài là nghề tối thượng. Khi biết được việcnày, Đức Phật cho đó là phiếm đàm và nhân đó ban lời huấn thị: Này cácTỳ-kheo, chuyện này thật không xứng đáng cho các thầy… khi các thầy ngồi hộihọp với nhau, có hai công việc cần phải làm: Nói pháp hay giữ im lặng của bậcThánh(22).

Thứ tư, theo Cullavagga,khi các Tỳ-kheo Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kitāgiri không nỗ lựctu tập mà hành xử như người thế tục, biểu hiện qua việc trồng hoa để tặng ngườivào đam mê trong các trò giải trí của thế tục. Trong những trò vui mà họ thamgia thì có trò chơi đố chữ, trò chơi đoán ý. Đức Phật đã huấn thị haiTôn giả Sāriputta và Moggallāna đuổi các vị Tỳ-kheo này rời ngay khỏi vùngKitāgiri(23).

Thứ năm, theo Mahavagga,trong những toan tính thế tục của các bậc làm cha mẹ, sợ con cái nghèo khổ,thiếu đói sau khi họ qua đời, có đề cập đến chữ viết. Chuyện kể rằng, gia đìnhUpāli trong thành Rajagaha có suy nghĩ: Có phương kế gì để sau khi chúng tatừ trần, Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc? Rồi cha mẹ của Upāliđã khởi ý điều này: “Nếu Upāli có thể học chữ viết, như thế sau khi chúng ta từtrần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc”. Rồi cha mẹ của Upāli đãkhởi ý điều này: “Nếu Upāli học chữ viết thì các ngón tay sẽ bị đau… Nênchăng gửi Upāli xuất gia làm Sa-môn Thích tử”. Đây là động cơ xuất giakhông tốt và được Phật có những răn nhắc kịp thời(24).

Từ năm luận cứđược nêu dẫn ở trên đã cho thấy, các dạng chữ viết đã lưu dấu ấn rất rõ trongkinh và luật tạng thuộc văn hệ Nikāya. Việc cấm các Tỳ-kheo không được chơi chữvà viết chữ là cơ sở thứ nhất chứng minh việc Đức Phật có khả năng đọc được chữvà viết được chữ. Đặc biệt, khi đưa ra hình ảnh ba hạng người như ba hạng chữviết, được Đức Phật đề cập trong kinh Tăng chi, đã cho thấy, chỉ cóngười biết viết chữ và viết trên nhiều chất liệu, mới có thể thấy rõ những đặctính khác nhau trong chữ viết.

Kết luận

Mặc dù mãi đến hôm nay, các nhà khoa học vẫn chưaphát hiện bất kỳ một tư liệu kinh điển bằng chữ viết trong thời Đức Phật, nhưngđiều đó vẫn chưa đủ để khẳng định rằng, Đức Phật không biết đọc, biết viết. Vìlẽ, cùng thời với Đức Phật, tức thế kỷ thứ VI B.C, chữ viết cũng như văn phạmtiếng Sanskrit đã được nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Pānini lưu lại bằng văn bảnvới tác phẩm Ashtadhyayi còn lưu lại đến ngày nay(25). Ngành truyền thông Ấn Độ vào năm 2004 đã vinhdanh cống hiến của Pānini bằng một phác họa hình ảnh của ông trên tem khá ấntượng.

Thái tửSiddharttha, một vị hoàng nam được sanh ra trong một tầng lớp cao của xã hộithời đó, lẽ tất nhiên sẽ nhận được thành quả giáo dục cao nhất của thời đại.Với những tư liệu căn cứ vào thành quả của ngành khoa học khảo cổ, cộng vớinhững bằng chứng xác thực dựa trên các kinh, luật thuộc văn hệ Pāli mà chúngtôi đã trình bày, đã minh chứng rằng, đã có nhiều dấu hiệu liên quan đến việcbiết đọc biết viết của Đức Phật. Do đó, luận điểm: Trong kinh điển Pālikhông có dấu hiệu nào cho thấy Đức Phật đã từng biết đọc biết viết cả(26)của H.W. Schumann, là một luận điểm võ đoán, nếu không nói là chưa phản ánhđúng sự thật lịch sử. 

 Chú thích

(1) H.W. Schumann, ĐứcPhật lịch sử, Trần Phương Lan dịch, NXB. TP. HCM, 2000.

(2) Sđd,tr.8.

(3) Sđd,tr.72. Tham chiếu: Schumann, H.W., The Historical Buddha – The Time, Lifeand Teachings of the Founder of Buddhism, (Delhi: Motilal Banarsidass, 2004), p.22.Source:Whether Siddhiarttha could read is uncertain. A later legend indeedtells how he astonished his teacher by the ease with which he mastered theIndian alphabets, but in fact the Pāli Canongives no indication that the Buddha was literate.

(4) ĐTKVN, kinh Trườngbộ, tập 2, kinh Tướng,VNCPHVN, 1991, tr.498.

(5) ĐTKVN, kinh Tiểubộ, tập 1, kinh Tập, kinh Điềm lành lớn,NXB. TP. HCM, 1999, tr.549.

(6) Ihsan Ali – MuhammadNaeem Qazi, Gandharan Sculptures in the PeshawarMuseum (Life Story of Buddha), (Pakistan:Hazara University Mansehra NWFP, 2008), p.68.

(7) Ibid,p.69.

(8) Ibid,p.70.

(9) Hajime Nakamura,Đức Phật Gotama – Một tiểu sử căn cứ vào những bản kinh uy tín nhất,Trần Phương Lan, dịch, NXB. Phương Đông, 2011, tr.125. Tham chiếu: HajimeNakamura, Gotama Buddha, A Biography Based on the Most Reliable Texts,(Japan-Tokyo: Kosei Publishing Co., 2000), p.90.

(10) H.W. Schumann, ĐứcPhật lịch sử, Trần Phương Lan dịch, NXB. TP. HCM, 2000, tr.71-72.

(11)  Sđd.

(12) Cullagga,tập 2, chương Các tiểu sự, Việc chuyển đổi lời dạy của Đức Phật sang dạng cóniêm luật, đoạn 180. Bản dịch tiếng Việt của Tỳ-kheo Indacanda. Tham chiếu: TheBook of the Discipline (Vinaya Pitaka), Volume V (Cullavagga V), Translatedby I.B Horner, M.A, (London: Luzac & Company LTD, 1963), p.194. Source: Monks,the speech of Awakened One should not be given in metrical form. Whoever (so)give it, there is an offence of wrong-doing. I allow you, monks, to learn thespeech of Awakened One according to his dialect.

(13) Lamotte, Étienne.,  History of Indian Buddhism,(Paris:Institut Orientaliste Louvain-La-Neuve, 1988), p.555.

(14) Ibid,pp.552-553.

(15) ĐTKVN, kinh Trung bộ, tập 3,kinh Vô tránh phân biệt, VNCPHVN, 1992, tr.536-537.

(16) Mahavagga, chương Trọng yếu, tụng phẩm thứ tám, không nên xuất gia cho kẻ cướpbị cáo thị tầm nã. Đoạn 103. Bản dịch tiếng Việt của Tỳ-kheoIndacanda.Tham chiếu: The Book of the Discipline (Vinaya Pitaka),Volume IV (Mahavagga I), Translated by I.B Horner, M.A, (London: Luzac &Company LTD, 1971), p.94. Theo chú thích của I.B. Horner, cáo thị có thể viếttrên lá cây cọ (palm- leaves), trên tấm bảng bằng kim loại haytấm bảng bằng gỗ.

(17) ĐTKVN, Kinh Tăngchi, chương Hai pháp, phẩm Tâm thăng bằng, kinh Đất, VNCPHVN,1996, tr.132.

(18) Lamotte, Étienne.,  History of Indian Buddhism,(Paris:Institute Orientaliste Louvain-La-Neuve, 1988), p.551. Source:The Tathagata can express everything he wishes in any language whatever.

(19) Ibid, p.558.

(20) ĐTKVN, kinhTrường bộ, tập 1, kinh Phạm võng,VNCPHVN, 1991, tr.20; Xem thêm,ĐTKVN, kinh Trường bộ, tập 1, kinh Sa môn quả,VNCPHVN, 1991, tr.126. Với W.T. Rhys Davids, trong tác phẩm Buddhist India,chapter VII, gọi là Akkharikā

(21) ĐTKVN, kinh Tăngchi, chương ba pháp, phẩm Kusinaga, kinh Chữ viết trên đá, trên đất, trênnước, VNCPHVN, 1996, tr.517-518.

(22) Kinh Tiểu bộ,kinhPhật tự thuyết. Ud.31.

(23) Cullavagga,tập 1, chương Hành sự, hành sự xua đuổi, đoạn 84-87. Bản dịch tiếng Việt củaTỳ-kheo Indacanda. Tham chiếu: The Book of the Discipline (Vinaya Pitaka), Volume V(Cullavagga I), Translated by I.B Horner, M.A, (London: Luzac & Company LTD, 1963, p.15.Source: they played a game of guessing at letter…a mind-reading game.

(24) Mahavagga,chương Trọng yếu, tụng phẩm thứ tám, câu chuyện về nhóm mười bảy thiếu niên:không cho tu bậc trên người dưới hai mươi tuổi. Đoạn 111. Bản dịch tiếng Việtcủa Tỳ-kheo Indacanda. Tham chiếu: The Book of the Discipline (VinayaPitaka), Volume IV (Mahavagga I), Translated by I.B Horner, M.A, (London: Luzac& Company LTD, 1971), p.96-97. Source: Then it occurred to Upāli’ sparents: “But if Upāli learns writing his fingers will become painful.

(25) Ashtadhyayi ofPānini, translated by Sumitra M. Katre, (Delhy: Motilal Banarsidass, 1989),p.20.

(26) H.W.Schumann, Đức Phật lịch sử,Trần Phương Lan, dịch, NXB. TP.HCM, 2000, tr.72.

Chúc Phú (GNO/NSGN)